Luận án: Tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam
Phân tích ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Luan An
Số trang
176
Thời gian đọc
27 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Tổng quan cấu trúc sở hữu ngân hàng Việt Nam.
- Số trang:
- 176 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I.
Nghiên cứu tập trung vào tác động cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động ngân hàng Việt Nam. Cấu trúc sở hữu là yếu tố nền tảng định hình chiến lược, quản trị và kết quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Hiểu rõ mối liên hệ này giúp đưa ra các quyết định chính sách phù hợp. Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện đại, đa dạng. Thị trường có sự tham gia của nhiều loại hình sở hữu. Mỗi loại hình sở hữu mang đặc điểm riêng. Chúng tác động khác nhau đến hiệu quả sinh lời và hiệu quả chi phí. Phân tích này là cần thiết cho sự phát triển bền vững của ngành ngân hàng.
1.1. Các loại hình sở hữu chính.
Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện có nhiều loại hình sở hữu. Các ngân hàng thương mại nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Ngân hàng thương mại cổ phần có tỷ lệ sở hữu tư nhân đáng kể. Bên cạnh đó, các ngân hàng liên doanh cũng hoạt động. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài tạo thêm sự đa dạng. Mỗi loại hình sở hữu có đặc trưng riêng. Chúng định hình cách thức vận hành. Cấu trúc sở hữu này phản ánh quá trình chuyển đổi kinh tế. Nó cũng thể hiện mức độ hội nhập quốc tế của Việt Nam.
1.2. Xu hướng thay đổi cấu trúc sở hữu.
Cấu trúc sở hữu ngân hàng Việt Nam liên tục thay đổi. Quá trình cổ phần hóa diễn ra mạnh mẽ qua các thập kỷ. Tỷ lệ sở hữu nhà nước trong các ngân hàng giảm dần. Sự tham gia của sở hữu tư nhân và sở hữu nước ngoài tăng lên. Xu hướng này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng. Nó thu hút vốn đầu tư, công nghệ và kinh nghiệm quản lý quốc tế. Việc tăng cường minh bạch và quản trị doanh nghiệp là mục tiêu quan trọng. Thay đổi cấu trúc sở hữu giúp hệ thống ngân hàng năng động hơn.
II.
Sở hữu nhà nước đóng vai trò then chốt trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Các ngân hàng thương mại nhà nước thường gánh vác nhiều nhiệm vụ kinh tế xã hội. Điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, sở hữu nhà nước cũng mang lại sự ổn định. Nó là trụ cột cho sự phát triển của nền kinh tế. Phân tích cần cân nhắc cả hai khía cạnh này. Mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và các chỉ số hiệu quả sinh lời (ROA, ROE) hay hiệu quả chi phí (CIR) cần được xem xét kỹ lưỡng. Điều này cung cấp cái nhìn toàn diện.
2.1. Hiệu quả sinh lời ROA ROE của ngân hàng nhà nước.
Ngân hàng thương mại nhà nước thường ghi nhận chỉ số hiệu quả sinh lời thấp hơn. ROA (Return on Assets) và ROE (Return on Equity) có thể không cao. Các yếu tố tác động bao gồm nhiệm vụ chính trị xã hội. Ngân hàng nhà nước thường phải cho vay các dự án ưu tiên. Lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất. Chi phí hoạt động có thể cao do quy mô lớn. Tỷ lệ nợ xấu tiềm ẩn đôi khi cũng ảnh hưởng lợi nhuận. Điều này làm giảm hiệu quả sinh lời chung của nhóm ngân hàng này.
2.2. Hiệu quả chi phí CIR và hoạt động.
Hiệu quả chi phí (CIR) của ngân hàng nhà nước thường kém cạnh tranh. CIR đo lường tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập. Ngân hàng nhà nước thường có cấu trúc tổ chức cồng kềnh. Chi phí quản lý và vận hành có xu hướng cao hơn. Việc tối ưu hóa chi phí chưa đạt mức tốt nhất. Các quy trình có thể chưa linh hoạt. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động ngân hàng tổng thể. Cải thiện CIR là mục tiêu quan trọng cho ngân hàng nhà nước.
2.3. Vai trò ổn định hệ thống tài chính.
Mặc dù hiệu quả sinh lời và chi phí chưa tối ưu, ngân hàng nhà nước có vai trò quan trọng. Chúng là trụ cột đảm bảo ổn định hệ thống tài chính Việt Nam. Ngân hàng nhà nước hỗ trợ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Cung cấp vốn cho các ngành kinh tế trọng điểm. Vai trò ổn định này là không thể phủ nhận. Sở hữu nhà nước giúp quản lý rủi ro vĩ mô. Chúng đóng góp vào sự phát triển an toàn của thị trường tài chính.
III.
Sở hữu tư nhân và sở hữu nước ngoài mang lại những tác động tích cực. Chúng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Các ngân hàng này thường có lợi thế về sự linh hoạt, công nghệ và quản trị. Áp lực cạnh tranh thị trường thúc đẩy họ liên tục đổi mới. Việc này tạo ra một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển. So sánh hiệu quả giữa các loại hình sở hữu giúp đánh giá rõ hơn. Nó cung cấp cái nhìn sâu sắc về những lợi ích tiềm năng từ việc đa dạng hóa cấu trúc sở hữu ngân hàng.
3.1. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng tư nhân.
Ngân hàng thương mại cổ phần với sở hữu tư nhân thường năng động hơn. Hiệu quả sinh lời (ROA, ROE) có xu hướng cao. Họ chịu áp lực cạnh tranh gay gắt. Điều này thúc đẩy việc cải thiện quản trị và tối đa hóa lợi nhuận. Ngân hàng tư nhân thường quản lý chi phí chặt chẽ hơn. Họ cũng linh hoạt hơn trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh. Điều này giúp tăng hiệu quả hoạt động ngân hàng đáng kể. Năng lực cạnh tranh được nâng cao rõ rệt.
3.2. Ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài.
Sở hữu nước ngoài mang lại lợi ích rõ rệt cho hệ thống. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài thường áp dụng công nghệ hiện đại. Quy trình quản lý tiên tiến và chuẩn mực quốc tế được sử dụng. Điều này nâng cao năng lực cạnh tranh cho toàn ngành. Chúng cũng chia sẻ kinh nghiệm quản trị rủi ro. Sở hữu nước ngoài giúp tăng cường minh bạch. Nó thúc đẩy cải thiện hiệu quả hoạt động ngân hàng nói chung. Việc này là động lực quan trọng cho thị trường.
3.3. So sánh hiệu quả giữa các loại hình.
Nghiên cứu thường chỉ ra sự khác biệt rõ rệt về hiệu quả. Ngân hàng tư nhân và ngân hàng có sở hữu nước ngoài thường vượt trội hơn. Họ có hiệu quả sinh lời (ROA, ROE) cao hơn. Hiệu quả chi phí (CIR) cũng tốt hơn đáng kể. Ngân hàng nhà nước mang lại sự ổn định nhưng kém linh hoạt hơn. Sự so sánh này cho thấy tiềm năng của việc đa dạng hóa cấu trúc sở hữu. Việt Nam cần khai thác tốt lợi thế từ mỗi loại hình để phát triển hệ thống ngân hàng.
IV.
Phân tích hiệu quả hoạt động ngân hàng đòi hỏi xem xét nhiều chỉ số. Các chỉ số này cung cấp cái nhìn định lượng về tình hình kinh doanh. Hiệu quả sinh lời và hiệu quả chi phí là hai khía cạnh chính. ROA, ROE và CIR là những chỉ số tiêu biểu. Cấu trúc sở hữu ngân hàng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ số này. Ngoài ra, các yếu tố vĩ mô và vi mô khác cũng tác động. Một phân tích toàn diện giúp đánh giá đúng hiệu suất. Nó cũng giúp xác định các lĩnh vực cần cải thiện.
4.1. Hiệu quả sinh lời ROA và ROE.
ROA (Return on Assets) và ROE (Return on Equity) là hai chỉ số chính. Chúng phản ánh khả năng sinh lời từ tài sản và vốn chủ sở hữu. ROA cho biết mỗi đồng tài sản tạo ra bao nhiêu lợi nhuận. ROE đo lường lợi nhuận trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu. Các chỉ số này giúp đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng. Cấu trúc sở hữu ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả này. Ngân hàng với quản trị tốt thường có ROA và ROE cao hơn.
4.2. Hiệu quả chi phí CIR và các yếu tố liên quan.
CIR (Cost to Income Ratio) là chỉ số quan trọng về hiệu quả chi phí. CIR đo lường tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập. CIR thấp cho thấy ngân hàng hoạt động hiệu quả về mặt chi phí. Các yếu tố như quy mô, công nghệ và quản trị ảnh hưởng CIR. Ngân hàng với công nghệ hiện đại thường có thể giảm CIR. Tối ưu hóa chi phí là mục tiêu chiến lược. Nó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng.
4.3. Các yếu tố khác ảnh hưởng hiệu quả.
Ngoài cấu trúc sở hữu ngân hàng, nhiều yếu tố khác tác động. Quy mô ngân hàng là một yếu tố quan trọng. Điều kiện kinh tế vĩ mô cũng ảnh hưởng đáng kể. Mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt. Chất lượng quản trị và ứng dụng công nghệ thông tin. Các yếu tố này tương tác phức tạp với nhau. Chúng cùng định hình hiệu quả hoạt động ngân hàng. Một phân tích cần xem xét toàn diện các yếu tố này.
V.
Những phát hiện từ nghiên cứu có hàm ý quan trọng cho chính sách. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần xem xét kỹ lưỡng. Mục tiêu là phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam bền vững. Chính sách cần cân bằng giữa hiệu quả và ổn định. Cần khuyến khích đa dạng hóa cấu trúc sở hữu. Đồng thời, tăng cường giám sát và quản lý rủi ro. Các khuyến nghị này nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Nó cũng giúp đảm bảo an toàn cho toàn hệ thống tài chính. Một chính sách hiệu quả sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
5.1. Khuyến nghị cho chính sách sở hữu.
Chính sách cần tiếp tục khuyến khích đa dạng hóa cấu trúc sở hữu. Quá trình cổ phần hóa ngân hàng nhà nước cần đẩy mạnh hơn nữa. Việc mở cửa cho sở hữu tư nhân và sở hữu nước ngoài là cần thiết. Điều này tăng cường hiệu quả hoạt động ngân hàng. Đồng thời, chính phủ cần đảm bảo kiểm soát rủi ro. Tránh tình trạng tập trung sở hữu quá mức. Một cấu trúc sở hữu tối ưu sẽ thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. Nó cũng nâng cao năng lực quản trị.
5.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh ngân hàng Việt Nam.
Chính phủ cần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho ngân hàng. Khuyến khích đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng dịch vụ. Các ngân hàng thương mại Việt Nam cần chủ động cải thiện. Nâng cao năng lực quản trị và giảm thiểu chi phí. Tăng cường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Mục tiêu là nâng cao năng lực cạnh tranh. Điều này giúp các ngân hàng vững vàng hơn trên thị trường quốc tế.
5.3. Phát triển lành mạnh hệ thống ngân hàng.
Giám sát chặt chẽ hoạt động ngân hàng là cần thiết. Đảm bảo an toàn và ổn định của toàn hệ thống. Ngăn chặn các rủi ro tài chính tiềm ẩn. Chính sách cần cân bằng giữa mục tiêu hiệu quả và ổn định. Cấu trúc sở hữu ngân hàng tối ưu sẽ hỗ trợ phát triển bền vững. Một hệ thống ngân hàng mạnh mẽ, lành mạnh là nền tảng. Nó giúp tăng trưởng kinh tế quốc gia.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (176 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộPHAN MO DAU 1. Tính cấp thiết của đề tài Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh tế từ lâu đã được các học giả, các nhà kinh tế quan tâm và nghiên cứu từ những thập niên 30 thế kỷ trước. Người đặt nền móng cho những vấn đề về sự tách biệt giữa quyền kiểm soát với quyền sở hữu và những hậu quả của nó là (Berle & Means, 1932). Nghiên cứu đã lý giải mục đích hoạt động của các tập đoàn phục vụ chủ sở hữu hay nhà quản lý, và nguyên nhân thúc đây các nhà sử dụng và quản lý tài sản của tổ chức hiệu quả tài sản.
Kế thừa những nghiên cứu đó (Meckling & Jensen, 1976) đã tìm hiểu những ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Kế từ đây đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ này trong các doanh nghiệp tài chính và phi tài chính, song vẫn chưa thống nhất được kết quả nghiên cứu bởi mỗi quốc gia, mỗi ngành có những đặc thù khác nhau về sở hữu hay đặc điểm kinh tế. Một doanh nghiệp thuộc sở hữu của ai, được kiểm soát và điều hành bởi các nhân hay tổ chức đều có thể ảnh hưởng đến mục tiêu và hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp. Kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, Việt Nam đã tự hào là một trong số các nền kinh tế mới nổi phát triển nhanh trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng tông sản phẩm quốc nội (GDP) mỗi năm trung bình khoảng 6% tính theo giá trị thực.
Tuy nhiên thị trường vốn vẫn bị đánh giá là kém phát triển, hệ thống NHTM vẫn được xem là xương sống của nền kinh tế và đóng góp 16% đến 18% vào GDP cả nước, nền kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn tín dụng từ hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên trước thực trạng hoạt động của hệ thống NHTM như ngày nay đang gây ra những lo ngại tới vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế của hệ thống này. Đó là van đề về nợ xấu, đó là thực trạng hoạt động “kém lành mạnh” của nhiều các NHTM đang ảnh hưởng nhiều tới toàn bộ hệ thống ngân hàng của Việt Nam. Bên cạnh đó là những sức ép đòi hỏi các ngân hàng phải gia tăng vốn điều lệ để đáp ứng tiêu chuẩn Base 2 về an toàn vốn.
Một số ngân hàng đang đứng trước giới hạn tăng trưởng, nếu tuân thủ các quy định về an toàn vốn thì buộc các ngân hàng này phải giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng mà điều này có thể ảnh hưởng tới khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế. Các ngân hàng chỉ còn một con đường là tăng vốn điều lệ. Trong những năm 90 của thê kỷ 20, Hệ thống NHTM của Việt Nam từ khi chỉ có 4 NHTM Nhà nước, sau đó tăng lên 56 NHTM vào năm 1997. Số lượng các NHTM đã giảm nhiều sau những đợt tái cấu trúc và sát nhập, đến nay chúng ta chỉ còn 34 NHTM đang hoạt động.
Chất lượng hoạt động của các NHTM cũng đòi hỏi sự gia tăng về nhu cầu vốn, đặc biệt là sau nghị định 141/2006/NĐ-CP quy định mức vốn pháp định tối thiểu của các NHTM đến cuối 2010 là 3000 tỷ đồng. Quy định này đã tác động đến vốn của NTHM, từ 24.193 tỷ đồng năm 2004 thì đến cuối 2011 đã tăng gấp 10 lần lên 250. Quá trình tăng vốn Ô ạt trong giai đoạn ngắn đã dẫn đến vấn đề về sở hữu chéo, sở hữu lẫn nhau giữa NH với doanh nghiệp, hoặc giữa các ngân hàng với nhau. Tình trạng sở hữu này đang gây ra những vấn đề phức tạp trong việc quản lý vẫn đề sở hữu của các NHTM đồng thời tạo ra những rủi ro cho chính các hoạt động của NHTM.
Sở hữu chéo có thể giúp các ngân hàng đáp ứng các quy định của Nhà nước, song hậu quả của nó đó là những rủi ro nợ xấu sẽ càng trầm trọng thêm, bởi sẽ khó xác định chính xác và đầy đủ nợ xấu thực tế của các ngân hàng. Vấn đề sở hữu thiếu minh bach gây ra những nguy cơ về chỉ phối và thao túng hoạt động của ngân hàng. Nó tác động tới năng lực cạnh tranh, ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động và sự ôn định của các NHTM Việt Nam. Đó chính là những vấn đề của các NHTM trong những năm vừa qua.
Đứng trước yêu cầu cải tổ toàn điện hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” ban hành theo quyết định 254QĐÐ-TTG tháng 3/2012 và dé an tái cơ cấu gắn với Xử lý nợ xấu các TCTD giai đoạn 2015-2020, ban hành theo quyết định 1058/QĐ-TTg 2017. Theo đó tiến hành cơ cấu lại mọi mặt hoạt động của hệ thông các TCTD, đảm bảo đến 2020 phát triển hệ thống đa năng theo hướng hiện đại và an toàn. Kết quả là đến nay, trong 9 ngân hàng thuộc nhóm yếu kém trong đó có 8 ngân hàng đã tái cầu trúc xong bằng việc sáp nhập hay tự tái cơ cấu. Tuy nhiên, mục tiêu trọng tâm của đề án là hợp nhất các TCTD, tăng vốn tự có cấp 1, giảm tỷ lệ nợ xấu, đổi mới phương thức kinh doanh và quản lý.
tất cả mới chỉ đáp ứng một phần hoặc chỉ dừng lại ở mức hình thức. Một số NHTM sau hợp nhất vẫn chưa có đấu hiệu phục hồi. Chỉ tiêu nợ xấu có giảm song có thể quay lại hệ thống khi trái phiếu đặc biệt VAMC sắp đến thời điểm đáo hạn vào 2020. Việc tái cấu trúc sẽ dẫn đến những thay đổi cơ cấu sở hữu tại các tổ chức chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, những ảnh hưởng đó có thể là tốt hoặc gây nên những tiêu cực không lường trước.
Như vậy việc lựa chọn một cơ cấu sở hữu nào là tối ưu đề tác động đến chất lượng hoạt động của các ngân hàng là rất cần thiết trước thực trạng các ngân hàng đang phải tăng vốn điều lệ, tái cấu trúc, nâng cao hiệu quả. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần làm rõ tác động của các phương thức sở hữu tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Việc làm rõ những ảnh hưởng của những hình thức sở hữu khác nhau tới hoạt động của ngân hàng sẽ cho phép các ngân hàng định hướng được nên huy động vốn từ đâu, phát hành cô phiều cho đối tượng nào. Đồng thời khuyến nghị Nhà nước cần có những thay đổi gì đối quy định về sở hữu trong các NHTM.
Trong những nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về mỗi quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hiệu quả hoạt động của các NHTM. Tuy trên thế giới cũng đã có những đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này xong chưa thể áp dụng trực tiếp vào Việt Nam. Do đó việc nghiên cứu về mặt cơ sở lý thuyết, kinh nghiệm từ các nước có đặc điểm tương đồng, cũng như những đánh giá về mối quan hệ này từ đó trình bày các kiến nghị về chính sách để tái cơ cấu lại hệ thống NHTM là cần thiết. Vì vậy, đề tài “Tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quá hoạt động của các NHTM ở Việt Nam” được nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu Dựa trên các lý thuyết nghiên cứu về sự ảnh hưởng giữa cấu trúc sở hữu với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại, trên cơ sở lựa chọn một phương thức đo lường hiệu quả hoạt động phù hợp vừa cho phép so sánh tính hiệu quả giữa các ngân hàng trong hệ thống vừa cho phép luận giải những cơ chế tác động của sở hữu tới độ đo hiệu quả này. Xây dựng và lựa chọn mô hình thích hợp đánh giá những tác động của các hình thức sở hữu Nhà nước, sở hữu nước ngoài và sở hữu tập trung tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. So sánh và lý giải những khác biệt giữa lý thuyết với kết quả mô hình và thực tế. Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động cũng như câu trúc sở hữu hiện tại của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, trên cơ sở kết quả kiêm định của mô hình đề đề xuất các giải pháp cũng như kiến nghị về cấu trúc sở hữu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Đề làm rõ mục tiêu nghiên cứu, luận án cần trả lời được nhưng câu hỏi sau: > Cấu trúc sở hữu tập trung, sở hữu nước ngoài và sở hữu Nhà nước có tác động thế nào tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam? >_ Có tôn tại mối quan hệ phi tuyến giữa cấu trúc sở hữu với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam không? 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu chính của luận án: s Đối tượng nghiên cứu đề tài đặt ra là mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu với hiệu quả hoạt động của các NHTM, tuy nhiên đây là một phạm trù rất đa dạng với nhiều cách tiếp cận, nhiều phương pháp đo lường khác nhau. Trong đó, nghiên cứu lựa chọn đo lường hiệu quả hoạt động thông qua việc tính toán hiệu quả kỹ thuật của ngân hàng dựa trên mô hình phân tích hiệu quả biên với cách tiếp cận tham số. e Phạm vi nghiên cứu: Hiện nay trong hệ thống NHTM của Việt Nam 4 NHTM có Nhà nước sở hữu cổ phần chỉ phối, 31 NHTMCP, hơn 60 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và chi nhánh văn phòng hoặc đại diện nước ngoài ở Việt Nam, và 2 ngân hàng liên doanh.
Tuy nhiên mẫu nghiên cứu đề tài sử dụng dữ liệu tài chính giai đoạn 2011- 2018 của 24 ngân hàng thương mại thuộc hệ thống ngân hàng Việt Nam. Trong đó có 4 NHTM Nhà nước và 20 NHTM cé phan. Nghiên cứu lựa chọn giai đoạn 2011-2018 là bởi đây là giai đoạn nền kinh tế đang phục hồi tích cực sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2010. Tỷ lệ nợ xấu đang rất cao, tạo ra những hệ quả xấu cho cả hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.
Đòi hỏi các ngân hàng cần có sự cải tổ sâu rộng trong hoạt động quản lý. Đây cũng là thời điểm cho thấy hiểu quả hoạt động của ngân hàng thực sự có cải thiện hay không. Việc đánh giá và xem xét hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thời điểm này sẽ phản ánh chính xác nhất những gì ngân hàng đạt được và chưa đạt được.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Tác động cấu trúc sở hữu tới hiệu quả ngân hàng Việt Nam (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/kinh-te/tai-chinh-ngan-hang/tac-dong-cau-truc-so-huu-hieu-qua-ngan-hang-viet-nam
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Tác động cấu trúc sở hữu tới hiệu quả ngân hàng Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?
Phân tích ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Luận án "Tác động cấu trúc sở hữu tới hiệu quả ngân hàng Việt Nam" có bao nhiêu trang?
Luận án "Tác động cấu trúc sở hữu tới hiệu quả ngân hàng Việt Nam" có 176 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Tác động cấu trúc sở hữu tới hiệu quả ngân hàng Việt Nam" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.