Luận án: Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Luận án phân tích khả năng sinh lời ngân hàng thương mại Việt Nam trong khủng hoảng kinh tế. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính.
Luan An
Luận án
Số trang
167
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Vai trò ngân hàng thương mại Việt Nam: Khủng hoảng
- Số trang:
- 167 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I.Vai trò ngân hàng thương mại Việt Nam Khủng hoảng
Hệ thống ngân hàng thương mại rất quan trọng. Nó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường. Tại Việt Nam, ngân hàng là kênh dẫn vốn chính. Vai trò này quyết định sự phát triển kinh tế, thị trường tài chính. Ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng mạnh bởi chu kỳ kinh tế. Các giai đoạn khủng hoảng kinh tế, suy thoái, phục hồi là quy luật thị trường. Kinh tế thế giới có dấu hiệu khủng hoảng từ 2007. Khủng hoảng bắt nguồn từ thị trường bất động sản Mỹ. Vấn đề là cho vay dưới chuẩn. Đây là giai đoạn tiêu cực của chu kỳ kinh tế. Nó ảnh hưởng sâu rộng đến doanh nghiệp, thị trường tài chính, ngân hàng. Cuộc khủng hoảng lan ra toàn cầu. Đáy khủng hoảng vào năm 2009. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới giảm mạnh năm 2009. IMF ghi nhận -0.1%. WB ghi nhận -1.67%. Nhiều nền kinh tế phát triển tăng trưởng âm. Sản lượng sản xuất suy giảm. Thất nghiệp gia tăng. Hoạt động kinh tế đình đốn. Cuộc khủng hoảng nhanh chóng lan ra các nước. Nó ảnh hưởng tới toàn cầu.
1.1. Tầm quan trọng hệ thống ngân hàng tài chính
Hệ thống ngân hàng thương mại rất quan trọng. Nó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường. Tại Việt Nam, ngân hàng là kênh dẫn vốn chính. Vai trò này quyết định sự phát triển kinh tế, thị trường tài chính. Ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng mạnh bởi chu kỳ kinh tế.
1.2. Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007
Kinh tế thế giới có dấu hiệu khủng hoảng từ 2007. Khủng hoảng bắt nguồn từ thị trường bất động sản Mỹ. Vấn đề là cho vay dưới chuẩn. Đây là giai đoạn tiêu cực của chu kỳ kinh tế. Nó ảnh hưởng sâu rộng đến doanh nghiệp, thị trường tài chính, ngân hàng. Cuộc khủng hoảng lan ra toàn cầu. Đáy khủng hoảng vào năm 2009.
1.3. Kinh tế thế giới bước vào suy thoái sâu
Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới giảm mạnh năm 2009. IMF ghi nhận -0.1%. WB ghi nhận -1.67%. Nhiều nền kinh tế phát triển tăng trưởng âm. Sản lượng sản xuất suy giảm. Thất nghiệp gia tăng. Hoạt động kinh tế đình đốn. Cuộc khủng hoảng nhanh chóng lan ra các nước. Nó ảnh hưởng tới toàn cầu.
II.Khủng hoảng tài chính toàn cầu Ảnh hưởng sâu rộng
Năm 2009 là đáy của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sau đó, kinh tế thế giới dần phục hồi. Tốc độ tăng trưởng dương trở lại vào năm 2010. IMF báo cáo tăng trưởng 5.4%. Mức tăng này tương đương năm 2006. Điều này cho thấy giai đoạn phục hồi đã bắt đầu. Đây là một phần của chu kỳ kinh tế. Các nền kinh tế đều có tăng trưởng ấn tượng. Khủng hoảng kinh tế gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Nó lan rộng khắp thế giới. Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường năm 1986. Nền kinh tế hội nhập sâu rộng với thế giới. Kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nhanh. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cao. Đến năm 2007, khủng hoảng thế giới xảy ra. Năm 2009, các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật, EU ghi nhận tăng trưởng kinh tế âm. Điều này do suy giảm sản xuất. Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Hoạt động kinh tế đình trệ. Tình hình này kéo dài, ảnh hưởng sâu rộng. Các chính sách ứng phó được đưa ra. Tuy nhiên, tác động tiêu cực vẫn rất lớn.
2.1. Đáy khủng hoảng và phục hồi kinh tế
Năm 2009 là đáy của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sau đó, kinh tế thế giới dần phục hồi. Tốc độ tăng trưởng dương trở lại vào năm 2010. IMF báo cáo tăng trưởng 5.4%. Mức tăng này tương đương năm 2006. Điều này cho thấy giai đoạn phục hồi đã bắt đầu. Đây là một phần của chu kỳ kinh tế. Các nền kinh tế đều có tăng trưởng ấn tượng.
2.2. Hậu quả nghiêm trọng và sự lan rộng
Khủng hoảng kinh tế gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Nó lan rộng khắp thế giới. Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường năm 1986. Nền kinh tế hội nhập sâu rộng với thế giới. Kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nhanh. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cao. Đến năm 2007, khủng hoảng thế giới xảy ra.
2.3. Dấu hiệu suy thoái tại các nước phát triển
Năm 2009, các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật, EU ghi nhận tăng trưởng kinh tế âm. Điều này do suy giảm sản xuất. Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Hoạt động kinh tế đình trệ. Tình hình này kéo dài, ảnh hưởng sâu rộng. Các chính sách ứng phó được đưa ra. Tuy nhiên, tác động tiêu cực vẫn rất lớn.
III.Kinh tế Việt Nam ứng phó Biến động lạm phát
Tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 2000-2007 đạt 7.6%. Từ năm 2008, tốc độ bắt đầu giảm. Đạt 5.7% năm 2008, chạm đáy 5.4% năm 2009. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng giảm. Từ 11.5 tỷ USD năm 2008 xuống 10 tỷ USD năm 2009. Nền kinh tế đối mặt nhiều khó khăn. Cán cân thương mại thâm hụt nghiêm trọng. Đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới. Năm 2008, thâm hụt 18 tỷ USD. Năm 2009 là 12.9 tỷ USD. Năm 2010 giảm còn 12.6 tỷ USD. Thâm hụt cao gây rủi ro an ninh tài chính quốc gia. Điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa gặp khó. Lạm phát biến động thất thường. Lạm phát năm 2007 là 8.3%. Năm 2008 tăng lên 22.97%. Năm 2009 giảm còn 6.88%. Năm 2010 tăng lại 9.19%. Năm 2011 tăng mạnh 18.58%. Sau đó giảm dần. Lạm phát tăng cao năm 2011 do gói kích thích kinh tế. Chính phủ Việt Nam đưa ra gói này năm 2009. Mục đích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, triển khai không hiệu quả. Không đạt được mục tiêu. Tín dụng tăng trưởng nóng, tạo ra rủi ro tín dụng. Hình thành bong bóng giá tài sản. Doanh nghiệp hoạt động khó khăn. Điều này làm lạm phát tăng cao năm 2010, đạt đỉnh năm 2011. Việt Nam vượt khủng hoảng sau năm 2011. Khi tác dụng phụ của gói kích thích giảm bớt.
3.1. Tăng trưởng GDP và đầu tư trực tiếp giảm sút
Tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 2000-2007 đạt 7.6%. Từ năm 2008, tốc độ bắt đầu giảm. Đạt 5.7% năm 2008, chạm đáy 5.4% năm 2009. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng giảm. Từ 11.5 tỷ USD năm 2008 xuống 10 tỷ USD năm 2009. Nền kinh tế đối mặt nhiều khó khăn.
3.2. Cán cân thương mại thâm hụt lạm phát bất ổn
Cán cân thương mại thâm hụt nghiêm trọng. Đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới. Năm 2008, thâm hụt 18 tỷ USD. Năm 2009 là 12.9 tỷ USD. Năm 2010 giảm còn 12.6 tỷ USD. Thâm hụt cao gây rủi ro an ninh tài chính quốc gia. Điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa gặp khó. Lạm phát biến động thất thường. Lạm phát năm 2007 là 8.3%. Năm 2008 tăng lên 22.97%. Năm 2009 giảm còn 6.88%. Năm 2010 tăng lại 9.19%. Năm 2011 tăng mạnh 18.58%. Sau đó giảm dần.
3.3. Gói kích thích kinh tế và hệ lụy lạm phát
Lạm phát tăng cao năm 2011 do gói kích thích kinh tế. Chính phủ Việt Nam đưa ra gói này năm 2009. Mục đích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, triển khai không hiệu quả. Không đạt được mục tiêu. Tín dụng tăng trưởng nóng, tạo ra rủi ro tín dụng. Hình thành bong bóng giá tài sản. Doanh nghiệp hoạt động khó khăn. Điều này làm lạm phát tăng cao năm 2010, đạt đỉnh năm 2011. Việt Nam vượt khủng hoảng sau năm 2011. Khi tác dụng phụ của gói kích thích giảm bớt.
IV.Thách thức sinh lời ngân hàng Việt Nam hậu khủng hoảng
Lĩnh vực ngân hàng Việt Nam cải cách. Hệ thống ngân hàng hai cấp ra đời năm 1988. Điều này tạo sự phát triển vượt bậc. Cả về số lượng và chất lượng. Nhiều ngân hàng thương mại tư nhân thành lập, phát triển. Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế. Góp phần thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ. Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng. Chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường. Trong giai đoạn khủng hoảng, tăng trưởng tín dụng nóng gây rủi ro. Các doanh nghiệp gặp khó khăn tài chính. Điều này có thể đẩy tỷ lệ nợ xấu NPL tăng cao. Khả năng sinh lời của ngân hàng bị ảnh hưởng. Ngân hàng phải đối mặt với áp lực xử lý nợ. Các chỉ số như tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE có thể suy giảm. Điều này ảnh hưởng đến biên lãi thuần NIM. Đối mặt với biến động kinh tế. Ngân hàng cần quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả. Cần tăng cường hệ số an toàn vốn CAR. Điều này đảm bảo ổn định hệ thống. Tỷ lệ chi phí trên thu nhập CIR cũng là mối quan tâm. Ngân hàng phải tối ưu hóa chi phí. Các thách thức này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lời. Việc phân tích ROA, ROE, NIM là cần thiết. Đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế.
4.1. Hệ thống ngân hàng phát triển vượt bậc
Lĩnh vực ngân hàng Việt Nam cải cách. Hệ thống ngân hàng hai cấp ra đời năm 1988. Điều này tạo sự phát triển vượt bậc. Cả về số lượng và chất lượng. Nhiều ngân hàng thương mại tư nhân thành lập, phát triển. Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế. Góp phần thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ. Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng. Chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường.
4.2. Rủi ro tín dụng tỷ lệ nợ xấu NPL gia tăng
Trong giai đoạn khủng hoảng, tăng trưởng tín dụng nóng gây rủi ro. Các doanh nghiệp gặp khó khăn tài chính. Điều này có thể đẩy tỷ lệ nợ xấu NPL tăng cao. Khả năng sinh lời của ngân hàng bị ảnh hưởng. Ngân hàng phải đối mặt với áp lực xử lý nợ. Các chỉ số như tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE có thể suy giảm. Điều này ảnh hưởng đến biên lãi thuần NIM.
4.3. Yêu cầu quản lý rủi ro hệ số an toàn vốn CAR
Đối mặt với biến động kinh tế. Ngân hàng cần quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả. Cần tăng cường hệ số an toàn vốn CAR. Điều này đảm bảo ổn định hệ thống. Tỷ lệ chi phí trên thu nhập CIR cũng là mối quan tâm. Ngân hàng phải tối ưu hóa chi phí. Các thách thức này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lời. Việc phân tích ROA, ROE, NIM là cần thiết. Đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (167 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1 Bối cảnh nghiên cứu trên thế giới và trong nước Hệ thống ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính và nền kinh tế của mỗi quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường. Đặc biệt, tại Việt Nam, thị trường chứng khoán chưa đáp ứng được là kênh dẫn vốn trung dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế thì vai trò của NHTM càng nổi bật, quyết định tới sự phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng cũng bị tác động mạnh bởi các chu kỳ kinh tế bao gồm các giai đoạn khủng hoảng, suy thoái, phục hồi, tăng trưởng công nghiệp (Marx), vốn là một quy luật quan trọng của nền kinh tế thị trường. Trong năm 2007, kinh tế thế giới đã bắt đầu xuất hiện dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện, xuất phát từ thị trường bất động sản và cho vay dưới chuẩn tại Mỹ.
Khủng hoảng kinh tế là là một giai đoạn của chu kỳ kinh tế (Gordon, 1994) có tác động tiêu cực một cách sâu rộng đến các doanh nghiệp, thị trường tài chính, thị trường ngân hàng… Cuộc khủng hoảng từ Mỹ sau đó lan ra toàn thế giới với đáy của cuộc khủng hoảng là năm 2009 khi tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới là -0,1% (IMF, 2009) hay - 1,67% (WB, 2009), hàng loạt các quốc gia có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật, EU có mức tăng trưởng kinh tế âm (IMF, 2009), làm cho sản lượng sản xuất suy giảm, thất nghiệp gia tăng, hoạt động kinh tế lâm vào tình trạng đình đốn, từ đó lan ra các nước khác và toàn cầu (Bùi Tất Thắng, 2009). Nền kinh tế thế giới có dấu hiệu bước sang giai đoạn phục hồi với tốc độ tăng trưởng kinh tế dương trở lại là 5,4% năm 2010 ( IMF, 2010), 4. Mức tăng này tương đương với mức tăng năm 2006 là 5,5 % (IMF, 2006), trước giai đoạn khủng hoảng. Điều này chứng tỏ kinh tế thế giới đã bước vào giai đoạn phục hồi, là một trong bốn giai đoạn của chu kỳ kinh tế.
Cũng trong năm 2010, các nền kinh tế trên thế giới đều có mức tăng trưởng ấn tượng: Các nền kinh tế phát triển 3,1%, các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi 7,4% (IMF, 2010). Khủng hoảng kinh tế gây ra nhiều hậu quả nghiệm trọng và lan ra khắp thế giới, trong đó có Việt Nam. Vốn là một quốc gia có nền kinh tế kế hoạch tập trung, năm 1986 Việt Nam quyết định 2 chuyển sang nền kinh tế thị trường, hội nhập ngày càng sâu rộng với kinh tế thế giới. Kinh tế Việt Nam đã phát triển mạnh, kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng lên một cách nhanh chóng, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng cao cho đến khi xảy ra khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007.
Tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2007 đạt tốc độ bình quân 7,6% (WB, 2007). Từ năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bắt đầu giảm, chỉ đạt 5,7% và chạm đáy vào năm 2009 với tốc độ 5,4% (WB, 2009). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm từ 11,5 tỷ USD năm 2008 còn 10 tỷ USD năm 2009 (Tổng cục Thống kê, 2009). Cán cân thương mại thâm hụt nghiêm trọng, đặc biệt cao trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới.
Năm 2008, cán cân thương mại thâm hụt 18 tỷ USD, năm 2009 là 12,9 tỷ USD và năm 2010 giảm còn 12,6 tỷ USD (Tổng cục Hải quan, 2010). Mức thâm hụt cao như vậy gây rủi ro cho an ninh tài chính quốc gia (IMF, 2010), gây rất nhiều khó khăn trong việc điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Bên cạnh đó, trong giai đoạn khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát biến động thất thường, tăng giảm với biên độ lớn, phản ánh sự khó khăn của nền kinh tế. Tỷ lệ lạm phát năm 2007 là 8,3%, năm 2008 tăng mạnh lên 22,97%, năm 2009 giảm xuống còn 6,88%, năm 2010 tăng lên lại 9,19%, và tăng mạnh lên 18,58% vào năm 2011 (Tổng cục Thống kê, 2011) và giảm dần trong các năm sau đó.
Sở dĩ lạm phát tăng cao vào năm 2011 là do hiệu ứng của gói kích thích kinh tế mà Chính phủ Việt Nam đưa ra vào năm 2009 nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, việc triển khai gói kích thích không hiệu quả dẫn đến không đạt được các mục tiêu mà Chính phủ đưa ra, đồng thời làm tín dụng tăng trưởng nóng, hình thành bóng bóng giá cả tài sản, các doanh nghiệp hoạt động khó khăn, đã làm cho lạm phát tăng cao vào năm 2010 và đạt mức rất cao vào năm 2011. Bên cạnh đó, trong khi nền kinh tế các nước khác trên thế giới đã bước vào giai đoạn phục hồi thì kinh tế Việt Nam chỉ thực sự vượt qua khủng hoảng kinh tế sau năm 2011, khi tác dụng phụ của gói kích thích năm 2009 đã bớt ảnh hưởng. Trong lĩnh vực ngân hàng, sau cải cách lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực ngân hàng, hệ thống ngân hàng hai cấp ra đời năm 1988 đã tạo ra sự phát triển vượt bậc cả về số lượng lẫn chất lượng.
Nhiều ngân hàng thương mại tư nhân được thành lập và phát triển, đáp ứng nhu cầu về vốn cho các thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Hệ thống ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường một cách có hiệu quả. Sự chuyển đổi nền kinh tế cùng với việc tham gia các tổ chức quốc tế như IMF, WB, WTO… đã trở thành điều cốt lõi của sự thay đổi về kinh 3 tế và hoạt động ngân hàng ở Việt Nam. Tuy nhiên, sau giai đoạn phát triển, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động mạnh đến kinh tế Việt nam, đặc biệt là hệ thống ngân hàng.
Sự biến động của kinh tế vĩ mô có thể dẫn đến sự khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng (Nkusu, 2011). Sau giai đoạn tăng trưởng tín dụng nóng, các ngân hàng phải đối mặt với nợ xấu tăng cao, gặp rất nhiều khó khăn về thanh khoản dẫn đến lợi nhuận sụt giảm mạnh, thậm chí thua lỗ, không có khả năng hoạt động liên tục mà hậu quả cho đến tận ngày nay vẫn chưa thể giải quyết xong. Theo Reinhart và Rogoff (2010), nợ xấu tăng cao có thể dẫn đến khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng hoạt động vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, đẩy tăng trưởng tín dụng cao và chấp nhận rủi ro cao dẫn đến nợ xấu tăng cao (Caprio & cộng sự, 2003).
Kết quả là các ngân hàng có nợ xấu cao, khó khăn về thanh khoản phải sáp nhập vào ngân hàng khác hoặc được mua lại với giá 0 đồng. Đối với Việt Nam, nếu để cho 1 ngân hàng phá sản thì hậu quả để lại sẽ không thể lường trước được, tác động rất lớn đến toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây khủng hoảng niềm tin đối với toàn xã hội. Do vậy, giải pháp sáp nhập, mua lại giá 0 đồng đã giúp ổn định hệ thống ngân hàng, lấy lại niềm tin của xã hội, được đánh giá rất cao. Ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng đã cho thấy những điểm yếu của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế như bóng bóng giá tài sản, sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức, lệ thuộc quá nhiều vào tín dụng, đòi hỏi sự cải tổ mạnh mẽ về tư duy quản lý lẫn cơ cấu tổ chức (Amba & Almukharreq, 2013).
Điều quan trọng không phải là tốc độ tăng trưởng cao mà là sự ổn định, có thể thích nghi tốt với các biến động của kinh tế thế giới. Bản thân các NHTM cũng phải có sự kiểm soát chặt chẽ hơn, an toàn hơn, tập trung cấp tín dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh thay vì bất động sản, chứng khoán, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh. Ngân hàng nhà nước, với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng, cần định hướng cho các NHTM, giám sát chặt chẽ hoạt động của các NHTM. Sự khỏe mạnh, an toàn của hệ thống ngân hàng cần được đặt lên hàng đầu, thay vì tốc độ tăng trưởng, đòi hỏi sự thay đổi từ bản thân các ngân hàng lẫn cơ quan quản lý nhà nước.
Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm cung cấp thông tin, hàm ý chính sách cho lãnh đạo ngân hàng và các nhà hoạch định để xây dựng chiến lược phù hợp cho hệ thống NHTM và đạt được KNSL phù hợp trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế cũng như giai đoạn hậu khủng hoảng.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan và khoảng trống khoa học Các nghiên cứu trên thế giới về tác động của khủng hoảng kinh tế đến KNSL của các 4 NHTM hiện nay được thực hiện rải rác ở các khu vực trên thế giới, mỗi khu vực lại có những đặc điểm khác nhau. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, các nghiên cứu này đã phần nào làm sáng tỏ mối quan hệ giữa khủng hoảng tài chính (một khía cạnh của khủng hoảng kinh tế) đến KNSL của các NHTM. Ở khu vực châu Á, các nghiên cứu có thể kể đến như nghiên cứu của Sufian (2011) về KNSL của các NHTM Hàn Quốc từ năm 1992 đến năm 2003, là giai đoạn xảy ra khủng hoảng tài chính châu Á. Nghiên cứu cho thấy khủng hoảng tài chính tác động tiêu cực đến KNSL của NHTM.
Hay nghiên cứu của Kamarudin và cộng sự (2016) về tác động của khủng hoảng tài chính đến KNSL của các ngân hàng nhà nước và ngân hàng tư nhân tại Bangladesh từ năm 2004 đến năm 2011, so sánh mức độ tác động của khủng hoảng tài chính đến hai khu vực sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước. Kết quả cho thấy, trong giai đoạn khủng hoảng tài chính, hiệu quả lợi nhuận của ngân hàng nhà nước tăng 3,7%, ngân hàng tư nhân tăng 5,8%, tuy nhiên sau giai đoạn khủng hoảng lại giảm lần lượt là 38,7% và 9,9%. Ở khu vực vùng Vịnh thì có nghiên cứu của Amba và Almukharreq (2013), về tác động của khủng hoảng tài chính đến KNSL của các ngân hàng Hồi giáo và ngân hàng thông thường tại các nước vùng Vịnh từ năm 2006 đến năm 2013. Nghiên cứu cho thấy khủng hoảng tài chính tác động tiêu cực đến KNSL đến các ngân hàng Hồi giáo và ngân hàng thông thường.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Luận án khả năng sinh lời ngân hàng thương mại Việt Nam trong khủng hoảng kinh tế (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/kinh-te/tai-chinh-ngan-hang/luan-an-kha-nang-sinh-loi-cua-cac-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-trong-boi-canh
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án khả năng sinh lời ngân hàng thương mại Việt Nam trong khủng hoảng kinh tế" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án phân tích khả năng sinh lời ngân hàng thương mại Việt Nam trong khủng hoảng kinh tế. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính.
Luận án "Luận án khả năng sinh lời ngân hàng thương mại Việt Nam trong khủng hoảng kinh tế" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án khả năng sinh lời ngân hàng thương mại Việt Nam trong khủng hoảng kinh tế" có 167 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án khả năng sinh lời ngân hàng thương mại Việt Nam trong khủng hoảng kinh tế" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.