Luận án: Kiểm toán hoạt động của Kiểm toán Nhà nước đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước tại Việt Nam
"Luận án đánh giá kiểm toán hoạt động của Kiểm toán Nhà nước đối với tập đoàn kinh tế nhà nước tại Việt Nam, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm toán."
Luan An
Số trang
163
Thời gian đọc
25 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Đổi mới quản lý công: Xu thế toàn cầu và Việt Nam
- Số trang:
- 163 trang
- Chuyên ngành:
- Kiểm toán
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Đổi mới quản lý công Xu thế toàn cầu và Việt Nam
Cuối thế kỷ XX, cải cách hành chính trở thành xu thế toàn cầu. Thập niên 1980 tập trung vào “Chính phủ nhỏ, xã hội lớn”. Đến thập niên 1990, tư tưởng đổi mới là “sáng tạo lại Chính phủ”. Mục tiêu là loại bỏ quan liêu, tìm kiếm giải pháp “công việc tốt hơn với chi phí thấp hơn”. Quản lý hành chính nhà nước tiếp thu công cụ từ khu vực tư nhân. Điều này nhằm cải thiện quản lý, nâng cao trách nhiệm giải trình. Những nỗ lực này được gọi là Quản lý công mới (New Public Management), và xu hướng này tiếp tục được vận dụng. Tại Việt Nam, cải cách hành chính được quan tâm từ những năm 1990. Nó đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế. Các kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nhiều chủ trương, giải pháp quan trọng. Mục tiêu là xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, hiện đại. Chính phủ ban hành các Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước. Các giai đoạn 2001-2010 và 2011-2020 đã được tổng kết. Ngày 15 tháng 7 năm 2021, Nghị quyết số 76/NQ-CP tiếp tục định hướng cải cách đến năm 2030. Các chương trình này nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.
1.1. Xu hướng cải cách hành chính quốc tế
Cải cách hành chính là một xu thế nổi bật từ cuối thế kỷ XX. Các quốc gia phương Tây đi đầu trong việc đổi mới quản lý nhà nước. Vào những năm 1980, tư tưởng “Chính phủ nhỏ, xã hội lớn” phổ biến. Thập niên 1990 chứng kiến sự chuyển dịch sang khẩu hiệu “sáng tạo lại Chính phủ”. Mục tiêu chính của cải cách là dẹp bỏ chế độ quan liêu. Các chính phủ tìm kiếm giải pháp để thực hiện công việc tốt hơn với chi phí thấp hơn. Họ tiếp thu những công cụ quản lý mới từ khu vực tư nhân. Điều này nhằm cải thiện quản lý hành chính. Mục đích là làm cho các chính phủ có trách nhiệm hơn với kết quả hoạt động. Những nỗ lực này được gọi là Quản lý công mới (New Public Management). Xu hướng này vẫn được áp dụng và cải tiến liên tục cho đến hiện tại.
1.2. Nỗ lực cải cách hành chính tại Việt Nam
Tại Việt Nam, cải cách hành chính cũng được quan tâm mạnh mẽ. Hoạt động này bắt đầu từ những năm 1990, phù hợp với xu thế phát triển và hội nhập quốc tế. Các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu. Mục tiêu là xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh và hiện đại hóa. Nhiều chủ trương, giải pháp quan trọng đã được ban hành. Các nghị quyết của Đảng lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành chính. Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước. Các giai đoạn 2001-2010 và 2011-2020 đã được triển khai và đánh giá. Ngày 15 tháng 7 năm 2021, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết số 76/NQ-CP. Chương trình này định hướng cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030. Điều này nhấn mạnh sự cam kết trong nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý.
II. Kiểm toán hoạt động Công cụ thiết yếu cải thiện quản lý
Đồng thời với cải cách quản lý công, Kiểm toán hoạt động (KTHĐ) đã xuất hiện. KTHĐ là công cụ hỗ trợ đắc lực cho đổi mới. Đây là loại hình kiểm toán mới, được sử dụng rộng rãi. KTHĐ kiểm tra, đánh giá, kết luận và kiến nghị. Nó xem xét tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong hoạt động. Đối tượng là quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính công, tài sản công quốc gia. Nhiều quốc gia coi KTHĐ là phương tiện hữu hiệu. Nó giúp Chính phủ nâng cao trách nhiệm giải trình. KTHĐ cũng góp phần cải tiến hiệu quả hoạt động. Tại Việt Nam, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) đã từng bước tiếp cận. KTNN triển khai áp dụng loại hình KTHĐ. Mục tiêu là thúc đẩy cải cách hành chính thành công. KTNN tập trung vào quản lý, sử dụng tài chính công và tài sản công. Việc sử dụng cần đảm bảo tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả. KTHĐ mang lại cái nhìn độc lập và khách quan. Các khuyến nghị của KTHĐ giúp các đơn vị cải thiện quy trình và kết quả. Điều này góp phần vào việc sử dụng nguồn lực quốc gia một cách tối ưu.
2.1. Định nghĩa và vai trò của Kiểm toán hoạt động
Kiểm toán hoạt động (KTHĐ) là một loại hình kiểm toán hiện đại. Nó đóng vai trò hỗ trợ đắc lực cho công cuộc đổi mới quản lý công. KTHĐ thực hiện việc kiểm tra, đánh giá chuyên sâu. Sau đó, nó đưa ra kết luận và các kiến nghị cụ thể. Trọng tâm đánh giá là tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực. KTHĐ áp dụng cho các hoạt động quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính công. Nó cũng xem xét việc sử dụng tài sản công quốc gia. KTHĐ cung cấp một cái nhìn độc lập và khách quan. Điều này giúp phát hiện những điểm chưa tối ưu. Nhiều quốc gia đã công nhận KTHĐ là một phương tiện hữu hiệu. Nó giúp các chính phủ nâng cao trách nhiệm giải trình. KTHĐ là công cụ quan trọng để cải tiến liên tục hiệu quả hoạt động công.
2.2. KTHĐ hỗ trợ cải cách hành chính tại Việt Nam
Kiểm toán Nhà nước (KTNN) Việt Nam đã tích cực tiếp cận KTHĐ. Việc này nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ trong cải cách hành chính. KTNN từng bước áp dụng loại hình KTHĐ trong các cuộc kiểm toán. Mục tiêu chính là thúc đẩy thành công công cuộc cải cách hành chính. KTNN đặc biệt tập trung vào quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính công. Đồng thời, việc sử dụng tài sản công cũng được chú trọng. KTHĐ giúp đảm bảo các hoạt động này đạt tính kinh tế. Các hoạt động phải có hiệu lực và hiệu quả cao. Kết quả kiểm toán cung cấp thông tin giá trị. Thông tin này hỗ trợ các cơ quan quản lý đưa ra quyết sách chính xác. KTHĐ giúp phát hiện sớm các bất cập. Nó đề xuất giải pháp cải thiện, góp phần xây dựng nền hành chính minh bạch và trách nhiệm.
III. KTNN Việt Nam triển khai KTHĐ tại TĐKTNN
Việt Nam có mục tiêu rõ ràng về đổi mới thể chế doanh nghiệp nhà nước. Mục tiêu tập trung vào việc xác định rõ vai trò quản lý của Nhà nước. Điều này nhằm cải thiện đáng kể hiệu quả quản lý. Các Tập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKTNN) là trọng tâm của nền kinh tế. Chúng là những tổ chức kinh tế nắm giữ các ngành, lĩnh vực then chốt. TĐKTNN cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho xã hội. Chúng còn đóng vai trò quan trọng trong quốc phòng, an ninh. Đây là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế. TĐKTNN góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Kiểm toán Nhà nước (KTNN) Việt Nam đã tăng cường áp dụng KTHĐ. KTHĐ đối với các TĐKTNN là cần thiết. Thông qua kết quả kiểm toán, KTNN đưa ra các kiến nghị và đề xuất. Các kiến nghị này nhằm cải thiện công tác quản lý. Nó cũng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các TĐKTNN. Điều này hỗ trợ sự phát triển bền vững và minh bạch của các tập đoàn.
3.1. Mục tiêu đổi mới thể chế doanh nghiệp nhà nước
Việt Nam đang nỗ lực đổi mới thể chế về doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Mục tiêu trọng tâm là làm rõ vai trò quản lý của Nhà nước. Điều này nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tổng thể. Các Tập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKTNN) được xác định là trụ cột. Chúng là các tổ chức kinh tế nắm giữ những ngành, lĩnh vực then chốt. TĐKTNN cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho xã hội. Chúng còn đảm bảo quốc phòng, an ninh quốc gia. Đây là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng. TĐKTNN giúp điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. KTHĐ của KTNN hỗ trợ đạt được mục tiêu này. Nó giúp đánh giá khách quan hiệu quả quản lý. Từ đó, đưa ra các khuyến nghị để tối ưu hóa hoạt động của TĐKTNN.
3.2. Áp dụng KTHĐ cải thiện quản lý TĐKTNN
Kiểm toán Nhà nước (KTNN) tăng cường áp dụng Kiểm toán hoạt động (KTHĐ) đối với TĐKTNN. Mục đích là cải thiện công tác quản lý và nâng cao hiệu quả. KTHĐ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước nắm rõ thực trạng hoạt động. Nó chỉ ra những tồn tại, yếu kém và khó khăn của doanh nghiệp. Từ đó, có biện pháp tháo gỡ, định hướng và hỗ trợ kịp thời. Bản thân các TĐKTNN cũng cần một cơ quan độc lập, khách quan. Cơ quan này sẽ đánh giá, chỉ rõ những bất cập, kém hiệu quả. Thậm chí, nó phát hiện những vi phạm trong hoạt động. Điều này giúp phòng ngừa, hạn chế và khắc phục các yếu kém. Nó giảm thiểu lãng phí, thất thoát và nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị. Kết quả KTHĐ cung cấp cơ sở vững chắc cho việc ra quyết định.
IV. Thực trạng TĐKTNN Nhu cầu nâng cao hiệu quả
Các Tập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKTNN) quản lý khối lượng lớn tài chính công. Họ cũng quản lý tài sản công và nhiều nguồn lực tự nhiên. Những nguồn lực này có được từ ưu thế là doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, đánh giá thực trạng thời gian qua cho thấy nhiều yếu kém. Hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung còn bất cập. Việc thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với DNNN chưa hiệu quả. Một số TĐKTNN và DNNN kinh doanh thua lỗ. Tình trạng mất vốn, tham nhũng, lãng phí gây bức xúc trong xã hội. Thực trạng này đòi hỏi công tác quản lý Nhà nước phải được cải thiện. Đặc biệt cần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Các cơ quan quản lý Nhà nước cần nắm rõ thực trạng hoạt động của doanh nghiệp. Họ cần hiểu những tồn tại, yếu kém và khó khăn. Từ đó có biện pháp tháo gỡ, định hướng, hỗ trợ và giải quyết các tồn tại. KTHĐ cung cấp cái nhìn độc lập, khách quan để hỗ trợ quá trình này.
4.1. Những hạn chế trong quản lý TĐKTNN hiện nay
Mặc dù TĐKTNN được giao quản lý khối lượng lớn tài chính công và tài sản công, vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp còn nhiều yếu kém. Việc thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với DNNN còn bất cập. Thực tế cho thấy một số Tập đoàn kinh tế và DNNN kinh doanh thua lỗ. Tình trạng mất vốn là vấn đề nghiêm trọng. Các vấn đề như tham nhũng, lãng phí gây bức xúc trong xã hội. Những hạn chế này làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia. Nó cũng ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng. Điều này đòi hỏi một sự cải thiện cấp bách trong công tác quản lý. Nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý là yêu cầu bắt buộc. KTHĐ có thể giúp phát hiện và khắc phục các hạn chế này một cách có hệ thống.
4.2. Cải thiện quản lý Vai trò của đánh giá độc lập
Để cải thiện công tác quản lý Nhà nước đối với TĐKTNN, cần có đánh giá độc lập. Các cơ quan quản lý Nhà nước cần nắm rõ thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp. Họ phải hiểu rõ những tồn tại, yếu kém và những khó khăn, vướng mắc. Từ đó, có thể đưa ra các biện pháp tháo gỡ, định hướng, hỗ trợ và giải quyết kịp thời. Bản thân các TĐKTNN cũng cần một cơ quan độc lập, khách quan. Cơ quan này sẽ đánh giá và chỉ rõ những tồn tại, bất cập, kém hiệu quả. Thậm chí, nó vạch ra những vi phạm trong hoạt động. Điều này giúp phòng ngừa, hạn chế và khắc phục những yếu kém. Nó giảm thiểu lãng phí, thất thoát và nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị. Kiểm toán hoạt động cung cấp cơ chế đánh giá độc lập này một cách hiệu quả.
V. Vai trò Kiểm toán hoạt động thúc đẩy minh bạch
Kiểm toán hoạt động (KTHĐ) là công cụ mạnh mẽ thúc đẩy minh bạch. Nó tăng cường trách nhiệm giải trình trong quản lý công. KTHĐ cung cấp cái nhìn độc lập và khách quan. Nó đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của các hoạt động. Đặc biệt, KTHĐ kiểm tra quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công. Các kết quả kiểm toán giúp nhận diện rõ các vấn đề. Nó chỉ ra các khu vực cần cải thiện và đưa ra kiến nghị cụ thể. Những kiến nghị này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Nó tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực quốc gia. KTHĐ cũng góp phần giảm thiểu lãng phí và thất thoát. Điều này xây dựng niềm tin của công chúng vào hệ thống quản lý. Kiểm toán Nhà nước Việt Nam cam kết thực hiện KTHĐ. Mục tiêu là đảm bảo quản lý tài chính công hiệu quả. Nó hỗ trợ các Tập đoàn kinh tế nhà nước hoạt động minh bạch hơn. KTHĐ là yếu tố then chốt cho một nền hành chính hiện đại, trách nhiệm.
5.1. KTHĐ tăng cường trách nhiệm giải trình công
Kiểm toán hoạt động (KTHĐ) có vai trò thiết yếu trong việc tăng cường trách nhiệm giải trình. KTHĐ cung cấp một đánh giá độc lập về hiệu quả hoạt động. Nó xem xét cách các nguồn lực tài chính công được quản lý. Các kết luận kiểm toán minh bạch hóa thông tin. Điều này giúp các cơ quan nhà nước giải trình rõ ràng hơn về hoạt động của mình. Các kiến nghị từ KTHĐ thúc đẩy các đơn vị phải có trách nhiệm cao hơn. Trách nhiệm này gắn liền với kết quả đạt được. Việc công khai kết quả kiểm toán giúp công chúng giám sát hiệu quả. Nó tăng cường lòng tin của người dân vào Chính phủ. KTHĐ là bằng chứng cụ thể về sự cam kết quản lý tốt. Đây là một yếu tố không thể thiếu trong quản lý công hiện đại.
5.2. KTHĐ góp phần tối ưu hóa nguồn lực quốc gia
KTHĐ không chỉ dừng lại ở việc phát hiện yếu kém. Nó còn góp phần quan trọng vào việc tối ưu hóa nguồn lực quốc gia. KTHĐ đánh giá tính kinh tế của các hoạt động. Nó chỉ ra những khu vực tiềm ẩn lãng phí nguồn lực. KTHĐ phân tích hiệu quả của các chương trình và dự án. Các kiến nghị kiểm toán giúp điều chỉnh chính sách và quy trình. Điều này nhằm tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng ngân sách. KTNN thông qua KTHĐ đề xuất các giải pháp cụ thể. Các giải pháp này hướng đến sử dụng tài chính công hiệu quả hơn. Nó nâng cao năng suất và giảm thiểu chi phí. Đối với TĐKTNN, KTHĐ giúp họ sử dụng tài sản hiệu quả. Nó ngăn chặn thất thoát và tham nhũng, góp phần vào tăng trưởng bền vững.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (163 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộLý do chọn đề tài nghiên cứu Trước đòi hỏi đổi mới hoạt động quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu của thực tiễn phát triển, trong những năm cuối thế kỷ XX, cải cách hành chính đã trở thành một xu thế phổ biến tại ở các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phương Tây. Theo đó, chủ đề cải cách hành chính thịnh hành trong những năm 1980 là “Chính phủ nhỏ, xã hội lớn”; sang đến thập niên 1990, tư tưởng làm động lực cho cải cách được thay đổi với khẩu hiệu “sáng tạo lại Chính phủ”. Quan điểm cải cách, đổi mới là dẹp bỏ chế độ quan liêu đang tồn tại, nỗ lực tìm kiếm giải pháp cải cách Chính phủ theo hướng “công việc được thực hiện tốt hơn với chi phí thấp hơn”; trong quản lý hành chính nhà nước, các quốc gia phải tập trung nghiên cứu tiếp thu những công cụ quản lý mới từ khu vực tư nhân để cải thiện quản lý hành chính nhằm làm cho các Chính phủ có trách nhiệm hơn với kết quả hoạt động.Những nỗ lực cải cách này được gọi là quản lý công mới (New Public Management) và xu hướng này tiếp tục được vận dụng, cải thiện, thích ứng cho đến thời điểm hiện nay. Đồng thời với hoạt động cải cách sâu rộng trong quản lý công tại các quốc gia, loại hình kiểm toán hoạt động (KTHĐ) đã xuất hiện như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho đổi mới.
Đây là loại hình kiểm toán mới, được sử dụng để kiểm tra, đánh giá, kết luận và kiến nghị về tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong hoạt động quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính công, tài sản công quốc gia; là loại hình kiểm toán được nhiều quốc gia xem là phương tiện hữu hiệu, góp phần giúp Chính phủ các nước nâng cao trách nhiệm giải trình và cải tiến hiệu quả hoạt động. Tại Việt Nam, trước đòi hỏi đổi mới quản lý hành chính cho phù hợp với xu thế phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế, cải cách hành chính đã bắt đầu được quan tâm từ những năm 1990 của thế kỷ XX. Sau đó có những mốc thời điểm quan trọng như: Các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam gần đây bên cạnh việc khẳng định mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá đã đưa ra một loạt chủ trương, giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong cải cách hành chính; theo đó ban hành các Nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh cải cách nền hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Xây dựng chương trình hành động để thực hiện các nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, giai đoạn 2011 - 2020, thực hiện và tổng kết đánh giá và đến ngày 15 tháng 7 năm 2021, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết số 76/NQ-CP về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030.
Đồng hành cùng hệ thống bộ máy nhà nước, để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình trong công cuộc cải cách 1 hành chính nhà nước, Kiểm toán nhà nước (KTNN) Việt Nam đã từng bước tiếp cận và triển khai áp dụng loại hình KTHĐ nhằm hướng tới thúc đẩy cải cách hành chính thành công, trong đó tập trung vào việc quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính công, tài sản công kinh tế, hiệu lực, hiệu quả. Đối với lĩnh vực doanh nghiệp, Việt Nam đặt ra mục tiêu đổi mới thể chế về doanh nghiệp nhà nước trong đó tập trung xác định rõ vai trò quản lý của Nhà nước để cải thiện hiệu quả quản lý. Thực tế mô hình quản lý và phát triển nền kinh tế tại Việt Nam, các doanh nghiêp nhà nước (trọng tâm là Tập đoàn kinh tế nhà nước - sau đây viết tắt là TĐKTNN) được xác định là các tổ chức kinh tế nắm giữ những ngành, lĩnh vực then chốt, cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, cho dù được Nhà nước giao quản lý một khối lượng lớn tài chính công, tài sản công và rất nhiều nguồn lực tự nhiên có được từ ưu thế là doanh nghiệp nhà nước, nhưng đánh giá thực trạng thời gian qua cho thấy, hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung còn nhiều yếu kém, việc thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với DNNN còn bất cập; một số Tập đoàn kinh tế và DNNN kinh doanh thua lỗ, mất vốn, tham nhũng, lãng phí gây bức xúc trong xã hội.
Trước thực trạng đó đòi hỏi công tác quản lý Nhà nước đối với các TĐKTNN phải được cải thiện, đặc biệt cần thiết phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Theo đó, các cơ quan quản lý Nhà nước muốn cải thiện công tác quản lý phải nắm rõ được thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp, thực trạng những tồn tại, yếu kém và những khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp để có biện pháp tháo gỡ, định hướng, hỗ trợ và giải quyết những tồn tại. Bản thân các TĐKTNN cũng cần có một cơ quan độc lập, khách quan đứng ra đánh giá, chỉ rõ những tồn tại, bất cập, kém hiệu quả, thậm chí những vi phạm trong hoạt động để có thể phòng ngừa, hạn chế khắc phục những yếu kém, lãng phí, thất thoát và nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị mình…Từ những lý do nêu trên, nghiên cứu việc tăng cường áp dụng KTHĐ đối với các TĐKTNN tại KTNN nhằm thông qua kết quả kiểm toán để kiến nghị, đề xuất đổi mới thể chế; đề xuất các giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả quản lý vốn, tài sản, nguồn lực Nhà nước tại các TĐKTNN là hết sức cần thiết. Đặc biệt, nó rất có ý nghĩa trong điều kiện hiện nay, Chính phủ Việt Nam đang đẩy mạnh thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh.
Từ những lý do đã trình bày, nghiên cứu sinh quyết định chọn đề tài “Kiểm toán hoạt động của Kiểm toán nhà nước đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam” làm đề tài Luận án tiến sĩ. Theo đó, nghiên cứu sinh sẽ phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng KTHĐ tại KTNN; tập trung 2 nghiên cứu những khoảng trống, tồn tại, bất cập của KTHĐ đối với các TĐKTNN tại KTNN Việt Nam giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thông lệ về KTHĐ và xem xét bối cảnh về thể chế pháp lý, các điều kiện về tổ chức bộ máy, điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực của KTNN để đề xuất các giải pháp lấp đầy những khoảng trống, thiếu hụt trong quản lý và tăng cường KTHĐ cũng như khắc phục những hạn chế, tồn tại trong hoạt động của KTNN. Luận án tập trung kiến nghị các giải pháp cải thiện, đẩy mạnh áp dụng KTHĐ đối với các TĐKTNN giúp KTNN Việt Nam hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ và sứ mệnh của mình, qua đó giúp cho việc quản lý nguồn tài chính công, tài sản công giao cho các TĐKTNN hướng đến kinh tế, hiệu quả, hiệu lực và phát triển bền vững; phòng ngừa và hạn chế thất thoát, thiệt hại các nguồn lực được Nhà nước giao.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Luận án nghiên cứu nhằm mục đích đề xuất định hướng và giải pháp cải thiện hiện trạng, tăng cường hiệu quả, hiệu lực áp dụng KTHĐ của KTNN Việt Nam đối với các TĐKTNN; từ đó, giúp các TĐKTNN kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những sai sót, tồn tại để nâng cao hiệu quả hoạt động của Tập đoàn. Nhiệm vụ nghiên cứu (i) Nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận, các thông lệ, nguyên tắc, yêu cầu về KTHĐ tại các cơ quan KTNN trên thế giới. (ii) Xem xét kinh nghiệm của nước ngoài về áp dụng KTHĐ đối với TĐKTNN và bài học cho Việt Nam.
(iii) Nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng KTHĐ nói chung và việc áp dụng KTHĐ đối với các TĐKTNN tại KTNN Việt Nam thời gian qua để chỉ ra những hạn chế, tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân trong thực hiện KTHĐ đối với các TĐKTNN. (iv) Đề xuất các định hướng, giải pháp cải thiện, tăng cường KTHĐ nhằm lấp đầy khoảng trống và những hạn chế, tồn tại trong áp dụng KTHĐ đối với các TĐKTNN tại KTNN Việt Nam. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng KTHĐ của KTNN đối với các TĐKTNN ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu về KTHĐ của KTNN đối với các TĐKTNN theo các thông lệ, nguyên tắc phổ biến đang được áp dụng, trong đó 3 tập trung nghiên cứu về chính sách KTHĐ; thiết lập và áp dụng tiêu chí KTHĐ; xây dựng bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu KTHĐ và tổ chức KTHĐ đối với TĐKTNN tại Việt Nam. - Phạm vi không gian: Nghiên cứu KTHĐ của KTNN và KTHĐ đối với 09 TĐKTNN (PVN, EVN, TKV, VRG, VIETTEL, VINAPHONE, PETROLIMEX, VINATEX, VINACHEM) tại KTNN Việt Nam. Đồng thời, luận án cũng nghiên cứu bài học kinh nghiệm về KTHĐ tại một số quốc gia như Anh Quốc, Trung Quốc, CANADA. - Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu tiếp cận lý luận, khoa học về KTHĐ; các thông lệ, nguyên tắc, yêu cầu áp dụng KTHĐ theo quá trình hình thành và phát triển KTHĐ.
Về thực trạng tại Việt Nam được nghiên cứu trong giai đoạn khi Luật KTNN số 81/2015/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/1/2016 đến nay, có xem xét đến lịch sử hình thành và phát triển của KTHĐ của KTNN và đề xuất phương hướng hoàn thiện đến năm 2030, gắn với định hướng chiến lược phát triển của KTNN Việt Nam. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4. Phương pháp luận nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp tư duy, nhận thức và nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng để luận giải các vấn đề theo tư duy logic, biện chứng mang tính khách quan và trong mối liên hệ phổ biến với các vấn đề khác. Bên cạnh đó, luận án sử dụng các phương pháp tiếp cận dựa trên lý thuyết về kiểm toán, quản lý công, quản lý tài chính và tài sản công.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Kiểm toán hoạt động của Kiểm toán Nhà nước tại TĐKTNN Việt Nam (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/kinh-te/tai-chinh-ngan-hang/1luan-an-kiem-toan-hoat-dong-cua-kiem-toan-nha-nuoc-doi-voi-cac-tap-doan-kinh
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Kiểm toán hoạt động của Kiểm toán Nhà nước tại TĐKTNN Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?
"Luận án đánh giá kiểm toán hoạt động của Kiểm toán Nhà nước đối với tập đoàn kinh tế nhà nước tại Việt Nam, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm toán."
Luận án "Kiểm toán hoạt động của Kiểm toán Nhà nước tại TĐKTNN Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Kiểm toán hoạt động của Kiểm toán Nhà nước tại TĐKTNN Việt Nam" thuộc chuyên ngành Kiểm toán. Danh mục: Tài Chính - Ngân Hàng.
Luận án "Kiểm toán hoạt động của Kiểm toán Nhà nước tại TĐKTNN Việt Nam" có bao nhiêu trang?
Luận án "Kiểm toán hoạt động của Kiểm toán Nhà nước tại TĐKTNN Việt Nam" có 163 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Kiểm toán hoạt động của Kiểm toán Nhà nước tại TĐKTNN Việt Nam" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.