Vai trò Nhà nước trong phát triển Du lịch Việt Nam khi hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)

Luận án nghiên cứu vai trò của nhà nước trong phát triển du lịch Việt Nam sau khi hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).

Chuyên ngành
Du lịch
Tác giả

Luan An

Số trang

205

Thời gian đọc

31 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt của tác giả

Trích nguyên văn từ luận án

của đề tài Việt Nam là quốc gia có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hóa để phát triển du lịch, có thị trường rộng lớn xét trên phương diện quy mô khách du lịch nội địa và quốc tế, hơn nữa Việt Nam được đánh giá là một điểm đến an toàn và thân thiện. Năm 2014, Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới (WTTC) xếp Việt Nam đạt thứ hạng 16 trong số 184 quốc gia có tiềm năng lâu dài trong phát triển du lịch. Năm 2017, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đánh giá Việt Nam đứng thứ 6 trên 10 điểm đến an toàn, sự thân thiện dành cho du khách và phát triển nhanh nhất thế giới. Theo số liệu Tổng cục Du lịch, nếu lấy mốc năm 1990 năm đầu tiên phát động Năm Du lịch Việt Nam với 250.000 lượt khách quốc tế thì năm 2010 đạt 5 triệu lượt khách, đến năm 2014 đã đạt gần 8 triệu lượt khách và đến năm 2017 đã đạt 12,9 triệu lượt khách; khách nội địa từ 28 triệu lượt năm 2010 tăng lên 38,5 triệu lượt vào năm 2014và năm 2017 đạt 73 triệu lượt. Năm 2014 du lịch đóng góp khoảng 6% GDP cả nước đạt 230.000 tỷ đồng, năm 2018 du lịch đóng góp khoảng 8,39 % GDP cả nước đạt 637. Thời gian qua, doanh thu ngoại tệ từ du lịch của nước ta chỉ đứng sau 4 ngành là dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, du lịch đã góp phần gia tăng dự trữ ngoại ngoại hối, góp phần giảm nghèo, bảo tồn và tiêu thụ các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của các làng nghề truyền thống;

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Tiềm năng du lịch Việt Nam và thách thức hội nhập AEC
Số trang:
205 trang
Chuyên ngành:
Du lịch
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Tiềm năng du lịch Việt Nam và thách thức hội nhập AEC

Việt Nam sở hữu lợi thế lớn về tài nguyên. Thiên nhiên phong phú, văn hóa đa dạng. Đây là nền tảng vững chắc để phát triển du lịch. Thị trường du lịch nội địa và quốc tế rộng lớn. Việt Nam được đánh giá là điểm đến an toàn, thân thiện. Tổ chức Du lịch Thế giới xếp Việt Nam vào nhóm phát triển nhanh nhất. Ngành du lịch đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Lượng khách quốc tế tăng từ 250.000 lượt năm 1990 lên 12,9 triệu lượt năm 2017. Khách nội địa cũng tăng mạnh. Du lịch đóng góp đáng kể vào GDP quốc gia. Ngành du lịch khẳng định vị thế kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, kết quả vẫn khiêm tốn. Tiềm năng chưa được khai thác tối đa. Du lịch Việt Nam đối mặt nhiều khó khăn. So với Singapore, Thái Lan, Malaysia, lượng khách quốc tế còn thấp. AEC chính thức hình thành, tạo thêm áp lực. Du lịch Việt Nam cần nâng cao năng lực cạnh tranh.

1.1. Lợi thế tự nhiên và văn hóa để phát triển du lịch

Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi. Tài nguyên đa dạng, phong phú. Có nhiều di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh. Du lịch văn hóa, du lịch sinh thái là thế mạnh. Điểm đến an toàn, thân thiện thu hút du khách. Tiềm năng này tạo nền tảng vững chắc. Cần có chính sách phát triển du lịch Việt Nam phù hợp.

1.2. Thực trạng tăng trưởng du lịch Việt Nam

Ngành du lịch Việt Nam phát triển nhanh chóng. Số lượt khách quốc tế tăng trưởng vượt bậc. Từ 250.000 lượt năm 1990 lên 12,9 triệu lượt năm 2017. Khách nội địa cũng đạt 73 triệu lượt năm 2017. Du lịch đóng góp 8,39% GDP năm 2018. Ngành này đứng top các ngành mang lại ngoại tệ. Điều này giúp giảm nghèo, bảo tồn văn hóa.

1.3. Khoảng cách phát triển so với các nước ASEAN

Du lịch Việt Nam chưa khai thác hết tiềm năng. Số khách quốc tế thấp hơn nhiều so với Singapore, Thái Lan, Malaysia. Ví dụ, năm 2016, Việt Nam có 10 triệu lượt, Singapore 16,4 triệu, Thái Lan 32,6 triệu. Sản phẩm du lịch thiếu đặc thù. Thương hiệu chưa thực sự nổi bật. Sức cạnh tranh trong khu vực còn yếu. Điều này khiến khó thu hút khách chi trả cao.

II. Nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam trong AEC

Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) mở ra thị trường lớn hơn. Du lịch Việt Nam đối mặt sức ép cạnh tranh mạnh mẽ. Các quốc gia như Thái Lan, Malaysia, Singapore có kinh nghiệm dày dặn. Họ nhận được hỗ trợ lớn từ chính phủ. Ngân sách quảng bá du lịch của Việt Nam còn hạn chế. Điều này tạo ra thách thức lớn. Năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam cần được cải thiện. Sản phẩm du lịch phải có sự khác biệt. Thương hiệu quốc gia cần được xây dựng mạnh mẽ. Cần chiến lược dài hạn để thu hút khách chi trả cao. Thị trường du lịch ASEAN cần được khai thác hiệu quả.

2.1. Sức ép cạnh tranh gay gắt từ AEC

AEC tạo ra môi trường cạnh tranh khốc liệt. Các nước ASEAN có trình độ phát triển du lịch vượt trội. Việt Nam có sự chênh lệch lớn về trình độ. Điều này gây áp lực cạnh tranh. Các đối thủ có bề dày kinh nghiệm. Họ cũng nhận hỗ trợ lớn từ chính phủ.

2.2. Hạn chế về ngân sách xúc tiến du lịch quốc gia

Việt Nam chi ngân sách rất thấp cho quảng bá du lịch. Khoảng 2 triệu USD/năm. Malaysia chi 69 triệu USD, Singapore chi 80 triệu USD, Thái Lan chi 105 triệu USD. Sự chênh lệch này rất lớn. Điều này ảnh hưởng khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam bị suy giảm. Cần đầu tư mạnh hơn vào xúc tiến du lịch quốc gia.

2.3. Thiếu sản phẩm du lịch đặc thù và thương hiệu mạnh

Sản phẩm du lịch Việt Nam còn thiếu đặc sắc. Chưa có những thương hiệu nổi bật. Khó thu hút khách hàng mục tiêu. Đặc biệt là nhóm khách có khả năng chi trả cao. Điều này làm giảm năng lực cạnh tranh. Cần phát triển các sản phẩm độc đáo, mang đậm bản sắc.

III. Phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam sau AEC

Nguồn nhân lực đóng vai trò then chốt trong ngành du lịch. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn yếu kém. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến dịch vụ. Thiếu hụt cả nhân sự cấp cao và lao động trực tiếp. Các nhà quản lý giỏi, điều hành doanh nghiệp còn ít. Ngay cả nhân viên phục vụ, hướng dẫn viên cũng chưa đạt chuẩn. Thỏa thuận Nghề Du lịch ASEAN (MRA-TP) mang lại cả cơ hội và thách thức. Thỏa thuận này cho phép lao động trong khối ASEAN di chuyển tự do. Điều này đòi hỏi phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam. Cần nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng. Nếu không, du lịch Việt Nam sẽ chịu thua thiệt ngay trên sân nhà. Chính sách phát triển du lịch Việt Nam cần tập trung vào vấn đề này.

3.1. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực du lịch thấp

Nguồn nhân lực du lịch Việt Nam đối mặt nhiều vấn đề. Chất lượng bị đánh giá là yếu kém nhất. Thiếu hụt các vị trí quản lý, điều hành cấp cao. Lao động trực tiếp cũng chưa đạt chuẩn quốc tế. Thái độ phục vụ, cung cách làm việc cần cải thiện. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm du khách.

3.2. Yêu cầu nâng cao trình độ theo thỏa thuận MRA TP

MRA-TP là thỏa thuận quan trọng trong AEC. Thỏa thuận này cho phép lao động du lịch ASEAN di chuyển. Lao động Việt Nam cần nâng cao chuyên môn. Kỹ năng, ngoại ngữ và thái độ phải đạt chuẩn quốc tế. Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức lớn. Nếu không đáp ứng, sẽ mất lợi thế cạnh tranh.

3.3. Các giải pháp đào tạo bồi dưỡng nhân lực chuyên nghiệp

Cần xây dựng chương trình đào tạo chất lượng cao. Tập trung vào kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ. Bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp, thái độ phục vụ. Hợp tác quốc tế trong đào tạo cũng cần được đẩy mạnh. Đầu tư vào các trường, trung tâm dạy nghề. Phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam là ưu tiên hàng đầu.

IV. Đầu tư hạ tầng chính sách quy hoạch du lịch quốc gia

Hạ tầng du lịch Việt Nam hiện còn nhiều bất cập. Điều này cản trở sự phát triển bền vững. Cần đầu tư đồng bộ vào cơ sở vật chất. Nâng cấp hệ thống giao thông, điện, nước. Xây dựng các khu nghỉ dưỡng, khách sạn hiện đại. Chính sách phát triển du lịch Việt Nam cần ưu tiên vấn đề này. Quy hoạch du lịch quốc gia phải có tầm nhìn dài hạn. Đảm bảo tính bền vững cho ngành. Các dự án đầu tư hạ tầng du lịch cần được triển khai hiệu quả. Đặc biệt là các khu vực trọng điểm. Điều này giúp nâng cao trải nghiệm du khách. Đồng thời, tăng cường năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam.

4.1. Cải thiện hạ tầng du lịch và kết nối giao thông

Hệ thống hạ tầng du lịch cần được nâng cấp. Bao gồm đường bộ, đường sắt, hàng không, đường thủy. Cần tăng cường kết nối giữa các điểm du lịch. Điều này giúp giảm thời gian di chuyển. Đồng thời, tăng sự tiện lợi cho du khách. Đầu tư hạ tầng du lịch là yếu tố then chốt.

4.2. Chính sách phát triển du lịch bền vững Việt Nam

Du lịch bền vững là mục tiêu quan trọng. Chính sách cần tập trung bảo tồn môi trường. Bảo vệ các giá trị văn hóa bản địa. Đảm bảo lợi ích cho cộng đồng địa phương. Hạn chế tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch. Điều này giúp du lịch phát triển lâu dài. Du lịch bền vững Việt Nam cần được ưu tiên.

4.3. Quy hoạch du lịch quốc gia đồng bộ tầm nhìn dài hạn

Quy hoạch du lịch quốc gia cần được hoàn thiện. Phải có định hướng rõ ràng cho từng vùng. Phát triển các sản phẩm du lịch đặc trưng. Quy hoạch cần tính đến yếu tố môi trường, xã hội. Đảm bảo tính liên kết, đồng bộ. Tránh phát triển tự phát, thiếu kiểm soát.

V. Chuyển đổi số du lịch và xúc tiến quốc gia hiệu quả

Chuyển đổi số là xu hướng tất yếu của ngành du lịch. Công nghệ số giúp nâng cao hiệu quả quản lý. Cải thiện trải nghiệm của du khách. Việt Nam cần ứng dụng mạnh mẽ công nghệ vào du lịch. Từ quản lý điểm đến đến tiếp thị, quảng bá. Xúc tiến du lịch quốc gia cần tận dụng các kênh số. Điều này giúp tiếp cận thị trường rộng lớn hơn. Đặc biệt là thị trường du lịch ASEAN và các thị trường tiềm năng khác. Chính sách phát triển du lịch Việt Nam cần thúc đẩy chuyển đổi số. Kết hợp với đầu tư hạ tầng du lịch số. Tăng cường năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam trên nền tảng công nghệ.

5.1. Ứng dụng chuyển đổi số du lịch trong quản lý và tiếp thị

Chuyển đổi số du lịch giúp tối ưu hóa hoạt động. Từ đặt phòng, thanh toán đến quản lý khách hàng. Ứng dụng công nghệ VR/AR mang lại trải nghiệm mới. Tiếp thị số giúp cá nhân hóa thông điệp. Nâng cao hiệu quả quảng bá, tăng cường tương tác.

5.2. Tăng cường xúc tiến du lịch quốc gia qua kênh số

Kênh số là công cụ mạnh mẽ để xúc tiến du lịch. Mạng xã hội, website, ứng dụng di động. Quảng bá hình ảnh Việt Nam đến toàn cầu. Tạo chiến dịch marketing sáng tạo, hấp dẫn. Điều này giúp định vị thương hiệu. Thu hút lượng lớn khách quốc tế. Xúc tiến du lịch quốc gia cần đầu tư vào đây.

5.3. Phát triển thị trường du lịch ASEAN và các thị trường mới

Thị trường du lịch ASEAN là trọng điểm. Cần đẩy mạnh khai thác tiềm năng khu vực này. Đồng thời, mở rộng sang các thị trường mới. Ví dụ như Ấn Độ, Trung Đông, Bắc Âu. Đa dạng hóa nguồn khách quốc tế. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro. Tăng trưởng bền vững cho ngành du lịch.

Mục lục chi tiết luận án

MỞ ĐẦU
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan nghiên cứu
1.1.1. Về phát triển du lịch
1.1.1.1. Nhóm thứ nhất tiếp cận từ góc độ nghiên cứu những điều kiện và giải pháp để phát triển du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn
1.1.1.2. Nhóm thứ hai tiếp cận theo hướng nghiên cứu ý nghĩa của phát triển du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội
2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH KHI THAM GIA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ
3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VAI TRÒ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM SAU KHI HÌNH THÀNH AEC
4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM SAU KHI HÌNH THÀNH AEC
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án vai trò của nhà nước đối với phát triển du lịch việt nam sau khi hình thành cộng đồng kinh tế asean aec

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (205 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là quốc gia có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hóa để phát triển du lịch, có thị trường rộng lớn xét trên phương diện quy mô khách du lịch nội địa và quốc tế, hơn nữa Việt Nam được đánh giá là một điểm đến an toàn và thân thiện. Năm 2014, Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới (WTTC) xếp Việt Nam đạt thứ hạng 16 trong số 184 quốc gia có tiềm năng lâu dài trong phát triển du lịch. Năm 2017, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đánh giá Việt Nam đứng thứ 6 trên 10 điểm đến an toàn, sự thân thiện dành cho du khách và phát triển nhanh nhất thế giới. Theo số liệu Tổng cục Du lịch, nếu lấy mốc năm 1990 năm đầu tiên phát động Năm Du lịch Việt Nam với 250.000 lượt khách quốc tế thì năm 2010 đạt 5 triệu lượt khách, đến năm 2014 đã đạt gần 8 triệu lượt khách và đến năm 2017 đã đạt 12,9 triệu lượt khách; khách nội địa từ 28 triệu lượt năm 2010 tăng lên 38,5 triệu lượt vào năm 2014và năm 2017 đạt 73 triệu lượt.

Năm 2014 du lịch đóng góp khoảng 6% GDP cả nước đạt 230.000 tỷ đồng, năm 2018 du lịch đóng góp khoảng 8,39 % GDP cả nước đạt 637. Thời gian qua, doanh thu ngoại tệ từ du lịch của nước ta chỉ đứng sau 4 ngành là dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, du lịch đã góp phần gia tăng dự trữ ngoại ngoại hối, góp phần giảm nghèo, bảo tồn và tiêu thụ các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của các làng nghề truyền thống; phục hồi văn hóa nghệ thuật truyền thống. Trong thực tế, du lịch Việt Nam đã khẳng định vị trí là một ngành kinh tế quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy những kết quả mà ngành du lịch Việt Nam đạt được vẫn còn khiêm tốn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước, sự phát triển của du lịch Việt Nam vẫn còn những khó khăn, bất cập, chứa đựng các yếu tố thiếu tính bền vững: Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2014, Việt Nam chỉ có 7,8 triệu khách quốc tế trong khi đó Singapore có 15,1 triệu lượt, Thái Lan 24,8 triệu lượt, Malaysia đã đón tới 27,4 triệu lượt khách, năm 2016 số lượng khách quốc tế đạt hơn 10 triệu lượt, bằng 61% của Singapore (16,4 triệu), 31% so với Thái Lan (32,6 triệu) và bằng 37% của Malaysia (26,8 triệu).

Theo Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, sản phẩm du lịch của Việt Nam còn thiếu những sản phẩm đặc thù mang bản sắc riêng của Việt Nam; chưa có những thương hiệu nổi bật; sức cạnh tranh trong khu vực còn kém, do đó khó thu hút được thị trường khách có khả năng chi trả cao. Như vậy, một câu hỏi đặt ra là: Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam ngày càng mở cửa hội nhập tích cực và sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt, Cộng đồng 2 Kinh tế ASEAN (AEC) đã chính thức được thành lập, du lịch Việt Nam hiện nay đã đủ khả năng để hội nhập chưa? Có thể khẳng định, du lịch Việt Nam đang đứng trước rất nhiều khó khăn thách thức: chất lượng nguồn lực nhân lực thấp, hạ tầng yếu kém, nhận thức đầy đủ về những thách thức và cơ hội của du lịch Việt Nam khi hội nhập quốc tế cũng còn nhiều hạn chế, du lịch Việt Nam sẽ phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt từ du lịch Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia thì những thách thức này sẽ còn biểu hiện rõ ràng hơn. Bởi lẽ: Theo các chuyên gia, AEC tạo ra một thị trường rộng hơn và có sự tương đồng ở mức cao của các nền kinh tế ASEAN. Tuy nhiên, hiện đang có sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển giữa Việt Nam với các nước khác trong ASEAN như Singapore, Thái Lan, Malaysia, Indonesia,… Do đó, khi AEC được thành lập, với du lịch Việt Nam sức ép cạnh tranh sẽ gia tăng mạnh mẽ.

Bởi lẽ các nước trong AEC không chỉ có bề dày kinh nghiệm về phát triển du lịch, mà đều nhận được sự hỗ trợ rất lớn từ Chính phủ, thể hiện rõ nguồn ngân sách chi cho quảng bá du lịch trên thị trường quốc tế, trong khi Malaysia chi 69 triệu USD, Singapore chi 80 triệu USD, Thái Lan đã chi tới 105 triệu USD, thì Việt Nam là rất thấp khoảng 2 triệu USD/năm (Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 2018). Nguồn nhân lực là yếu tố then chốt trong phát triển du lịch, nhưng thực tế hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực đang bị đánh giá là một trong những yếu tố kém nhất của du lịch Việt Nam. Du lịch Việt Nam không chỉ thiếu hụt những người điều hành doanh nghiệp, các nhà quản lý giỏi (nhân sự cao cấp), mà ngay lực lượng lao động trực tiếp như hướng dẫn viên du lịch, phục vụ bàn ở quán ăn, bán hàng, nhân viên buồng phòng vẫn chưa đạt chuẩn, từ thái độ phục vụ, cung cách làm việc. Như vây, Cộng đồng Kinh tế ASEAN đã chính thức thành lập, du lịch là 1 trong 12 ngành được ưu tiên hội nhập và là 1 trong 8 ngành được tự do di chuyển lao động theo thỏa thuận công nhận lẫn nhau về nghề.

Việt Nam sẽ phải tham gia thực hiện Thỏa thuận về Nghề Du lịch ASEAN (MRA-TP). Việc thực hiện thỏa thuận này vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với du lịch Việt Nam. Thỏa thuận này cho phép người lao động trong khối ASEAN có thể sang làm việc ở Việt Nam và ngược lại. Vì vậy, nguồn nhân lực du lịch Việt Nam nếu không nâng cao trình độ chuyên môn, thì du lịch Việt Nam sẽ thua ngay trên sân nhà.

Bên cạnh đó với kinh nghiệm lâu năm, tiềm lực tài chính mạnh, của du lịch Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, du lịch Việt Nam không những mất thị trường mà còn có khả năng mất nguồn nhân lực chất lượng cao, do các doanh nghiệp du lịch ASEAN thu hút lao động tay nghề cao của Việt Nam bằng các điều kiện làm việc chuyên nghiệp và mức thu nhập cao. Tình trạng chảy máu chất xám này sẽ làm suy giảm khả năng phát triển của du lịch Việt Nam. 3 Có nhiều nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển của du lịch Việt Nam trong điều kiện hội nhập, trong đó có vai trò của nhà nước là một trong những nguyên nhân quan trọng. Nhiều năm qua, Nhà nước luôn đánh giá cao vị trí và vai trò của ngành du lịch và quan tâm hỗ trợ ngành du lịch thông qua nhiều chủ trương, chính sách.

Ngày 22 tháng 7 năm 2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 97/2002/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010. Mục tiêu của Quyết định này là phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, tạo điều kiện và hướng dẫn cho các doanh nghiệp ngành du lịch xây dựng kế hoạch, huy động tối đa nguồn lực trong nước và tranh thủ sự hợp tác hỗ trợ quốc tế, khai thác có hiệu quả điều kiện tự nhiên, truyền thống văn hóa lịch sử, tăng dần thị phần trên thị trường truyền thống, nâng dần vị thế trên thị trường mới. Để tạo ra khuôn khổ, cơ sở pháp lý cho sự hoạt động của ngành Du lịch, Luật Du lịch 2005 được ban hành, tuy nhiên trong triển khai thực tiễn cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Với mục tiêu du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP; đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, đa dạng, có chất lượng cao, có thương hiệu, đáp ứng các yêu cầu mới về hội nhập và phát triển, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới; phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2473/QĐ-TTg Phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

Tiếp đó, ngày 08/12/2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 92/NQ-CP Về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới. Để triển khai thực hiện Nghị quyết số 92/NQ-CP đạt hiệu quả cao, ngày 02/7/2015 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị Số: 14/CT-TTg Về việc tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch. Để đạt mục tiêu du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngày 16 tháng 01 năm 2017, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn với rất nhiều giải pháp đồng bộ. Đồng thời, Luật Du lịch 2017 đã được ban hành, đây là một trong những dấu ấn quan trọng nhất của ngành Du lịch trong thời gian qua.

Trên thực tế, Nhà nước đã có nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện để du lịch Việt Nam phát triển. Song trong điều kiện hình thành AEC nhiều chính sách, luật pháp về du lịch còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa thực sự thông thoáng, hiệu quả chưa cao; một số quy định chưa phù hợp, còn bất cập khi triển khai trong thực tiễn. Một số chính sách về du lịch; văn bản quy phạm pháp luật ban hành chậm so với 4 yêu cầu, hiệu quả, hiệu lực thấp. Mặt khác những vấn đề này cũng chưa thường xuyên được kiểm tra, tổng kết rút kinh nghiệm, thể hiện rõ trong việc quản lý tài nguyên, xây dựng quy hoạch, xây dựng cơ chế quản lý, bố trí vốn.

Có thể thấy, đứng ở góc độ hội nhập, sự phát triển của du lịch Việt Nam còn rất nhiều khó khăn và thách thức. Do đó, để nâng cao sức cạnh tranh và sự phát triển bền vững của du lịch Việt Nam, rất cần đến vai trò của Nhà nước. Với cách tiếp cận đó, nghiên cứu sinh chọn hướng nghiên cứu: “Vai trò của Nhà nước đối với phát triển du lịch Việt Nam sau khi hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)” để thực hiện luận án tiến sĩ của mình. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2.

Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu vai trò của nhà nước đối với phát triển du lịch Việt Nam sau khi hình thành AEC, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của nhà nước để du lịch Việt Nam phát triển hiệu quả trong điều kiện hình thành AEC.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Vai trò Nhà nước phát triển Du lịch Việt Nam sau AEC (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/kinh-te/kinh-te-quoc-te/vai-tro-nha-nuoc-phat-trien-du-lich-viet-nam-sau-aec

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Vai trò Nhà nước phát triển Du lịch Việt Nam sau AEC" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án nghiên cứu vai trò của nhà nước trong phát triển du lịch Việt Nam sau khi hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).

Luận án "Vai trò Nhà nước phát triển Du lịch Việt Nam sau AEC" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Vai trò Nhà nước phát triển Du lịch Việt Nam sau AEC" thuộc chuyên ngành Du lịch. Danh mục: Kinh Tế Quốc Tế.

Luận án "Vai trò Nhà nước phát triển Du lịch Việt Nam sau AEC" có bao nhiêu trang?

Luận án "Vai trò Nhà nước phát triển Du lịch Việt Nam sau AEC" có 205 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Vai trò Nhà nước phát triển Du lịch Việt Nam sau AEC" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter