Luận án: Năng lực cung ứng dịch vụ logistics doanh nghiệp Việt Nam tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Phân tích năng lực logistics doanh nghiệp Việt Nam tại vùng KTTĐBB, đánh giá ưu thế cạnh tranh và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ.
Số trang
216
Thời gian đọc
33 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tiềm năng phát triển dịch vụ logistics vùng KTTĐBB
- Số trang:
- 216 trang
- Chuyên ngành:
- Logistics
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tiềm năng phát triển dịch vụ logistics vùng KTTĐBB
Việt Nam sở hữu vị trí địa lý chiến lược, tạo nền tảng vững chắc cho ngành logistics. Đặc biệt, vùng Kinh tế Trọng điểm Bắc Bộ (KTTĐBB) có vai trò then chốt trong phát triển kinh tế và thương mại. Ngành logistics quốc gia đang tăng trưởng mạnh mẽ, đóng góp đáng kể vào GDP. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển dịch vụ logistics KTTĐBB, thúc đẩy hoạt động kinh tế khu vực và quốc gia.
1.1. Vị trí địa lý chiến lược hạ tầng logistics miền Bắc
Việt Nam sở hữu vị trí địa lý thuận lợi, tiềm năng to lớn cho ngành logistics. Quốc gia có hơn 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thủy. Hệ thống cảng biển phát triển với 44 cảng, 219 bến cảng, cùng 20 sân bay, hàng trăm cửa khẩu quốc tế. Hạ tầng logistics miền Bắc đặc biệt phát triển mạnh mẽ, nhất là tại vùng Kinh tế Trọng điểm Bắc Bộ (KTTĐBB). Vùng này đóng vai trò cửa ngõ quan trọng, kết nối các tỉnh phía Bắc Việt Nam với biển Đông, và là cầu nối thị trường rộng lớn từ Đông Bắc Á sang khu vực ASEAN và ngược lại.
1.2. Quy mô tốc độ tăng trưởng ngành logistics Việt Nam
Ngành logistics Việt Nam đạt quy mô ấn tượng, ước tính 20-22 tỷ USD mỗi năm. Ngành đóng góp khoảng 20,9% vào GDP cả nước. Tốc độ tăng trưởng hàng năm duy trì ở mức cao, trung bình 20-25%. Logistics được đánh giá là xương sống của nền kinh tế quốc gia. Ngành đóng vai trò then chốt trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế ở Việt Nam. Đây là nền tảng vững chắc cho sự phát triển dịch vụ logistics KTTĐBB, tạo động lực cho các doanh nghiệp.
1.3. Vai trò trung tâm kinh tế của vùng KTTĐBB
Vùng KTTĐBB bao gồm 7 tỉnh, thành phố trọng điểm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hải Dương. Vùng có vị trí đặc biệt trong phát triển kinh tế, là cửa ngõ "vào - ra" quan trọng. KTTĐBB bao chứa vùng Thủ đô Hà Nội, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ của cả nước. Vùng còn nằm trên hai hành lang và một vành đai kinh tế trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Vị trí địa lý này mang lại điều kiện thuận lợi riêng có để phát triển kinh tế, thương mại, đặc biệt trong lĩnh vực logistics so với các vùng khác.
II. Đánh giá năng lực cung ứng dịch vụ logistics doanh nghiệp Việt
Doanh nghiệp logistics tại KTTĐBB có số lượng lớn nhưng chủ yếu là quy mô nhỏ, tập trung ở các dịch vụ cơ bản. Thị phần của doanh nghiệp nội địa còn hạn chế. Nguồn nhân lực logistics thiếu đào tạo bài bản cùng với ứng dụng công nghệ lạc hậu là những điểm yếu cần cải thiện. Đánh giá năng lực logistics cho thấy sự cần thiết phải nâng cao chất lượng dịch vụ để cạnh tranh với các đối thủ quốc tế.
2.1. Số lượng đặc điểm doanh nghiệp logistics tại KTTĐBB
Theo thống kê, vùng KTTĐBB hiện có khoảng 10.878 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ logistics. Con số này chiếm 29,2% tổng số doanh nghiệp logistics của cả nước, đứng thứ hai sau vùng KTTĐNB. Các doanh nghiệp tại đây chủ yếu cung ứng dịch vụ vận tải, kho bãi và bốc dỡ. Hoạt động của họ tập trung phần lớn tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Hải Phòng. Việc đánh giá năng lực logistics của những doanh nghiệp này là cần thiết để hiểu rõ bức tranh toàn cảnh.
2.2. Phạm vi hoạt động thị phần của doanh nghiệp nội địa
Phần lớn doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng KTTĐBB có quy mô vừa và nhỏ. Vốn điều lệ bình quân khoảng 20 tỷ đồng. Ngoại trừ các doanh nghiệp nhà nước đang được cổ phần hóa, hầu hết là doanh nghiệp trẻ, năng động, hình thành từ các công ty nhà nước hoặc liên doanh. Doanh nghiệp nội địa chiếm 98% tổng số doanh nghiệp logistics ở Việt Nam nhưng chỉ nắm giữ gần 25% thị phần. Họ chủ yếu làm đại lý hoặc đảm nhận từng công đoạn cho các doanh nghiệp logistics quốc tế. Phạm vi hoạt động còn bó hẹp ở thị trường nội địa, Trung Quốc và một số vùng lân cận, ít doanh nghiệp hoạt động quốc tế.
2.3. Hạn chế nguồn nhân lực logistics ứng dụng công nghệ
Tỷ lệ nguồn nhân lực logistics được đào tạo bài bản còn thấp, chỉ chiếm 5-7% tổng số nhân lực. Hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ logistics và hiệu quả hoạt động logistics. Công nghệ kỹ thuật còn yếu kém, chưa được ứng dụng rộng rãi trong các quy trình. Trong khi đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như APL, NYK, Linfox, Maersk, K&N, Schenker đang hoạt động rất tích cực tại Việt Nam. Sự chênh lệch này tạo áp lực cạnh tranh lớn, đòi hỏi doanh nghiệp nội địa phải tăng cường ứng dụng công nghệ logistics và đầu tư vào nguồn nhân lực chất lượng cao.
III. Thách thức hạn chế hoạt động logistics doanh nghiệp Việt Nam
Doanh nghiệp logistics Việt Nam đối mặt nhiều thách thức, từ sự thiếu bền vững trong quy trình dịch vụ đến mạng lưới yếu kém và công nghệ lạc hậu. Đặc biệt, áp lực cạnh tranh tăng cao từ các hiệp định thương mại mới đe dọa trực tiếp đến thị phần. Những yếu tố này ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động logistics và khả năng cạnh tranh logistics của doanh nghiệp nội địa.
3.1. Sự thiếu bền vững quy trình dịch vụ chưa hoàn thiện
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, doanh nghiệp logistics Việt Nam tại KTTĐBB đã có những bước trưởng thành đáng kể. Số lượng doanh nghiệp tham gia tăng lên, tính chuyên nghiệp trong cung cấp dịch vụ cũng được cải thiện. Tuy nhiên, sự bứt phá này vẫn chưa bền vững. Các doanh nghiệp còn thiếu quy trình và kỹ năng cần thiết để cung ứng dịch vụ trọn gói. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh logistics và hiệu quả hoạt động logistics, khiến doanh nghiệp khó đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
3.2. Mạng lưới dịch vụ yếu kém công nghệ lạc hậu
Mạng lưới dịch vụ của các doanh nghiệp logistics nội địa thiếu tính kết nối và chưa bao phủ rộng khắp. Công nghệ kỹ thuật còn yếu kém là một hạn chế lớn, cản trở việc tối ưu hóa quy trình. Chính sách dịch vụ khách hàng nhìn chung thiếu tính hấp dẫn, chưa tạo được lợi thế cạnh tranh. Những yếu tố này ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng dịch vụ logistics được cung cấp. Cần có sự đầu tư mạnh mẽ vào ứng dụng công nghệ logistics và mở rộng mạng lưới để nâng cao năng lực.
3.3. Áp lực cạnh tranh từ các hiệp định thương mại mới
Doanh nghiệp logistics trong nước hiện đối mặt với thách thức không nhỏ từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, điển hình là EVFTA. Các hiệp định này cam kết mở rộng thị trường logistics Việt Nam đáng kể hơn so với WTO. Điều này đồng nghĩa với việc các đối thủ đến từ nước ngoài, đặc biệt là EU, sẽ trực tiếp tham gia cung ứng dịch vụ tại Việt Nam. Vai trò trung gian của các doanh nghiệp logistics nội địa sẽ không còn, thị phần tiếp tục giảm sút và áp lực cạnh tranh ngày càng lớn. Thách thức logistics doanh nghiệp Việt Nam đòi hỏi sự thay đổi mạnh mẽ.
IV. Nhu cầu nâng cao khả năng cạnh tranh chất lượng dịch vụ logistics
Để tồn tại và phát triển bền vững, doanh nghiệp logistics Việt Nam cần hiện đại hóa và mở rộng hoạt động. Nâng cao khả năng cạnh tranh logistics và chất lượng dịch vụ là yêu cầu cấp thiết. Việc tăng cường liên kết chuỗi logistics và đầu tư vào giải pháp nâng cao năng lực logistics sẽ giúp doanh nghiệp vượt qua thách thức, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường và phát triển dịch vụ logistics KTTĐBB.
4.1. Sự cần thiết thay đổi hiện đại hóa hoạt động logistics
Nếu không kịp thời thay đổi, các doanh nghiệp logistics trong nước sẽ ngày càng tụt hậu khi hội nhập sâu rộng. Khoảng cách với các doanh nghiệp logistics quốc tế sẽ ngày càng xa. Điều này vừa là thách thức lớn, vừa là động lực để doanh nghiệp logistics trong nước buộc phải thay đổi tư duy và chuyển mình mạnh mẽ. Doanh nghiệp logistics Việt Nam cần phải thay đổi theo hướng hiện đại, mở rộng phạm vi tiếp cận đối với hoạt động logistics để cải thiện hiệu quả hoạt động logistics. Cần tìm giải pháp nâng cao năng lực logistics kịp thời.
4.2. Mở rộng phạm vi tăng cường liên kết chuỗi logistics
Để có thể tồn tại và phát triển bền vững, việc tăng cường khả năng liên kết theo chuỗi giữa các doanh nghiệp logistics là cực kỳ quan trọng. Mục tiêu chính là đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp từ phía khách hàng. Việc này không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ logistics tổng thể. Đánh giá năng lực logistics cần tập trung vào khả năng kết nối và hợp tác trong chuỗi cung ứng.
4.3. Mục tiêu nghiên cứu Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực
Chính vì những lý do trên, việc nghiên cứu năng lực cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp logistics là một yêu cầu mang tính cấp thiết. Mục tiêu của luận án là làm rõ cơ sở khoa học về cả khía cạnh lý luận và thực tiễn. Từ đó, đề xuất những giải pháp nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ, góp phần giúp các doanh nghiệp Việt Nam tăng cường khả năng cạnh tranh logistics. Nghiên cứu sẽ là nền tảng quan trọng cho phát triển dịch vụ logistics KTTĐBB.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (216 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Việt Nam được đánh giá là quốc gia có điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi để phát triển ngành logistics với trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thuỷ, 44 cảng biển với 219 bến cảng, 20 sân bay và hàng trăm cửa khẩu quốc tế, quốc gia lớn nhỏ nằm dọc theo chiều dài đất nước. Với quy mô 20- 22 tỷ USD/năm, chiếm khoảng 20,9% GDP của cả nước, tốc độ tăng trưởng của ngành hàng năm đạt trung bình 20-25%. Những năm gần đây, ngành logistics được đánh gia là xương sống của nền kinh tế và đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Là một trong bốn vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, vùng KTTĐBB bao gồm 7 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hải Dương. Vùng có vị trí đặc biệt trong phát triển kinh tế, cửa ngõ “vào - ra” của các tỉnh phía Bắc của Việt Nam và cửa ngõ mở ra biển Đông, kết nối các thị trường rộng lớn với nhau như Đông Bắc Á với khu vực ASEAN và ngược lại. Bên cạnh đó, vùng KTTĐBB bao chứa vùng Thủ đô Hà Nội, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, công nghệ của cả nước; có hai hành lang và một vành đai kinh tế trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Với vị trí địa lý đặc biệt như vậy, vùng có điều kiện thuận lợi riêng có trong phát triển kinh tế, thương mại so với các vùng khác của đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực logistics.
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch & đầu tư, tại vùng KTTĐBB hiện có khoảng 10.878 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ logistics, chiếm 29,2% số lượng doanh nghiệp logistics của cả nước và đứng thứ hai sau vùng KTTĐNB. Các doanh nghiệp logistics tại đây chủ yếu cung ứng dịch vụ vận tải, kho bãi, bốc dỡ…tập trung phần lớn tại Hà Nội và Hải Phòng. Địa bàn hoạt động vẫn còn bó hẹp tại thị trường nội địa, Trung Quốc và một số vùng lân cận, không nhiều các doanh nghiệp hoạt động ở phạm vi quốc tế. Ngoại trừ các doanh nghiệp Nhà nước đang được cổ phần hóa, hầu hết các doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng KTTĐBB có quy mô vừa và nhỏ, vốn điều lệ bình quân khoảng 20 tỷ đồng, tỷ lệ nguồn nhân lực được đào tạo bài bản về logistics còn chiếm ở mức thấp, chỉ từ 5-7%.
Họ phần lớn là các doanh nghiệp trẻ và năng động, hầu hết bước ra từ những doanh nghiệp Nhà nước hoặc các liên doanh, vốn nước ngoài. Các doanh nghiệp logistics nội địa với số lượng đông đảo chiếm 98% tổng số doanh nghiệp logistics ở Việt Nam nhưng chỉ chiếm gần 25% thị phần (Nguyễn Xuân Minh và cs, 2015), với các công việc chủ yếu là làm đại lý hoặc đảm nhận từng công đoạn cho các doanh nghiệp logistics quốc tế. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như APL, NYK, Linfox, Maersk, K&N, Schenker.hiện đang hoạt động tích cực trong lĩnh vực logistics ở Việt Nam. 2 Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cũng như các doanh nghiệp logistics trong cả nước, doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng KTTĐBB đã có bước trưởng thành đáng kể về số lượng các doanh nghiệp tham gia cũng như tính chuyên nghiệp trong hoạt động cung cấp dịch vụ.
Nhưng sự bứt phá này vẫn chưa bền vững, còn thiếu quy trình và kỹ năng cung ứng dịch vụ trọn gói, mạng lưới dịch vụ thiếu kết nối và chưa bao phủ rộng, công nghệ kỹ thuật còn yếu kém, chính sách dịch vụ khách hàng nhìn chung thiếu tính hấp dẫn. Trong khi đó, các doanh nghiệp logistics trong nước hiện đang phải đối mặt với một thách thức không nhỏ là theo cam kết của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới vừa được ký kết, điển hình là EVFTA, ngành logistics Việt Nam phải mở rộng đáng kể hơn so với mức độ mở rộng trong WTO. Điều này đồng nghĩa với việc các đối thủ đến từ nước ngoài, đặc biệt là EU sẽ trực tiếp tham gia cung ứng dịch vụ tại Việt Nam, vai trò trung gian của các doanh nghiệp logistics nội địa sẽ không còn, thị phần tiếp tục giảm sút, áp lực cạnh tranh ngày càng lớn. Nếu không kịp thời thay đổi, càng hội nhập thì các doanh nghiệp logistics trong nước càng tụt hậu và khoảng cách với các doanh nghiệp logistics quốc tế sẽ ngày càng xa.
Đây vừa là thách thức nhưng cũng là động lực để các doanh nghiệp logistics trong nước buộc phải thay đổi tư duy và chuyển mình mạnh mẽ. Để có thể tồn tại và phát triển bền vững thì doanh nghiệp logistics Việt Nam cần phải thay đổi theo hướng hiện đại, mở rộng phạm vi tiếp cận đối với hoạt động logistics, tăng cường khả năng liên kết theo chuỗi giữa các doanh nghiệp logistics với mục tiêu đáp ứng tốt hơn yêu cầu từ phía khách hàng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu năng lực cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp logistics là một yêu cầu mang tính cấp thiết. Xuất phát từ các phân tích trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn nội dung đề tài nghiên cứu là:“Nghiên cứu năng lực cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU - Mục tiêu nghiên cứu: Luận án làm rõ cơ sở khoa học về cả khía cạnh lý luận và thực tiễn cho việc đề xuất những giải pháp nâng cao NLCUDV, góp phần giúp các doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng KTTĐBB tồn tại và phát triển trong bối cảnh hiện nay. - Nhiệm vụ nghiên cứu: + Hệ thống hóa, bổ sung và phát triển một số vấn đề lý luận về NLCUDV của doanh nghiệp logistics; + Phân tích, đánh giá thực trạng NLCUDV của doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng KTTĐBB. Trong đó, luận án thực hiện 2 khảo sát dành cho doanh nghiệp logistics và khách hàng sử dụng dịch vụ logistics tại vùng KTTĐBB. Bên 3 cạnh đó, luận án cũng phân tích thực trạng NLCUDV tại 2 doanh nghiệp thông qua phương pháp phân tích tình huống; + Đề xuất những giải pháp có cơ sở khoa học nhằm nâng cao NLCUDV của doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng KTTĐBB.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề về lý luận, thực tiễn về NLCUDV của doanh nghiệp logistics và thực trạng NLCUDV của doanh nghiệp Việt Nam tại vùng KTTĐBB, tiếp cận theo quan điểm quản trị dựa trên năng lực. - Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: nghiên cứu các doanh nghiệp logistics Việt Nam có trụ sở chính tại vùng KTTĐBB. Trong nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp logistics thuần túy chuyên cung ứng dịch vụ cho các doanh nghiệp khác mà không thực hiện chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa. + Về thời gian: các nghiên cứu thực tế giới hạn chủ yếu trong khoảng thời gian từ năm 2010 - 2019 với dữ liệu thứ cấp; dữ liệu sơ cấp được điều tra trong khoảng thời gian từ 10/2018 đến 5/2019; đề xuất giải pháp đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
+ Về nội dung: luận án tập trung phân tích NLCUDV của doanh nghiệp logistics dựa trên các yếu tố cấu thành NLCUDV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4. Quy trình nghiên cứu Quy trình nghiên cứu của luận án được được minh họa tại hình 0. Quy trình này được thực hiện thông qua tổng quan sơ bộ về tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án nhằm phát phát hiện khoảng trống nghiên cứu.
Từ đó, nghiên cứu sinh xác định vấn đề nghiên cứu của luận án là “năng lực cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp logistics”. Để giải quyết vấn đề đặt ra, nghiên cứu sinh đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Nhiệm vụ sau khi xác định vấn đề nghiên cứu, là tổng quan chi tiết về tình hình nghiên cứu, khẳng định lại khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu, xác định các yếu tố cấu thành NLCUDV của doanh nghiệp logistics. Tiếp theo, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về NLCUDV đã được thực hiện ở các công trình nghiên cứu trước đây, từ đó hình thành mô hình khung nghiên cứu và xây dựng đề cương nghiên cứu của đề tài.
Cuối cùng, trên cơ sở tổng hợp dữ liệu thu thập được; nghiên cứu sinh tiến hành phân tích, xử lý dữ liệu và đưa ra các kết luận, đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao NLCUDV của doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng KTTĐBB.1: Quy trình nghiên cứu (Nguồn: Minh họa của NCS) Quy trình này được thực hiện thông qua tổng quan sơ bộ về tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án nhằm phát phát hiện khoảng trống nghiên cứu. Từ đó, nghiên cứu sinh xác định vấn đề nghiên cứu của luận án là “năng lực cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp logistics”. Để giải quyết vấn đề đặt ra, nghiên cứu sinh đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Nhiệm vụ sau khi xác định vấn đề nghiên cứu, là tổng quan chi tiết về tình hình nghiên cứu, khẳng định lại khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu, xác định các yếu tố cấu thành NLCUDV của doanh nghiệp logistics.
Tiếp theo, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về NLCUDV đã được thực hiện ở các công trình nghiên cứu trước đây, từ đó hình thành mô hình khung nghiên cứu và xây dựng đề cương nghiên cứu của đề tài. Cuối cùng, trên cơ sở tổng hợp dữ liệu thu thập được; nghiên cứu sinh tiến hành phân tích, xử lý dữ liệu và đưa ra các kết luận, đề xuất các giải pháp và khuyến 5 nghị nhằm nâng cao NLCUDV của doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng KTTĐBB. Mô hình nghiên cứu Từ các lý thuyết về nguồn lực, năng lực về dịch vụ logistics và các doanh nghiệp logistics cũng như các tài liệu về NLCUDV nói chung và dịch vụ logistics nói riêng. Trong nghiên cứu, này nghiên cứu sinh đề xuất mô hình nghiên cứu của luận án thể hiện ở hình 0.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Năng lực cung ứng dịch vụ logistics doanh nghiệp Việt Nam vùng KTTĐBB (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/kinh-te/kinh-te-quoc-te/luan-an-nghien-cuu-nang-luc-cung-ung-dich-vu-cua-doanh-nghiep-logistics-viet
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Năng lực cung ứng dịch vụ logistics doanh nghiệp Việt Nam vùng KTTĐBB" nghiên cứu về vấn đề gì?
Phân tích năng lực logistics doanh nghiệp Việt Nam tại vùng KTTĐBB, đánh giá ưu thế cạnh tranh và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ.
Luận án "Năng lực cung ứng dịch vụ logistics doanh nghiệp Việt Nam vùng KTTĐBB" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Năng lực cung ứng dịch vụ logistics doanh nghiệp Việt Nam vùng KTTĐBB" thuộc chuyên ngành Logistics. Danh mục: Kinh Tế Quốc Tế.
Luận án "Năng lực cung ứng dịch vụ logistics doanh nghiệp Việt Nam vùng KTTĐBB" có bao nhiêu trang?
Luận án "Năng lực cung ứng dịch vụ logistics doanh nghiệp Việt Nam vùng KTTĐBB" có 216 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Năng lực cung ứng dịch vụ logistics doanh nghiệp Việt Nam vùng KTTĐBB" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.