Luận án nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả cải thiện chất lượng nước ô nhiễm làng nghề tỉnh Bắc Ninh
Tìm hiểu mức sẵn lòng chi trả cải thiện chất lượng nước làng nghề Bắc Ninh qua nghiên cứu thực nghiệm.
Luan An
Số trang
173
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Thực trạng chất lượng nước làng nghề Bắc Ninh hiện nay
- Số trang:
- 173 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Thực trạng chất lượng nước làng nghề Bắc Ninh hiện nay
Bắc Ninh là một trong những trung tâm phát triển làng nghề lớn của miền Bắc. Tỉnh tập trung nhiều làng nghề truyền thống và cụm công nghiệp nông thôn. Hoạt động sản xuất mang lại nguồn thu nhập lớn cho địa phương. Tuy nhiên, sự phát triển này tạo áp lực nặng nề lên tài nguyên nước. Chất lượng nước mặt và nước ngầm đang suy giảm nhanh chóng. Nhiều khu vực ghi nhận chỉ số ô nhiễm vượt ngưỡng an toàn nhiều lần. Nước thải từ quá trình sản xuất xả thẳng ra hệ thống kênh rạch tự nhiên. Tình trạng xả thải không qua xử lý diễn ra phổ biến. Các nguồn tiếp nhận nước mặt trở nên đen đặc và bốc mùi khó chịu. Vấn đề ô nhiễm nước làng nghề Bắc Ninh đang ở mức báo động đỏ. Nhu cầu kiểm soát và phục hồi nguồn nước trở nên vô cùng cấp thiết.
1.1. Quy mô và phân bố các làng nghề tại tỉnh Bắc Ninh
Toàn tỉnh Bắc Ninh có 62 làng nghề đang hoạt động. Trong số đó có 31 làng nghề truyền thống lâu đời. Các làng nghề được chia thành nhiều nhóm ngành sản xuất đặc thù. Nhóm tiêu biểu gồm sản xuất sắt thép, giấy, đồ gỗ và gốm sứ. Nhóm chế biến nông sản và mây tre đan cũng phát triển mạnh. Hoạt động sản xuất tạo việc làm cho hàng vạn lao động nông thôn. Đời sống kinh tế của các hộ gia đình được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, mật độ cơ sở sản xuất trong khu dân cư rất cao. Quy hoạch làng nghề còn manh mún và thiếu đồng bộ hạ tầng. Mặt bằng sản xuất chật hẹp gây khó khăn cho việc xử lý chất thải. Lượng chất thải công nghiệp tăng nhanh theo quy mô sản xuất.
1.2. Mức độ ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm cục bộ
Nguồn nước tại các điểm nóng như Phong Khê, Phú Lâm, Từ Sơn bị suy thoái nặng. Kết quả quan trắc cho thấy hàm lượng hóa chất và kim loại nặng vượt chuẩn. Nhiều mẫu nước thải có nồng độ chất ô nhiễm gấp hàng chục lần mức cho phép. Tại làng giấy Phong Khê, nước thải chứa nhiều hóa chất tẩy trắng và xơ sợi. Nước thải từ làng nghề sắt thép Đa Hội chứa nhiều axit và kim loại nặng. Nguồn nước ngầm tầng nông cũng bị thẩm thấu các chất độc hại. Nước giếng khoan của các hộ dân lân cận không còn an toàn để sinh hoạt. Nguồn nước mặt trên các kênh mương tưới tiêu biến thành dòng nước tù đọng. Hệ sinh thái thủy sinh tại các khu vực này hầu như bị hủy diệt hoàn toàn.
II. Ô nhiễm nước làng nghề Bắc Ninh tác động đến sức khỏe
Tình trạng ô nhiễm môi trường nước ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân. Môi trường sống bị suy thoái gây ra nhiều nguy cơ bệnh tật nghiêm trọng. Người dân địa phương phải tiếp xúc hàng ngày với nguồn nước ô nhiễm. Nước sinh hoạt và không khí xung quanh đều chứa độc chất độc hại. Tỷ lệ mắc các bệnh đường hô hấp, tiêu hóa và da liễu tăng cao. Sức khỏe suy giảm làm giảm năng suất lao động của cộng đồng. Chi phí y tế phát sinh tạo gánh nặng lớn cho các hộ gia đình. Tác động tiêu cực của ô nhiễm nước đe dọa sự phát triển bền vững. Bảo vệ sức khỏe cộng đồng đòi hỏi các biện pháp can thiệp khẩn cấp. Cải thiện chất lượng môi trường là mục tiêu ưu tiên hàng đầu.
2.1. Gia tăng tỷ lệ mắc bệnh tại các vùng sản xuất nghề
Thống kê y tế cho thấy tỷ lệ bệnh tật tại làng nghề cao bất thường. Người dân làng nghề mắc bệnh nhiều gấp 1,5 đến 3 lần vùng thuần nông. Tám nhóm bệnh phổ biến gồm bệnh ngoài da, đau mắt và viêm đường hô hấp. Bệnh về đường tiêu hóa xuất hiện thường xuyên do dùng nguồn nước nhiễm bẩn. Người lao động trực tiếp trong xưởng sản xuất có nguy cơ nhiễm độc cao. Hơn 95% lao động tiếp xúc thường xuyên với bụi và hơi hóa chất. Phụ nữ và trẻ em sinh sống gần khu sản xuất chịu ảnh hưởng nặng nề. Nguy cơ mắc các bệnh mạn tính và ung thư có xu hướng gia tăng. Môi trường độc hại làm giảm đáng kể tuổi thọ trung bình của cư dân.
2.2. Gánh nặng kinh tế và chi phí y tế của người dân
Thiệt hại kinh tế do ô nhiễm nước và môi trường là rất lớn. Chi phí khám chữa bệnh trung bình tại một làng nghề lên tới 303 triệu đồng mỗi năm. Con số này cao gấp hơn 3 lần so với làng thuần nông (93 triệu đồng). Tính chung trên toàn tỉnh Bắc Ninh, chi phí y tế làng nghề ước tính khoảng 19 tỷ đồng mỗi năm. Khoản tiền này bào mòn phần lớn lợi nhuận thu được từ sản xuất. Thu nhập tăng thêm từ nghề không đủ bù đắp tổn thất sức khỏe. Nhiều gia đình rơi vào cảnh khó khăn do người thân mắc bệnh hiểm nghèo. Gánh nặng chi phí y tế đặt ra yêu cầu cấp thiết về tài chính môi trường.
III. Chính sách cải thiện chất lượng nước làng nghề Bắc Ninh
Chính quyền tỉnh Bắc Ninh đã ban hành nhiều chính sách kiểm soát môi trường. Các văn bản quy phạm pháp luật tập trung vào xử lý nước thải làng nghề. Mục tiêu trọng tâm là giảm thiểu lượng xả thải trực tiếp ra tự nhiên. Tỉnh áp dụng kết hợp giữa giải pháp kỹ thuật và công cụ kinh tế. Các cơ sở sản xuất bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Các quy chế quản lý yêu cầu cơ sở đóng góp kinh phí xử lý nước. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi chính sách trên thực tế vẫn còn hạn chế. Nhiều quy định chưa được áp dụng nghiêm túc tại cấp cơ sở. Tình trạng vi phạm quy chuẩn xả thải vẫn diễn ra thường xuyên.
3.1. Các quy định pháp lý và công cụ kinh tế môi trường
Quyết định số 404/QĐ-UBND triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Quy định này nhằm tạo nguồn thu và điều tiết hành vi xả thải. Tiếp đó, Quyết định số 47/2016/QĐ-UBND đưa ra nguyên tắc đầu tư xử lý ô nhiễm. Văn bản phân định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp mới và làng nghề truyền thống. Các cơ sở phải nộp phí môi trường dựa trên lượng nước xả ra. Công cụ kinh tế giúp nâng cao nhận thức trách nhiệm của chủ xưởng. Tuy nhiên, mức thu phí hiện hành còn thấp so với chi phí xử lý thực tế. Chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe các hành vi cố tình vi phạm. Việc thu phí bảo vệ môi trường gặp nhiều trở ngại trong khâu giám sát.
3.2. Hạn chế trong vận hành nhà máy xử lý nước tập trung
Hạ tầng xử lý nước thải tập trung tại các làng nghề còn thiếu thốn. Một số trạm xử lý nước thải được xây dựng nhưng hoạt động kém hiệu quả. Công suất thiết kế của các nhà máy không đáp ứng kịp lượng thải tăng nhanh. Chi phí vận hành và bảo dưỡng hệ thống xử lý nước rất tốn kém. Nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách địa phương còn hạn hẹp. Việc đóng góp kinh phí vận hành từ các hộ sản xuất gặp nhiều phản ứng. Hầu hết các hộ gia đình vẫn chọn xả thải trực tiếp để tiết kiệm chi phí. Mạng lưới thu gom nước thải chưa bao phủ toàn bộ khu vực sản xuất. Sự phối hợp giữa chính quyền và người dân trong quản lý trạm xử lý còn lỏng lẻo.
IV. Mức sẵn lòng chi trả cải thiện chất lượng nước Bắc Ninh
Đánh giá mức sẵn lòng chi trả (WTP) là giải pháp kinh tế then chốt. Phương pháp này xác định khả năng đóng góp tài chính của cộng đồng làng nghề. Nguồn thu từ đóng góp xã hội hóa sẽ bổ sung ngân sách bảo vệ môi trường. Người dân sẵn sàng chi trả khi nhận thấy lợi ích rõ ràng về sức khỏe. Việc cải thiện chất lượng nước giúp giảm chi phí khám chữa bệnh lâu dài. Sự đồng thuận của các hộ sản xuất đóng vai trò quyết định thành công. Chính sách cần xây dựng mức phí phù hợp với mức thu nhập thực tế. Khảo sát WTP cung cấp cơ sở khoa học để thiết kế mức thu phí hợp lý. Nâng cao mức sẵn lòng chi trả là chìa khóa giải quyết bài toán ô nhiễm nước.
4.1. Cơ sở xác định mức sẵn lòng chi trả của cộng đồng
Mức sẵn lòng chi trả phụ thuộc vào thu nhập và nhận thức môi trường. Các hộ sản xuất có doanh thu cao thường sẵn sàng đóng mức phí lớn hơn. Người dân hiểu rõ tác hại của nguồn nước bẩn sẽ đồng thuận chi trả cao hơn. Chi phí y tế hiện tại là căn cứ để tính toán mức đóng góp phù hợp. Người dân chấp nhận trả phí định kỳ nếu chất lượng nước được cam kết cải thiện. Các khảo sát thực nghiệm sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM). Kết quả điều tra phản ánh nhu cầu cấp bách về nguồn nước sạch sinh hoạt. Sự minh bạch trong quản lý tài chính giúp gia tăng tỷ lệ ủng hộ dự án. Mức chi trả kỳ vọng phải cân đối giữa lợi ích kinh tế và khả năng chi trả.
4.2. Giải pháp huy động tài chính cải thiện nguồn nước
Chính quyền cần đa dạng hóa các nguồn lực tài chính xử lý ô nhiễm nước. Mô hình hợp tác công tư (PPP) nên được áp dụng cho hạ tầng xử lý nước thải. Nguồn thu từ mức sẵn lòng chi trả của người dân là nguồn bổ sung quan trọng. Cần thiết lập quỹ bảo vệ môi trường làng nghề tại từng địa phương. Quỹ này hoạt động dựa trên sự đóng góp của các cơ sở sản xuất. Cơ chế tài chính phải gắn trách nhiệm của người gây ô nhiễm với chi phí khắc phục. Đồng thời, các cơ sở áp dụng công nghệ sạch cần được hỗ trợ vốn vay ưu đãi. Việc huy động vốn hiệu quả sẽ thúc đẩy xây dựng các trạm xử lý nước hiện đại.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (173 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộTÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Hiện nay, trong toàn quốc có khoảng 5.096 làng nghề và làng có nghề, trong đó số làng nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1. Các cơ sở sản xuất trong các làng nghề đã thu hút lực lượng lao động lớn ở nông thôn, tạo ra một lượng hàng hóa đáng kể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, cũng như xuất khẩu và góp phần quan trọng nâng cao thu nhập cho người dân ở khu vực nông thôn của Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển của các làng nghề kéo theo những hệ lụy về môi trường nghiêm trọng. Hầu hết các thông số môi trường như: tiếng ồn, ánh sáng, nhiệt độ, áp suất… tại các cơ sở sản xuất của các làng nghề đều vượt ngưỡng cho phép.
Tại các làng nghề có tới 95% lao động tiếp xúc với bụi, 85,9% tiếp xúc với nhiệt và 59,6% tiếp xúc với các hóa chất (INEST, 2002). Báo cáo 17/BC-UBND của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bắc Ninh, ngày 09 tháng 04 năm 2015, cho thấy tính đến cuối tháng 4 năm 2015, toàn tỉnh Bắc Ninh có 62 làng nghề; trong đó có 31 làng nghề truyền thống và được phân theo các nhóm như sau: nhóm chế biến bảo quản nông sản, nhóm sản xuất đồ gỗ, nhóm sản xuất mây tre đan, nhóm sản xuất thép, nhóm đúc đồng nhôm, nhóm sản xuất đồ gốm, nhóm thêu dệt, nhóm sản xuất giấy, nhóm xây dựng và ngành nghề khác (UBND Bắc Ninh, 2015a). Mặc dù làng nghề đem lại thu nhập tương đối cao cho người dân trong và xung quanh khu vực, nhưng hiện tượng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề đang rất nghiêm trọng. Kết quả phân tích chất lượng nước, không khí của Trung tâm quan trắc môi trường cho thấy mức ô nhiễm đangvượt quy chuẩn cho phép nhiều lần.
Tại các làng nghề sản xuất sắt thép, giấy: nồng độ bụi, khí độc cao hơn mức cho phép đối với khu dân cư; nhiệt độ ở các xưởng cao hơn nhiệt độ trung bình hàng ngày từ 8-100C. Chất lượng nước ở các làng nghề Từ Sơn, Phong Khê, Khắc Niệm, Phú Lâm bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng. Các mẫu nước mặt, nước thải, nước ngầm đều có dấu hiệu bị ô nhiễm với mức độ cao, có những mẫu vượt quy chuẩn cho phép hàng chục lần(Hoàng An, 2014). Tại làng nghề sản xuất giấy Dương Ổ (Phong Khê – Bắc Ninh): nồng độ CO cao hơn 5mg/l so với Tiêu chuẩn cho phép (TCCP) (28 – 36 mg/l), bụi ở khu vực dân cư sống trong làng nghề có nồng độ cao hơn Tiêu chuẩn 1 cho phép (TCCP) từ 1,3 đến 3 lần, CO tại khu vực sản xuất cao gấp 2 lần TCCP, tiếng ồn cao hơn TCCP từ 3 – 10 dbA.
Tại làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội: ô nhiễm không khí xung quanh khu vực hộ gia đình sản xuất cao lớn hơn TCCP 12 lần, tiếng ồn lớn hơn 28 lần TCCP, bụi hơn 6 lần, nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ không khí từ 4 - 50C. Làng nghề tái chế nhựa Minh Khai: nồng độ bụi lớn hơn TCCP 3 - 6 lần, nồng độ HCl cao hơn TCCP 1,6 lần (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009). Ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí đã, đang là rất nghiêm trọng tại các làng nghề của tỉnh Bắc Ninh và gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của người dân. Tỉ lệ số người mắc 8 loại bệnh thông thường của người dân sống ở khu vực làng nghề cao hơn từ 1,5 tới 3 lần so với người dân sống ở khu vực thuần nông.
Ước tính chi phí sức khỏe của người dân sống trong khu vực làng nghề là 303 triệu đồng/làng nghề/năm so với chỉ 93 triệu đồng/làng thuần nông/năm. Nếu Bắc Ninh có 62 làng nghề như vậy hàng năm riêng người dân sống trong các làng nghề này phải bỏ ra khoảng 19 tỷ đồng để khám và chữa bệnh so với 6 tỷ (gấp 3 lần) của những người dân sống ở khu vực không có làng nghề (Lê Thị Phương Dung và Lê Thị Thanh Thúy, 2015). Những giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại các làng nghề từ trước tới nay thường tập trung chủ yếu vào các giải pháp về kỹ thuật. Có một số quy định, luật của Nhà nước về quản lý môi trường có sử dụng các công cụ kinh tế nhằm điều tiết các cơ sở sản xuất giảm thiểu lượng nước thải.
Quyết định số 404/QĐ-UBND tỉnh Bắc Ninh về việc triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp được ban hành năm 2013; gần đây UBND tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định số 47/2016/QĐ-UBND Về quan điểm và nguyên tắc đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường nông thôn và ô nhiễm môi trường làng nghề trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2016 – 2020 quy định cụ thể đối với các doanh nghiệp đầu tư mới,đối với làng nghề đã tồn tại từ lâu đời, đối với nước thải phát sinh tại các cơ sở, đối với công trình xử lý nước thải tập trung. Tuy nhiên cho đến nay, quy định này vẫn chưa phát huy được tại các làng nghề để giảm thiểu ô nhiễm. Mặc dù quy chế bảo vệ môi trường (BVMT) làng nghề, khu dân cư, cụm công nghiệp tỉnh Bắc Ninhđã quy định rõ: “các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất, các cơ sở kinh doanh, các tổ chức dịch vụ trong làng nghề có trách nhiệm xử lý chất thải, đảm bảo tiêu chuẩn thải và đóng góp kinh phí xây dựng kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường” (Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh, 2016). Tuy nhiên, hầu hết các 2 hộ sản xuất nghề vẫn xả trực tiếp nước thải sản xuất ra môi trường tự nhiên khiến ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng.
Các dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung tại các làng nghề còn ít được chú trọng và rất ít được triển khai hoặc triển khai không hiệu quả. Bên cạnh nhà máy xử lý nước thải Phong Khê do Nhà nước đầu tư bắt đầu đi vào hoạt động, có nhiều công trình xử lý nước thải tại làng nghề Khắc Niệm, Đại Bái bị bỏ hoang vì không có vốn để duy trì hoạt động thường xuyên. Việc trông chờ vào nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước, hoặc từ các tổ chức nước ngoài để xây dựng và duy trì hoạt động của các nhà máy xử lý nước thải đã tồn tại nhiều năm nay và hiện tượngtrì hoãn đó dẫn tới chất lượng môi trường nước nước, không khí, tiếng ồn ngày càng trở nên nghiêm trọng. Các dự án khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường làng nghề tại làng nghề tái chế nhôm Mẫn Xá, làng nghề đúc đồng Đại Bái, làng nghề bún Khắc Niệm vẫn đang bỏ ngỏ và chờ vốn để thực hiện.
Mặc dù chính quyền các cấp cùng với các cơ quan chức năng liên quan đã có nhiều chính sách, hướng dẫn, các biện pháp nhằm cải thiện chất lượng môi trường nói chung và chất lượng môi trường nước của khu vực làng nghề của Bắc Ninh; nhưng đến nay các chính sách và biện pháp được thực thi chưa hiệu quả, thực tế thể hiện chất lượng môi trường nước vẫn ô nhiễm nghiêm trọng, mức ô nhiễm cao gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép (Trung tâm Quan trắc Môi trường Bắc Ninh, 2016). Bên cạnh đó, hầu hết các nhà máy xử lý chất thải sau quá trình sản xuất, đặc biệt là chất thải nước ở Bắc Ninh lại đang hoạt động cầm chừng, hoặc không thể hoạt động do kỹ thuật lạc hậu, do thiếu kinh phí duy trì hoạt động hiệu quả. Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết được nêu trên những câu hỏi cần được nghiên cứu và trả lời như sau: thứ nhất, những vấn đề lý luận, thực tiễn về thay đổi phúc lợi, sẵn lòng trả của người dân nhằm cải thiện môi trường là gì? Thứ hai, nhận thức của người dân về ô nhiễm môi trường và quan điểm của người dân như thế nào về vấn đề cải thiện chất lượng môi trường nước của khu vực? Thứ ba, mức sẵn lòng trả của người dân của khu vực nghiên cứu là như thế nào? Trong đó, mức trung bình, tổng lượng tiền thực tế và tiềm năng có thể thu được là bao nhiêu có người dân có thể đóng góp nhằm cải thiện chất lượng nước? Thứ tư, các yếu tố gì ảnh hưởng đến sẵn lòng chi trả của người dân nhằm cải thiện môi trường nước của người dân Bắc Ninh? Thứ năm, các giải pháp và biện pháp cụ thể nào nhằm nâng cao ý thức người dân, thu hút người dân đóng góp 3 cùng ngân sách địa phương, ngân sách nhà nước nhằm cải thiện môi trường nước? Nghiên cứu được tiến hành thực hiện để trả lời thoả đáng những câu hỏi đặt ra trên đây, sau đây là các mục tiêu nghiên cứu của luận án. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của người dân tỉnh Bắc Ninh nhằm cải thiện môi trường nước tại các làng nghề; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức và huy động người dân đóng góp tài chính nhằm cải thiện môi trường nước của các làng nghề tỉnh Bắc Ninh thời gian tới. Mục tiêu cụ thể - Góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn vềsẵn lòng chi trả của người dân nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước bị ô nhiễm ở các làng nghề; - Đánh giá thực trạng nhận thức và quan điểm của người dân về tính nguy hại và vai trò của việc cải thiện chất lượng môi trường nước ở các làng nghề tỉnh Bắc Ninh; - Ước tính và phân tích mức sẵn lòng chi trả của người dân tại các làng nghề tỉnh Bắc Ninh nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước; - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả của người dân nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước ở các làng nghề của tỉnh Bắc Ninh; - Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức của người dân và thu hút người dân đóng góp tài chính nhằm cải thiện môi trường nước của các làng nghề ở Bắc Ninh. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn về sự thay đổi phúc lợi khi môi trường thay đổi, sẵn lòng chi trả và thực trạng mức sẵn lòng chi trả của người dân trong khu vực các làng nghề tỉnh Bắc Ninh để cải thiện chất lượng môi trường nước.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Mức sẵn lòng chi trả cải thiện chất lượng nước làng nghề Bắc Ninh (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/kinh-te/tai-chinh-ngan-hang/luan-an-nghien-cuu-muc-san-long-chi-tra-cua-nguoi-dan-nham-cai-thien-chat-luong
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Mức sẵn lòng chi trả cải thiện chất lượng nước làng nghề Bắc Ninh" nghiên cứu về vấn đề gì?
Tìm hiểu mức sẵn lòng chi trả cải thiện chất lượng nước làng nghề Bắc Ninh qua nghiên cứu thực nghiệm.
Luận án "Mức sẵn lòng chi trả cải thiện chất lượng nước làng nghề Bắc Ninh" có bao nhiêu trang?
Luận án "Mức sẵn lòng chi trả cải thiện chất lượng nước làng nghề Bắc Ninh" có 173 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Mức sẵn lòng chi trả cải thiện chất lượng nước làng nghề Bắc Ninh" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.