Luận án tiến sĩ: Tự do hóa di chuyển lao động chuyên môn trong ASEAN
Luận án tự do hóa di chuyển lao động chuyên môn trong ASEAN. Phân tích tác động kinh tế-pháp luật đối với Việt Nam. Đề xuất chính sách cạnh tranh.
Số trang
174
Thời gian đọc
27 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Bối cảnh tự do di chuyển lao động chuyên môn ASEAN
- Số trang:
- 174 trang
- Chuyên ngành:
- Kinh tế
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Bối cảnh tự do di chuyển lao động chuyên môn ASEAN
Tổng quan về xu hướng di chuyển lao động quốc tế và nội khối ASEAN. Ngày 31/12/2015, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức thành lập. Chính sách tự do dịch chuyển lao động có tay nghề mở ra dòng lưu chuyển nhân lực mới. Quy mô di cư nội khối chiếm khoảng 40% tổng số lao động di cư khu vực. Dù vậy, tỷ trọng lao động chuyên môn chất lượng cao vẫn còn khiêm tốn. Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia đặt ra nhiều bài toán quản lý. Việc khai thác tiềm năng nguồn nhân lực đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các thành viên. Hiệp định di chuyển thể nhân tạo nền móng mở rộng không gian việc làm cho người lao động. Các nước phải chủ động điều chỉnh cơ chế thị trường nhằm thích ứng với làn sóng hội nhập mới.
1.1. Xu hướng dịch chuyển lao động nội khối ASEAN
Dòng dịch chuyển lao động có tay nghề giữa các nước Đông Nam Á đang gia tăng nhanh chóng. Hiện có khoảng 13 đến 15 triệu lao động di cư trong toàn khu vực ASEAN. Trong đó, luồng di chuyển nội khối đạt gần 5,9 triệu người, chiếm tỷ trọng 40%. Các trung tâm tiếp nhận chính gồm Singapore, Malaysia và Thái Lan. Dòng người lao động tìm kiếm cơ hội nâng cao thu nhập và tích lũy kinh nghiệm. Tuy nhiên, luồng lao động phổ thông vẫn chiếm đa số tuyệt đối. Tỷ lệ lao động kỹ năng cao di chuyển nội khối hiện vẫn còn ở mức rất thấp. Thực tế này phản ánh khoảng cách lớn về trình độ công nghệ giữa các thành viên. Các quốc gia phát triển thu hút chuyên gia giỏi, trong khi các nước đang phát triển chủ yếu xuất khẩu lao động phổ thông.
1.2. Vai trò của Cộng đồng Kinh tế ASEAN AEC
Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) tạo tiền đề thể chế cho việc lưu chuyển tự do hàng hóa, dịch vụ và lao động. Chính sách di chuyển thể nhân giúp kết nối thị trường việc làm khu vực. Các nước thành viên cam kết thúc đẩy dòng lưu chuyển nhân lực chuyên môn nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển. Thị trường chung tạo động lực chuyển giao công nghệ và phân bổ lại nguồn lực sản xuất. Dù vậy, sự phân hóa về trình độ khoa học và biến động dân số vẫn là rào cản lớn. Các quốc gia thành viên đang nỗ lực đồng bộ hóa chính sách để phát huy tối đa lợi ích chung. Môi trường pháp lý minh bạch sẽ khuyến khích các chuyên gia tự tin dịch chuyển công tác. Đây là chìa khóa thúc đẩy thịnh vượng kinh tế toàn khu vực.
II. Khung pháp lý và thỏa thuận công nhận lẫn nhau MRA
Cơ chế pháp lý đóng vai trò quyết định trong việc hiện thực hóa tự do hóa lao động. Các quốc gia Đông Nam Á đã ký kết Thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất. MRA cho phép thừa nhận trình độ chuyên môn, văn bằng và chứng chỉ hành nghề khu vực. Đồng thời, Khung tham chiếu trình độ ASEAN (AQRF) được triển khai nhằm đối sánh hệ thống văn bằng quốc gia. Cơ chế này bảo đảm tính tương thích giữa các chuẩn mực đào tạo. Việc thực thi đồng bộ giúp giảm thiểu các rào cản hành chính đối với nhân lực kỹ thuật cao. Thể chế thông thoáng là điều kiện tiên quyết để dòng tri thức lưu thông thông suốt.
2.1. Quy định cho 8 ngành nghề tự do dịch chuyển ASEAN
Khu vực ASEAN đã hoàn tất đàm phán thỏa thuận cho 8 ngành nghề tự do dịch chuyển ASEAN. Danh mục này bao gồm nha khoa, điều dưỡng, kỹ thuật công trình, kiến trúc, kế toán, kiểm toán, khảo sát và du lịch. Mỗi ngành nghề có bộ quy chuẩn riêng về trình độ học vấn, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp. Người lao động đáp ứng đủ tiêu chuẩn có thể đăng ký hành nghề tại quốc gia khác trong khối. Dù vậy, việc thực thi vẫn phụ thuộc vào luật pháp và quy định quản lý lao động nước ngoài của từng nước sở tại. Các rào cản phi thuế quan và thủ tục cấp phép vẫn tồn tại. Việc đơn giản hóa quy trình xin giấy phép lao động là mục tiêu trọng tâm trong giai đoạn tới.
2.2. Vai trò của Khung tham chiếu trình độ ASEAN AQRF
Khung tham chiếu trình độ ASEAN (AQRF) là công cụ so sánh chuẩn đầu ra giáo dục giữa các quốc gia. AQRF gồm 8 bậc trình độ, bao quát từ giáo dục phổ thông đến sau đại học. Công cụ này tạo nền tảng đối chiếu Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia của từng nước với mặt bằng chung khu vực. Khi trình độ được quy đổi minh bạch, doanh nghiệp dễ dàng đánh giá đúng năng lực ứng viên. Hệ thống này cũng thúc đẩy việc cấp Chứng chỉ hành nghề khu vực cho các chuyên gia. Sự liên thông văn bằng giúp rút ngắn thời gian thẩm định hồ sơ tuyển dụng nhân sự quốc tế. Việc chuẩn hóa trình độ mở đường cho sự công nhận kỹ năng toàn diện giữa các nước thành viên.
III. Thực trạng nguồn nhân lực và năng suất tại Việt Nam
Việt Nam sở hữu quy mô dân số lớn với lực lượng lao động dồi dào trên 54,8 triệu người. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số trưởng thành đạt mức xấp xỉ 98%. Nguồn nhân lực trẻ tạo lợi thế cạnh tranh về số lượng trong việc cung ứng lao động cho khu vực. Tuy nhiên, chất lượng nhân lực và năng suất lao động vẫn là điểm nghẽn lớn. Khoảng cách về năng suất giữa Việt Nam và các nước tiên tiến trong ASEAN còn rất rộng. Tỷ lệ lao động có chứng chỉ đào tạo bài bản còn thấp so với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là thách thức căn bản cần giải quyết dứt điểm để phát triển kinh tế bền vững.
3.1. Hạn chế về tỷ lệ lao động qua đào tạo và kỹ năng
Lực lượng lao động Việt Nam đông đảo nhưng thiếu hụt lao động chuyên môn chất lượng cao. Theo Tổng cục Thống kê, chỉ 21,4% lao động từ 15 tuổi trở lên có bằng cấp hoặc chứng chỉ chuyên môn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tại khu vực thành thị đạt 37,9%, trong khi nông thôn chỉ đạt 13,7%. Đa số lao động còn yếu về ngoại ngữ, đặc biệt là khả năng giao tiếp tiếng Anh chuyên ngành. Kỹ năng công nghệ thông tin, năng lực làm việc nhóm và tác phong công nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu. Nhiều doanh nghiệp phải tốn kém chi phí để đào tạo lại nhân sự mới tuyển dụng. Sự mất cân đối giữa đào tạo và nhu cầu tuyển dụng đang cản trở tiến trình hội nhập.
3.2. Khoảng cách năng suất lao động so với khu vực
Năng suất lao động của Việt Nam còn khoảng cách rất xa so với mặt bằng chung ASEAN. Năm 2016, tính theo sức mua tương đương, năng suất lao động Việt Nam chỉ đạt 9.894 USD. Con số này tương đương 7% năng suất của Singapore và 17,6% so với Malaysia. Năng suất lao động Việt Nam cũng chỉ bằng 36,5% Thái Lan, 42,3% Indonesia và 56,7% Philippines. Thậm chí chỉ số này chỉ đạt 87,4% so với nước láng giềng Lào. Năng suất thấp làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế trên trường quốc tế. Việc chậm đổi mới công nghệ và tổ chức sản xuất là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này. Nâng cao năng suất lao động là yêu cầu sống còn cho tương lai tăng trưởng.
IV. Cơ hội và thách thức cạnh tranh nguồn nhân lực AEC
Tiến trình hội nhập AEC mở ra nhiều triển vọng nhưng cũng mang lại áp lực to lớn cho thị trường việc làm. Việc mở cửa thị trường dịch vụ tạo điều kiện cho dòng vốn đầu tư và công nghệ mới đổ về. Người lao động có cơ hội tiếp cận môi trường làm việc chuyên nghiệp chuẩn quốc tế. Ngược lại, làn sóng nhập cư của chuyên gia ngoại quốc gia tăng sức ép việc làm nội địa. Sự cạnh tranh nguồn nhân lực diễn ra khốc liệt ngay trên sân nhà giữa lao động trong và ngoài nước. Đồng thời, nguy cơ chảy máu chất xám đang đặt ra nhiều lo ngại cho các nhà hoạch định chính sách. Thách thức này đòi hỏi chiến lược thích ứng linh hoạt và toàn diện.
4.1. Cơ hội tiếp thu công nghệ và chuyển giao kinh nghiệm
Di chuyển thể nhân tạo điều kiện cho chuyên gia nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam. Sự hiện diện của các kỹ sư và nhà quản lý quốc tế thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ. Doanh nghiệp trong nước có cơ hội học hỏi quy trình quản trị hiện đại và phương pháp làm việc tiên tiến. Đội ngũ nhân sự bản địa được trau dồi kỹ năng chuyên môn thông qua quá trình làm việc chung. Việc hội nhập cũng thúc đẩy các trường đại học và cơ sở dạy nghề đổi mới giáo trình. Người lao động có động lực tự nâng cao trình độ để đáp ứng chuẩn mực khu vực. Nguồn cảm hứng từ môi trường quốc tế tạo đòn bẩy phát triển tư duy nghề nghiệp hiện đại.
4.2. Áp lực cạnh tranh việc làm và nguy cơ chảy máu chất xám
Việc dỡ bỏ rào cản lao động khiến lao động trong nước đối mặt với nguy cơ mất việc làm chuyên môn cao. Nhân sự từ Singapore, Malaysia hay Philippines có lợi thế vượt trội về tiếng Anh và kỹ năng quản lý. Họ dễ dàng nắm giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong các tập đoàn đa quốc gia tại Việt Nam. Bên cạnh đó, hiện tượng chảy máu chất xám gia tăng khi nhân lực giỏi di chuyển sang các nước có thu nhập cao. Nền kinh tế đối diện nguy cơ thiếu hụt đội ngũ chuyên gia nòng cốt trong các ngành kỹ thuật mũi nhọn. Điều này đòi hỏi chính sách đãi ngộ hợp lý để giữ chân nhân tài. Bảo vệ và phát triển tài năng nội địa là bài toán cấp bách.
V. Giải pháp nâng cao chất lượng lao động chuyên môn
Để chủ động nắm bắt cơ hội từ AEC, việc tái cơ cấu và nâng cao chất lượng đào tạo nghề là yêu cầu cấp thiết. Nhà nước cần hoàn thiện thể chế và chuẩn hóa hệ thống văn bằng chứng chỉ. Doanh nghiệp cần chủ động phối hợp với cơ sở đào tạo để phát triển kỹ năng thực chiến cho người học. Bản thân người lao động phải tích cực trau dồi ngoại ngữ, kỹ năng mềm và tác phong công nghiệp. Việc xây dựng Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia tương thích với khu vực là bước đi đột phá. Những giải pháp này giúp nâng cao vị thế của nhân lực Việt trên thị trường quốc tế. Nâng cao năng lực cạnh tranh là con đường duy nhất để khẳng định vị thế quốc gia.
5.1. Hoàn thiện Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia
Các cơ quan quản lý cần đẩy mạnh việc xây dựng và chuẩn hóa Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Tiêu chuẩn nghề nghiệp phải bám sát đòi hỏi thực tế của doanh nghiệp và Khung tham chiếu trình độ ASEAN (AQRF). Cần thiết lập hệ thống khảo thí và cấp Chứng chỉ hành nghề khu vực độc lập, minh bạch. Việc liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp cần được thể chế hóa bằng các chính sách ưu đãi thuế. Chương trình giảng dạy cần chú trọng ứng dụng công nghệ số, thực hành thực tế và giải quyết vấn đề. Sự đồng bộ chuẩn mực giúp nhân lực Việt Nam tự tin hội nhập thị trường ASEAN. Đạt chuẩn kỹ năng khu vực là chìa khóa mở cánh cửa di chuyển lao động quốc tế.
5.2. Đẩy mạnh đào tạo ngoại ngữ và kỹ năng hội nhập
Ngoại ngữ và kỹ năng mềm là chìa khóa then chốt để người lao động vươn ra thị trường khu vực. Cần đưa tiếng Anh chuyên ngành và kỹ năng tin học thành chuẩn đầu ra bắt buộc tại các cơ sở đào tạo. Song song đó, việc bồi dưỡng văn hóa doanh nghiệp quốc tế và pháp luật các nước ASEAN cần được đẩy mạnh. Người lao động cần rèn luyện tính kỷ luật, tư duy phản biện và khả năng thích ứng với môi trường đa văn hóa. Các chương trình trao đổi sinh viên, thực tập sinh quốc tế cần được mở rộng thường xuyên. Đào tạo toàn diện giúp lao động vững vàng trước sự cạnh tranh toàn cầu. Nâng cao kỹ năng hội nhập tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp bền vững.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (174 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộTính cấp thiết của đề tài Di chuyển lao động là “một xu hướng đã và đang diễn ra giữa các nền kinh tế các quốc gia trên thế giới. Việc này đem lại những lợi ích to lớn cho cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu lao động” [2, tr. Tại ASEAN, dòng di chuyển lao động nội khối đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia thành viên. Ngày 31/12/2015, Cộng đồng ASEAN chính thức thành lập, các quốc gia thành viên thực hiện chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môn (skilled labour) thông qua các thỏa thuận về công nhận tay nghề tương đương và di chuyển thể nhân; tạo cơ hội cho người lao động có chuyên môn ở quốc gia này dịch chuyển sang quốc gia khác trong ASEAN, đáp ứng sự thiếu hụt nhân lực, cải thiện thu nhập và tích lũy kinh nghiệm cho bản thân.
Lao động di cư của các nước ASEAN (ước tính khoảng 13-15 triệu người) chiếm 9% tổng số lao động di cư toàn cầu; trong đó di chuyển lao động nội khối chiếm 40% (khoảng 5,9 triệu người) [30, tr.15-16], với những luồng lao động khác nhau về tri thức, trình độ và nghề nghiệp. Thực tế này mở ra cơ hội cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia ASEAN, nhưng cũng đặt các quốc gia này trước những thách thức về phát triển văn hóa, giữ gìn an ninh trật tự và đặc biệt là những tác động đến thị trường lao động; chưa kể đến sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia ASEAN, trình độ lực lượng lao động có khoảng cách lớn, chênh lệch về năng suất và cơ cấu lao động, sự biến động dân số, sự phát triển khoa học công nghệ và tự do hoá thương mại, v. bên cạnh đó, di chuyển lao động có kỹ năng chiếm tỷ lệ rất thấp so với các loại hình di chuyển lao động nội khối ASEAN [30, tr.16], điều này đặt ra những thách thức lớn cho các quốc gia ASEAN trong thực hiện tốt các cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN. Việt Nam là quốc gia có hơn 6 triệu dân (01/4/2019) với số người trong tuổi lao động khá cao.
Năm 2017, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 54,8 triệu người; trong đó lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế đạt 53,7 triệu người (đạt gần gần 98%) [56, tr.75], đây là quốc gia có nhiều tiềm 1 năng về lao động để có thể đáp ứng nhu cầu thiếu hụt lao động của một số quốc gia ASEAN như: Singapore, Malaysia và Thái Lan, đặc biệt khi các quốc gia này thực hiện đầy đủ các cam kết tự do di chuyển lao động có chuyên môn. Tuy nhiên, tận dụng cơ hội từ việc thực hiện chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN không hề dễ dàng vì các quốc gia sẽ có phản ứng khác nhau để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Điều này tạo ra rào cản trong thực hiện đầy đủ các cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong nội khối, Việt Nam không thể tránh khỏi các tác động này. Trong khi đó, dù lực lượng lao động ở Việt Nam tương đối dồi dào nhưng lao động có kỹ năng tay nghề rất hạn chế.
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, năm 2017 chỉ có 21,4% lao động từ 15 tuổi trở lên được đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ; lao động đã qua đào tạo khu vực thành thị đạt 37,9%, khu vực nông thôn đạt 13,7% [56, tr.75]; chất lượng lao động còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hội nhập, ít lao động Việt Nam đủ khả năng làm chủ công nghệ mới. Tính theo sức mua tương đương năm 2011, năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 đạt 9.894 USD, chỉ bằng 7% Singapore; 17,6% Malaysia; 36,5% Thái Lan; 42,3% Indonesia; 56,7% Philippines và 87,4% năng suất lao động của Lào [129]. Các chuyên gia của ILO và ADB cũng cho rằng, lao động Việt Nam thiếu chuyên môn, kỹ năng được trang bị không phù hợp với đòi hỏi của thị trường và nhiều lao động phải đào tạo lại, v. Bên cạnh đó, hiểu biết của lao động Việt Nam về văn hóa doanh nghiệp và pháp luật của nước bạn còn hạn chế, tinh thần làm việc theo nhóm và tác phong công nghiệp chưa tốt, người lao động thiếu cả kỹ năng kỹ thuật và kỹ năng mềm.
Việc không biết sử dụng tiếng Anh và thiếu kỹ năng sử dụng máy vi tính cũng khiến cho doanh nghiệp khó tìm được người lao động phù hợp với yêu cầu công việc [94, tr. iệc thực hiện đầy đủ các cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn tạo cơ hội cho doanh nghiệp tuyển dụng lao động từ các nước trong khối ASEAN, điều này tác động không nhỏ đến thị trường lao động của iệt Nam. Đưa chuyên gia, người lao động nước ngoài vào làm việc tại iệt Nam một mặt giúp 2 chuyển giao công nghệ, tạo cơ hội giao lưu học hỏi kinh nghiệm làm việc, đặc biệt là kinh nghiệm quản lý; nhưng cũng khiến người lao động Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt trong tìm kiếm cơ hội việc làm ngay tại đất nước mình. R ràng việc thực hiện chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN đem lại cả cơ hội và thách thức cho thị trường lao động iệt Nam.
Vì vậy, để biết r những cơ hội và thách thức nhằm phát huy tốt nhất lợi thế của lực lượng lao động iệt Nam, cần có những nghiên cứu sâu hơn. uất phát từ lý do đó, việc nghiên cứu đề tài “Tự o hoá i chuyển lao động có chuy n n trong Cộng đồng inh tế ASEAN và những vấn đề đặt ra cho Việt a ” là cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với nước ta hiện nay. Công trình nghiên cứu sẽ giúp Nhà nước Việt Nam tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thực hiện tốt các cam kết về tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận án là đánh giá thực trạng tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong khu vực ASEAN, từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị để Việt Nam thực hiện tốt tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN. Nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài tập trung giải quyết các nội dung sau: - Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài luận án, từ đó chỉ ra những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu và làm rõ trong luận án. - Khái quát, làm r cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động có chuyên môn; tự do di chuyển lao động có chuyên môn; khái quát quá trình hình thành và phát triển Cộng đồng kinh tế ASEAN cũng như các cam kết về di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN. - Đánh giá thực trạng tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN.
3 - Khái quát các cam kết về tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn mà iệt Nam tham gia; cũng như đánh giá cơ hội và thách thức cho việc thực hiện các cam kết này. - Đề tài đề xuất các giải pháp để Việt Nam thực hiện tốt cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN, nghiên cứu việc thực hiện cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC của các quốc gia ASEAN.
Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu về việc thực hiện chính sách tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN và những cơ hội, thách thức đối với Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết này. - Về không gian: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu việc thực hiện chính sách tự do di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN của các quốc gia ASEAN. - Về thời gian: Tập trung vào quá trình thực hiện các cam kết về tự do di chuyển lao động, đặc biệt từ năm 2006 (từ khi các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN họp lần thứ 38 và ban hành Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC - AEC Blueprint - với các mục tiêu và lộ trình cụ thể cho việc thực hiện AEC) đến nay. Phương pháp nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của luận án 4.
Phương pháp luận Luận án được tiến hành dựa trên cơ sở vận dụng nguyên lý của phép duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tác giả xem xét vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh lịch sử cụ thể với các đặc trưng về kinh tế - văn hóa - chính trị. Trên cơ sở phương pháp luận chung này, luận án được thực hiện với các cách tiếp cận sau: - Cách tiếp cận tổng thể, toàn diện cho phép tác giả nghiên cứu và giải quyết các vấn đề một cách tổng thể và toàn diện từ góc độ lý luận đến góc độ thực tiễn của 4 hội nhập kinh tế nói chung và thực hiện cam kết tự do di chuyển lao động có chuyên môn nói riêng, làm cơ sở, căn cứ cho việc đề xuất các giải pháp để thực hiện tốt cam kết tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong Cộng đồng kinh tế ASEAN ở Việt Nam. - Cách tiếp cận thực tiễn: cách tiếp cận này bảo đảm cho tác giả tiếp cận và giải quyết các vấn đề liên quan đến việc thực hiện các cam kết về tự do hóa di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC của Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đề xuất những kiến nghị và giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam trong thời gian tới.
- Cách tiếp cận hệ thống: việc nghiên cứu vấn đề tự do hoá di chuyển lao động có chuyên môn trong AEC phải được đặt trong tổng thể xây dựng và phát triển Cộng đồng ASEAN, cũng như vấn đề thực hiện tự do hoá di chuyển chuyển lao động có chuyên môn trong AEC của Việt Nam cũng phải được đặt trong tổng thể hội nhập khu vực và quốc tế.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Tự do hóa di chuyển lao động chuyên môn ASEAN và Việt Nam (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/kinh-te/kinh-te-quoc-te/tu-do-hoa-di-chuyen-lao-dong-asean-viet-nam
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Tự do hóa di chuyển lao động chuyên môn ASEAN và Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tự do hóa di chuyển lao động chuyên môn trong ASEAN. Phân tích tác động kinh tế-pháp luật đối với Việt Nam. Đề xuất chính sách cạnh tranh.
Luận án "Tự do hóa di chuyển lao động chuyên môn ASEAN và Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Tự do hóa di chuyển lao động chuyên môn ASEAN và Việt Nam" thuộc chuyên ngành Kinh tế. Danh mục: Kinh Tế Quốc Tế.
Luận án "Tự do hóa di chuyển lao động chuyên môn ASEAN và Việt Nam" có bao nhiêu trang?
Luận án "Tự do hóa di chuyển lao động chuyên môn ASEAN và Việt Nam" có 174 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Tự do hóa di chuyển lao động chuyên môn ASEAN và Việt Nam" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.