Luận án tiến sĩ lịch sử hoạt động tác chiến sư đoàn CLM 1965-1975

Nghiên cứu chiến thuật tác chiến của các sư đoàn chủ lực miền Bắc giai đoạn 1965-1975. Phân tích chiến dịch, kinh nghiệm chỉ huy trong kháng chiến chống Mỹ.

Chuyên ngành

Lịch sử quân sự, Chiến tranh Việt Nam

Tác giả

Luan An

Thể loại

Tài liệu lịch sử quân sự

Số trang

160

Thời gian đọc

24 phút

Lượt xem

1

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I. Trang bị vũ khí hiện đại sư đoàn chủ lực

Giai đoạn 1969-1972 đánh dấu bước phát triển vượt bậc về trang bị vũ khí cho các sư đoàn chủ lực miền Bắc. Đoàn 75 pháo binh được trang bị đạn pháo hỏa tiễn B.20 với tính năng vượt trội. Hệ thống phòng không được nâng cấp toàn diện với pháo cao xạ 37mm, 57mm và hỏa tiễn phòng không A của Liên Xô. Loại hỏa tiễn này có cao độ bắn hiệu quả 3,4km, điều khiển bằng phương pháp tự dẫn hồng ngoại. Về phương tiện chiến đấu, Đoàn M.26 tăng-thiết giáp ra đời đánh dấu bước ngoặt quan trọng. Các sư đoàn bộ binh được trang bị xe tăng T.54, xe bọc thép PT.59 và K.63 từ Liên Xô và Trung Quốc. Sự hiện đại hóa vũ khí tạo nền tảng vững chắc cho chiến thuật tiến công hợp đồng binh chủng.

1.1. Hệ thống pháo binh và phòng không

Đoàn 75 pháo binh được trang bị đạn pháo hỏa tiễn B.20 - loại đạn có tính năng vượt trội nhất. Súng máy cao xạ 12,7mm và 14,5mm được bổ sung thêm pháo cao xạ 37mm, 57mm. Pháo cao xạ 57mm tự hành do Liên Xô và Trung Quốc sản xuất tăng cường sức mạnh hỏa lực. Hỏa tiễn phòng không A đại diện cho thế hệ vũ khí mới với công nghệ tự dẫn hồng ngoại tiên tiến.

1.2. Phương tiện chiến đấu cơ giới

Đoàn M.26 tăng-thiết giáp đánh dấu bước phát triển mới về lực lượng thiết giáp. Xe tăng T.54 của Liên Xô trở thành xương sống lực lượng tăng thiết giáp. Xe bọc thép PT.59 và K.63 của Trung Quốc là phiên bản cải tiến từ T.54 và PT.76. Sự kết hợp giữa xe tăng và xe bọc thép tạo thành lực lượng cơ giới mạnh mẽ.

1.3. Ý nghĩa hiện đại hóa vũ khí

Việc trang bị vũ khí hiện đại giúp các sư đoàn chủ lực miền Bắc nâng cao năng lực chiến đấu. Hỏa lực pháo binh tăng cường đáng kể với đạn hỏa tiễn B.20. Khả năng phòng không được củng cố bởi hệ thống hỏa tiễn A. Lực lượng thiết giáp tạo ưu thế trong tác chiến tiến công. Đây là nền tảng cho chiến thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

II. Thử thách và thắng lợi giai đoạn 1969 1972

Giai đoạn 1969-1972 là thời kỳ đầy thử thách với các sư đoàn chủ lực miền Bắc. Địch triển khai chiến lược 'quét và giữ', đẩy mạnh chương trình bình định. Ba cuộc hành quân lớn trên đất Lào và Campuchia gây áp lực nặng nề. Trên Chiến trường B2 và Campuchia, các sư đoàn gặp khó khăn vô vàn. Nhưng với lòng dũng cảm, óc mưu trí sáng tạo, được sự chỉ đạo của Trung ương và chi viện từ hậu phương miền Bắc, các đơn vị giành thắng lợi quan trọng. Cuộc tiến công chiến lược Xuân 1972 mở rộng vùng giải phóng, phát triển hậu phương sang Campuchia. Tinh thần Đông Dương là một chiến trường được hiện thực hóa. Các sư đoàn đánh bại kế hoạch 'bình định cấp tốc' của địch, khôi phục thế trận chiến lược.

2.1. Bối cảnh chiến trường khó khăn

Sau Tổng tiến công Mậu Thân 1968, địch quay lại phản công quyết liệt. Chiến lược 'quét và giữ' được triển khai toàn diện trên chiến trường. Chương trình bình định gây nhiều khó khăn cho lực lượng cách mạng. Ba cuộc hành quân vượt biên giới sang Lào và Campuchia là đỉnh cao của chiến lược Mỹ. Các sư đoàn chủ lực miền Bắc đối mặt với thử thách lớn nhất từ trước đến nay.

2.2. Thắng lợi chiến dịch Xuân 1972

Cuộc tiến công chiến lược Xuân 1972 diễn ra đúng năm bầu cử Tổng thống Mỹ. Nghệ thuật thế-thời được vận dụng xuất sắc trong chiến dịch. Các sư đoàn chủ lực miền Bắc mở rộng vùng giải phóng đáng kể. Hậu phương được mở rộng sang Campuchia theo tinh thần Đông Dương cùng chiến đấu. Kế hoạch 'bình định cấp tốc' của địch bị đánh bại hoàn toàn.

2.3. Ý nghĩa chiến lược thời kỳ

Thắng lợi giai đoạn 1969-1972 đánh bại bước quan trọng chiến lược 'Việt Nam hóa chiến tranh'. Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris, rút quân về nước. Cục diện hoàn toàn mới được mở ra trên chiến trường. Cách mạng miền Nam tiếp tục phát triển thế tiến công. Nền tảng cho chiến thắng cuối cùng được thiết lập vững chắc.

III. Phát triển tổ chức và chiến thuật mới

Giai đoạn 1969-1972 chứng kiến bước phát triển đột phá về tổ chức và chiến thuật của các sư đoàn chủ lực miền Bắc. Đoàn 301 lục quân - đơn vị cấp quân đoàn đầu tiên trên Chiến trường B2 được thành lập. Dù là đơn vị tạm thời cho nhiệm vụ chiến dịch, Đoàn 301 đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng lực lượng. Quy mô chiến dịch của các sư đoàn bộ binh có bước tiến quan trọng. Các đơn vị bắt đầu tham gia chiến dịch cấp quân đoàn và quân đoàn tăng cường. Kết hợp với binh chủng mới (pháo xe kéo, xe tăng, xe bọc thép), các sư đoàn áp dụng chiến thuật tiến công hợp đồng binh chủng. Chiến dịch Nguyễn Huệ là lần đầu tiên chiến thuật này được vận dụng thành công.

3.1. Thành lập đơn vị cấp quân đoàn

Đoàn 301 lục quân là đơn vị cấp quân đoàn đầu tiên trên Chiến trường B2. Đây là đơn vị tạm thời được thành lập để thực hiện nhiệm vụ chiến dịch. Sự ra đời của Đoàn 301 đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng lực lượng. Các sư đoàn chủ lực miền Bắc góp phần quan trọng xây dựng đơn vị này. Kinh nghiệm từ Đoàn 301 là nền tảng cho các quân đoàn sau này.

3.2. Chiến thuật hợp đồng binh chủng

Chiến thuật tiến công hợp đồng binh chủng được áp dụng lần đầu. Sự kết hợp giữa bộ binh, pháo binh, tăng thiết giáp tạo sức mạnh tổng hợp. Pháo xe kéo, xe tăng, xe bọc thép phối hợp chặt chẽ trong tác chiến. Chiến dịch Nguyễn Huệ là thử nghiệm thành công đầu tiên. Hiệu suất diệt địch cao, tỷ lệ thương vong thấp chứng minh ưu việt của chiến thuật.

3.3. Nâng cao quy mô chiến dịch

Quy mô chiến dịch của các sư đoàn chủ lực miền Bắc có bước phát triển mới. Từ chiến dịch cấp sư đoàn lên chiến dịch cấp quân đoàn. Các đơn vị tham gia chiến dịch quân đoàn tăng cường với quy mô lớn hơn. Khả năng phối hợp giữa các binh chủng được nâng cao đáng kể. Đây là tiền đề cho chiến dịch Hồ Chí Minh sau này.

IV. Hiệu suất chiến đấu và trưởng thành đơn vị

Các sư đoàn chủ lực miền Bắc đạt hiệu suất chiến đấu cao trong mọi tình huống. Đơn vị kiên quyết đánh mạnh, sáng tạo cách đánh diệt địch hiệu quả. Tỷ lệ thương vong thấp chứng minh năng lực chiến thuật tiến bộ. Nhiều xe cơ giới địch bị tiêu diệt trong các trận đánh. Tinh thần quân Mỹ và quân Sài Gòn sa sút nghiêm trọng. Qua tác chiến liên tục, các sư đoàn có bước trưởng thành mới. Kinh nghiệm chiến đấu được tích lũy phong phú. Cán bộ, chiến sĩ rèn luyện qua thực chiến khốc liệt. Năng lực chỉ huy, điều hành chiến dịch được nâng cao. Sự trưởng thành này tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn tiếp theo, chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam.

4.1. Thành tích chiến đấu nổi bật

Các sư đoàn chủ lực miền Bắc đánh mạnh trong mọi tình huống chiến trường. Hiệu suất diệt địch cao được duy trì ổn định qua các trận đánh. Tỷ lệ thương vong thấp chứng minh ưu việt về chiến thuật. Nhiều xe cơ giới địch bị tiêu diệt, làm suy yếu lực lượng đối phương. Tinh thần quân Mỹ và Sài Gòn sa sút từng ngày.

4.2. Quá trình trưởng thành đơn vị

Qua tác chiến liên tục, các sư đoàn bộ binh có bước trưởng thành vượt bậc. Kinh nghiệm chiến đấu được tích lũy qua từng chiến dịch. Cán bộ, chiến sĩ rèn luyện trong thực chiến khốc liệt. Năng lực chỉ huy, điều hành được nâng cao đáng kể. Sự sáng tạo trong cách đánh là điểm nổi bật của giai đoạn này.

4.3. Chuẩn bị cho giai đoạn mới

Sự trưởng thành của các sư đoàn chủ lực miền Bắc tạo nền tảng vững chắc. Kinh nghiệm chiến đấu là tài sản quý giá cho tương lai. Năng lực tổ chức, chỉ huy chiến dịch lớn được hình thành. Đây là tiền đề quan trọng cho chiến dịch Hồ Chí Minh. Mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền Nam đang đến gần.

V. Bố trí lại lực lượng sau Hiệp định Paris

Sau ký kết Hiệp định Paris năm 1973, các sư đoàn chủ lực miền Bắc được bố trí lại địa bàn đứng chân. Sư đoàn 9 bộ binh đóng quân ở khu vực Minh Hòa, Minh Thạnh. Thế đứng chân mới đảm bảo sẵn sàng chiến đấu, củng cố và xây dựng lực lượng. Công tác huấn luyện được đẩy mạnh để nâng cao chất lượng cán bộ, chiến sĩ. Các đơn vị tích cực tăng gia sản xuất, tự túc một phần lương thực. Đoàn 75 pháo binh được trang bị lựu pháo 130mm - loại vũ khí mạnh mẽ. Các sư đoàn góp phần xây dựng các đoàn binh chủng mới. Chiến dịch Bù Bông - Kiến Đức đánh dấu sự kiên quyết đánh trả vi phạm Hiệp định. Giai đoạn này chuẩn bị kỹ lưỡng cho cuộc tổng tiến công cuối cùng.

5.1. Điều chỉnh địa bàn đóng quân

Các sư đoàn chủ lực miền Bắc được bố trí lại địa bàn đứng chân sau Hiệp định Paris. Sư đoàn 9 bộ binh đóng quân ở Minh Hòa, Minh Thạnh. Thế đứng chân mới đảm bảo sẵn sàng chiến đấu cao. Vị trí đóng quân thuận lợi cho củng cố và xây dựng lực lượng. Địa bàn cũng tạo điều kiện tốt cho công tác huấn luyện.

5.2. Tăng cường vũ khí và binh chủng

Đoàn 75 pháo binh được trang bị lựu pháo 130mm lần đầu tiên. Loại vũ khí này có sức công phá mạnh, tầm bắn xa. Các sư đoàn bộ binh góp phần xây dựng đoàn binh chủng mới. Lực lượng binh chủng đa dạng hơn, hiện đại hơn. Sự kết hợp các binh chủng tạo sức mạnh tổng hợp cao.

5.3. Sản xuất và chiến dịch Bù Bông

Các đơn vị tích cực tăng gia sản xuất, tự túc lương thực. Công tác hậu cần được cải thiện đáng kể qua sản xuất. Chiến dịch Bù Bông - Kiến Đức kiên quyết đánh trả vi phạm Hiệp định Paris. Địch lấn chiếm bị đẩy lùi, uy tín của ta được khẳng định. Giai đoạn này là bước chuẩn bị quan trọng cho tổng tiến công.

VI. Chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh 1975

Giai đoạn 1973-1974 là thời kỳ chuẩn bị kỹ lưỡng cho chiến dịch quyết định. Các sư đoàn chủ lực miền Bắc được củng cố toàn diện về tổ chức, vũ khí. Công tác huấn luyện tập trung nâng cao chất lượng cán bộ, chiến sĩ. Chiến thuật tiến công hợp đồng binh chủng được hoàn thiện. Đường Hồ Chí Minh được mở rộng, hiện đại hóa để vận chuyển lực lượng. Quân đoàn 1, quân đoàn 2, quân đoàn 3, quân đoàn 4 được thành lập và củng cố. Các sư đoàn bộ binh trở thành lực lượng nền tảng của các quân đoàn. Thế chủ động trên chiến trường được giành lại từng bước. Chiến dịch mùa xuân 1975 đang được chuẩn bị chu đáo. Mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền Nam trong tầm tay.

6.1. Củng cố tổ chức và huấn luyện

Các sư đoàn chủ lực miền Bắc được củng cố toàn diện về tổ chức. Vũ khí, trang bị được bổ sung, nâng cấp liên tục. Công tác huấn luyện tập trung nâng cao chất lượng chiến đấu. Cán bộ, chiến sĩ được rèn luyện kỹ năng chiến thuật mới. Chiến thuật tiến công hợp đồng binh chủng được hoàn thiện qua thực hành.

6.2. Phát triển hệ thống quân đoàn

Quân đoàn 1, quân đoàn 2, quân đoàn 3, quân đoàn 4 được thành lập. Các sư đoàn bộ binh trở thành lực lượng nòng cốt của quân đoàn. Tổ chức quân đoàn tạo khả năng chỉ huy chiến dịch lớn. Sự phối hợp giữa các quân đoàn được tập luyện kỹ lưỡng. Đường Hồ Chí Minh được mở rộng phục vụ vận chuyển lực lượng.

6.3. Giành lại thế chủ động chiến lược

Thế chủ động trên chiến trường được giành lại từng bước. Các sư đoàn chủ lực miền Bắc phát triển tiến công ra phía trước. Vùng giải phóng được mở rộng, củng cố vững chắc. Chiến dịch mùa xuân 1975 được chuẩn bị chu đáo về mọi mặt. Mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền Nam đang đến rất gần.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ Lịch sử Việt Nam: Hoạt động tác chiến của các sư đoàn chủ lực miền (1965 - 1975) (Phần 2)

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (160 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1B (Nếu nối với động cơ HB.350, ta có DB bắn tàu). Trong các loại đạn pháo cải tiến này, đạn pháo hỏa tiễn B.20 có tính năng vượt trội nhất. Về vũ khí phòng không, bên cạnh những khẩu súng máy cao xạ 12.&mm và 14,5mm, Đoàn 75 pháo binh đã được trang bị những khẩu pháo cao xạ 37mm, pháo cao xa 57mm và pháo cao xạ 57mm tự hành do Liên Xô, Trung Quốc sản xuất. Ngoài ra, Đoàn còn được trang bị thêm một loại vũ khí phòng không thế hệ mới: Hỏa tiễn phòng không A.

Đây là loại hỏa tiến phòng không do Liên Xô sản xuất, có cao độ bắn hiệu quả 3,4km và được điều khiển bằng phương pháp tự dẫn hồng ngoại. Về phương tiện chiến đấu, cùng với sự ra đời của Đoàn M.26 tăng - thiết giáp. khối chủ lực Miễn đã bắt đầu được trang bị các loại xe tăng T.54, xe bọc thép PT.59, xe bọc thép K. Trong đó, xe tăng T.59, xe bọc thép K.63 của Trung Quốc là những bản sao có cải tiến của xe tăng T.54, xe bọc thép PT.76 của Liên Xô.

TIỂU KẾT Trong những năm 1969 — 1972, cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng miền Nam đứng trước những khó khăn, thử thách lớn lao. Đây là giai đoạn đấu tranh rất quyết liệt do địch quay lại tập trung phản công ta sau Cuộc Tổng tiến công và nổi đậy Xuân Mậu Thân 1968, thực hiện chiến lược "quét và giữ” và đẩy mạnh thực hiện các chương trình bình định. đem quân đánh vượt qua biên giới, đỉnh cao là tiến hành ba cuộc hành quân đánh phá lớn trên đất Lào và Campuchia. Trên Chiến trường B2 và cả trên Chiến trường Campuchia, thời gian đầu các sư đoàn CLM gặp vô vàn khó khăn, nhưng với long đũng cảm, óc mưu trí, sáng tạo lại được sự quan tâm chỉ đạo của TƯ, chỉ viện lớn lao về nhân lực và vật chất của hậu phương miền Bắc, cùng với sự chỉ đạo sâu sát và trực tiếp của QUM và BTLM, đã giành được những thắng lợi trên các mặt trận, nhất là thắng lợi lớn trong Cuộc tiến công chiến lược Xuân 1972.

mở rộng được vùng giải phóng, mở rộng hậu phương sang nước bạn Campuchia theo tinh thần Đông Dương là một chiến trường, giúp cách mạng Campuchia phát triển vượt bậc, tăng cường sức mạnh khối đoàn kết Đông Dương chống Mỹ và bè lũ tai sai, mở cuộc tiến công chiến lược, khôi phục thế trận, đánh bại kế hoạch “bình định cấp tốc” của địch. Trong mọi tình huống chiến trường, các sư đoàn CLM đều kiên quyết đánh mạnh, đánh với hiệu suất chiến đấu cao. Qua tác chiến liên tục, các sư đoàn CLM, đã có một bước trưởng thành mới, sáng tạo cách đánh đạt hiệu suất diệt địch cao, tỷ lệ thương vong thấp, diệt được nhiều xe cơ giới địch, làm cho tinh than quân Mỹ và quân Sài Gòn sa sút thêm một bước. Trong những năm 1969 — 1972, các sư đoàn CLM đã góp phần xây dựng đơn vị cấp quân đoàn đầu tiên trên Chiến trường B2 (Đoàn 301 lục quan), dù đây là một đơn vị lam thời được thành lập để thực hiện nhiệm vụ chiến dịch, nhưng đã đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng lực lượng cũng như hoạt động tác chiến và của các sư đoàn CLM.

Cùng với việc xây dựng Đoàn 301 lục quần, quy mô chiến dịch của các sư đoàn CLM cũng có bước phát triển mới, các sư đoàn CLM đã bắt đầu tham gia các chiến dịch tiến công và phản công cấp quân đoàn và quân đoàn tăng cường. Kết hợp với các đơn vị binh chủng mới thành lập (pháo xe kéo, xe tăng, xe bọc thép), các sư đoàn CLM bắt đầu áp dụng chiến thuật mới: Chiến thuật tiến công hợp đồng binh chủng. Chiến dịch Nguyễn Huệ là chiến dịch đầu tiên các sư đoàn CLM áp dụng chiến thuật tiến công hợp đồng binh chủng. Hoạt động tác chiến quan trọng nhất của các sư đoàn CLM trong những năm 1969 — 1972 là đã tham gia Cuộc tiến công chiến lược Xuân 1972.

Cuộc tiến công chiến lược Xuân 1972 diễn ra đúng vào năm bầu cử Tổng thống Mỹ, giữa lúc cuộc chạy đua vào Nhà Trắng diễn ra gay go, quyết liệt. Đây là một nét nổi bật trong nghệ thuật chiến dịch: Nghệ thuật thế — thời. Các sư đoàn CLM đã cùng với quân dân cả nước vượt qua một chặng đường giai đoạn đặc biệt khó khăn, phức tạp, góp phần đánh bại một bước quan trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, rút quân về nước, mở ra một cục điện hoàn toàn mới, đưa cách mạng miễn Nam tiến lên, tiếp tục phát triển thế tiến ^ˆ công. CHƯƠNG 4 CÁC SƯ DOAN CHỦ LỰC MIEN TRONG NHỮNG NĂM 1973 - 1975 4.

BỐ TRÍ LẠI ĐỊA BÀN ĐỨNG CHÂN, GÓP PHẦN XÂY DỰNG CÁC ĐOÀN BINH CHỦNG, PHÁT TRIỂN TIẾN CÔNG RA PHÍA TRƯỚC, GIÀNH LẠI THẾ CHỦ ĐỘNG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG (1973 - GIỮA NĂM 1974): 4. Bố trí lại địa bàn đứng chân của các sư đoàn bộ binh và Đoàn 7Š pháo binh sau Hiệp định Paris, góp phần xây dựng các đoàn binh chủng, bước đầu trang bị lựu pháo 130mm cho Doan 75 pháo binh, tích cực tăng gia sản xuất tự túc một phần lương thực. Tham gia Chiến dịch Bù Bông - Kiến Đức, kiên quyết đánh trả mọi hành vi lấn chiếm, vi phạm Hiệp định Paris: Sau khi ký kết Hiệp định Paris, các sư đoàn CLM được BTLM bố trí lại thế đứng chân để vừa đảm bảo sấn sàng chiến đấu vừa củng cố vừa xây dựng lực lượng và vừa bảo đảm hoàn thành công tác huấn luyện. giúp nâng cao chất lượng cán bộ, chiến sĩ để làm tốt nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Sư đoàn 9 bộ binh được bố trí đóng quân ở khu vực Minh Hoà, Minh Thạnh (Dầu Tiếng, Bình Dương) có nhiệm vụ đánh địch lấn chiếm trên quốc lộ 13 và khu vực đóng quân. Sư đoàn 5 bộ binh được bố trí đóng quân ở Đồng Pan (Tây Ninh) có nhiệm vụ đánh địch lấn chiếm trên quốc lộ 4, quốc lộ 22 và khu vực đóng quân. Sư đoàn 7 bộ binh đóng quân ở quận Phú Giáo (Bình Dương) có nhiệm vu đánh địch lấn chiếm trên khu vực quốc lộ 14 và khu vực đóng quân. Trên khu vực đứng chân của mình, các sư đoàn CLM duy trì trạng thái sắn sàng chiến đấu cao.

tiếp tục chiến đấu, kiên quyết đánh bại các cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm của địch trên các địa bàn được phân công, bảo vệ vùng giải phóng. Mặt khác, các đơn vị còn phải hết sức tận dụng thời gian, tranh thủ những thuận lợi mới ở chiến trường sau khi có Hiệp định Paris (quân Mỹ và chư hầu đã rút, bom pháo địch ít hơn, B52 không còn) để khẩn trương và nỗ lực xây dựng và huấn luyện, nâng cao sức mạnh chiến đấu theo phương hướng chính quy hiện đại. Các đơn vị mở cuộc vận động xây dựng “đơn vị 6 tốt”: Sắn sàng chiến đấu và chiến đấu tốt, huấn luyện tốt, quản lý bộ đội tốt, kỷ luật, tác phong tốt, san xuất, tiết kiệm tốt, đời sống vật chất và tỉnh thần tốt. Tiếp tục truyền thống vừa chiến đấu, vừa xây dựng huấn luyện, các sư đoàn CLM đã vừa triển khai tác chiến trên địa bàn phân công, đánh địch lấn chiếm trên địa bàn được phân công, đánh địch lấn chiếm, vừa triển khai huấn luyện theo chương trình tập huấn kỹ thuật chiến thuật cho các phân đội bộ binh và binh chủng.

Lấy kết quả huấn luyện phục vụ cho nhiệm vụ chiến đấu và lấy thực tế chiến đấu để kiểm tra và bổ sung nội dung huấn luyện. Trong thời kỳ này, cán bộ, chiến sĩ các sư đoàn CLM được chú trọng huấn luyện đánh đồn bốt, quận ly, chỉ khu, thành phố. trên cơ sở hoả lực bộ binh là chính để có thể tự đứt điểm các mục tiêu, không lệ thuộc vào sự yểm trợ của các binh chủng, tiếp tục phát huy truyền thống độc lập tác chiến lâu nay của cấc sư đoàn CLM. Nhưng bên cạnh đó, cán bộ, chiến sĩ các su đoàn CLM còn được huấn luyện cả về kỹ năng hợp đồng tác chiến binh chủng, để chuẩn bị tham gia các chiến dich hợp đồng binh chủng lớn quy mô cấp quân đoàn và liên quân đoàn.

Các lớp nghiên cứu và tập huấn về chiến thuật đánh đồn bốt và đánh vận động với các bài đánh địch trong công sự vững chắc, đánh địch ngoài công sự, đánh có pháo và đánh không có pháo chuẩn bị, đánh bộ binh có kết hợp đặc công và không có đặc công v. Trong điều kiện thiếu thốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị huấn luyện, không có thời gian chuẩn bị tài liệu kỹ càng, BTLM cùng bộ chỉ huy các sư đoàn CLM chủ trương không cầu toàn, vừa dạy. vừa hoc, vừa hoàn chỉnh. Các lớp tập huấn chiến thuật đã góp phan nhiều vấn đề về tư tưởng lâu nay đã gây ảnh hưởng đến kết quả chung như: ngại đánh đồn bốt địch vì công sự kiên cố.

ngại đánh vận động ngoài đồng trống, bộ binh ở lại đặc công khi mở cửa, đặc công ỷ vào bộ binh đánh tiêu diệt v. Thông qua việc tháo gỡ về tư tưởng, huấn luyện về kỹ thuật, chiến thuật, các lớp tập huấn đã làm tăng thêm quyết tâm, tăng thêm khả năng đánh tiêu diệt đồn bốt và tiêu diệt viện binh địch của cán bộ, chiến sĩ các sư đoàn CLM, góp phần giúp cho công tác huấn luyện của các sư đoàn CLM đã đạt được những kết quả rõ rệt. Đường Hồ Chí Minh, tuyến vận tải chiến lược Bắc - Nam, đã vươn tới miễn Đông Nam Bộ và ngày càng hoàn chỉnh, bảo đảm cho các loại phương tiện cơ giới lớn và pháo hạng nặng hành quân. Nhờ vậy, đến giữa năm 1973, TƯ chỉ viện cho Chiến trường B2 được 53.392 quân và nhiều binh khí kỹ thuật hiện đại nhằm nhanh chóng phát triển lực lượng chủ lực, mà đặc biệt là các sư đoàn CLM, để cùng quân dân cả nước tạo ra những quả đấm mạnh và quyết định trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam.

Từ giữa năm 1973, các sư đoàn CLM bước vào đợt tăng cường hỏa lực và trang bị vũ khí mới thứ tư do TƯ chỉ viện, kéo dài từ tháng 5-1973 đến cuối năm 1974, trước khi Chiến dịch Đường 14 Phước Long bắt đầu. Trong đợt thứ tư này, bên cạnh những loại vũ khí đã có, các sư đoàn CLM còn được trang bị thêm các loại vũ khí bộ bình, pháo bình và phòng không mới như lựu pháo tam xa M.46 130mm, pháo chống tăng ZIS.3 76,2 mm và bộc phá rào FR. Riêng pháo chống tăng ZIS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Từ khóa và chủ đề nghiên cứu


Câu hỏi thường gặp

Luận án "Hoạt động tác chiến sư đoàn chủ lực miền 1965-1975" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu chiến thuật tác chiến của các sư đoàn chủ lực miền Bắc giai đoạn 1965-1975. Phân tích chiến dịch, kinh nghiệm chỉ huy trong kháng chiến chống Mỹ.

Luận án "Hoạt động tác chiến sư đoàn chủ lực miền 1965-1975" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Hoạt động tác chiến sư đoàn chủ lực miền 1965-1975" thuộc chuyên ngành Lịch sử quân sự, Chiến tranh Việt Nam. Danh mục: Lịch Sử Việt Nam.

Luận án "Hoạt động tác chiến sư đoàn chủ lực miền 1965-1975" có bao nhiêu trang?

Luận án "Hoạt động tác chiến sư đoàn chủ lực miền 1965-1975" có 160 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Hoạt động tác chiến sư đoàn chủ lực miền 1965-1975" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter