Luận án tiến sỹ giải pháp phát triển vùng mía nguyên liệu Bắc Trung Bộ
Luận án: Giải pháp phát triển vùng mía nguyên liệu cho CN chế biến đường Bắc Trung Bộ. Nâng cao năng suất, chất lượng, bền vững.
Số trang
205
Thời gian đọc
31 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I.Nông nghiệp Việt Nam Vai trò Chương trình mía đường
Nông nghiệp Việt Nam đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội. Ngành này giữ vững ổn định chính trị, xã hội, tạo nền tảng vững chắc cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việt Nam đang chuyển dịch từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa lớn, hướng mạnh ra xuất khẩu. Việc hình thành các vùng chuyên môn hóa cao, gắn với công nghiệp chế biến, là yêu cầu khách quan. Chương trình phát triển mía đường, khởi động từ năm 1995, là một trong những chương trình nông nghiệp trọng điểm quốc gia. Chương trình này đã góp phần đáng kể vào định hình ngành nông nghiệp hiện đại.
1.1. Vai trò nông nghiệp trong kinh tế Việt Nam
Nông nghiệp là trụ cột kinh tế. Dân số Việt Nam đông, ngành công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển toàn diện. Nông nghiệp đảm bảo an ninh lương thực. Nó còn tạo việc làm, ổn định cuộc sống người dân. Đây là bệ phóng cho các ngành kinh tế khác. Phát triển nông nghiệp bền vững là ưu tiên hàng đầu.
1.2. Chương trình phát triển mía đường quốc gia
Chương trình phát triển mía đường là nỗ lực lớn của Việt Nam. Chương trình này được triển khai trong cơ chế quản lý kinh tế mới. Vốn đầu tư chủ yếu từ tín dụng trong và ngoài nước. Khác với các chương trình cây công nghiệp trước đây, người sản xuất tự chịu trách nhiệm về tiêu thụ sản phẩm mía và đường. Mục tiêu đạt 1 triệu tấn đường vào năm 2000 đã được tổng thể hoàn thành. Chương trình tạo động lực lớn cho ngành đường.
II.Thực trạng vùng mía nguyên liệu Bắc Trung Bộ
Chương trình phát triển mía đường đã bộc lộ nhiều hạn chế. Mất cân đối giữa vùng nguyên liệu và các cơ sở chế biến là vấn đề lớn. Vùng Bắc Trung Bộ, một khu vực trọng điểm, đang gặp nhiều khó khăn trong phát triển mía nguyên liệu. Mặc dù có nhiều nhà máy đường được đầu tư công nghệ hiện đại, kết quả sản xuất chung chưa đạt kỳ vọng. Nhiều nhà máy đứng trước nguy cơ không trả được vốn vay. Việc đánh giá đúng thực trạng là cần thiết.
2.1. Hạn chế chương trình mía đường hiện tại
Chương trình mía đường đạt mục tiêu ban đầu. Tuy nhiên, hiệu quả tổng thể chưa cao. Sự mất cân đối giữa diện tích trồng mía và công suất nhà máy đường gây ra nhiều hệ lụy. Nguồn cung cấp mía không ổn định. Chất lượng mía không đồng đều. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các nhà máy chế biến đường.
2.2. Khó khăn cụ thể vùng Bắc Trung Bộ
Vùng Bắc Trung Bộ đối mặt nhiều thách thức. Phát triển mía nguyên liệu tại đây chưa tương xứng tiềm năng. Khu vực này có 7 nhà máy đường. Các nhà máy này đầu tư nhiều công nghệ từ các nước phát triển. Công suất dao động từ 350 tấn mía/ngày. Vùng này có điều kiện tự nhiên đa dạng, nhưng chưa khai thác hiệu quả cho mía.
2.3. Tình hình công nghệ nhà máy đường khu vực
Nhiều nhà máy đường ở Bắc Trung Bộ trang bị công nghệ hiện đại. Ví dụ điển hình là Nhà máy đường Nghệ An - Tate&Lyle, Đường Việt - Đài, Đường Lam Sơn số 2. Thiết bị công nghệ của các nhà máy cơ bản đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Tuy nhiên, hiệu suất sản xuất chưa cao. Điều này khiến một số nhà máy đối mặt với khó khăn tài chính, nợ nần.
III.Vấn đề sống còn Phát triển mía nguyên liệu ổn định
Đối với các nhà máy đường tại Bắc Trung Bộ, nguồn cung cấp nguyên liệu mía ổn định là yếu tố sống còn. Nhu cầu về số lượng, chất lượng, giá cả hợp lý và khả năng rải vụ mía là cực kỳ cấp thiết. Không có nguyên liệu ổn định, nhà máy không thể hoạt động hiệu quả, dẫn đến thua lỗ và nguy cơ phá sản. Việc tìm kiếm và áp dụng các giải pháp để đảm bảo nguồn cung là ưu tiên hàng đầu của ngành đường khu vực.
3.1. Nhu cầu cấp thiết về nguyên liệu mía
Nhà máy đường cần nguồn mía ổn định về sản lượng. Chất lượng mía phải đảm bảo. Giá cả mía cần hợp lý để đảm bảo lợi nhuận cho cả nông dân và nhà máy. Việc rải vụ thu hoạch mía giúp nhà máy hoạt động liên tục. Điều này tối ưu hóa công suất chế biến, giảm thiểu chi phí. Giải quyết vấn đề nguyên liệu là chìa khóa thành công.
3.2. Mô hình phát triển mía nguyên liệu hiệu quả
Vùng Bắc Trung Bộ đã có những mô hình thành công. Công ty Đường Lam Sơn là một ví dụ điển hình. Công ty Đường Nghệ An - Tate&Lyle cũng mang lại nhiều kinh nghiệm quý báu. Các mô hình này cho thấy khả năng phát triển bền vững vùng mía nguyên liệu. Cần nhân rộng những kinh nghiệm này để giải quyết khó khăn chung của khu vực.
IV.Nghiên cứu mía đường toàn cầu Kinh nghiệm phát triển
Nghiên cứu mía đường trên thế giới đã phát triển từ sớm. Các nước sản xuất mía lớn đã hình thành vùng nguyên liệu ổn định. Các nghiên cứu hiện tại tập trung vào việc tăng năng suất, giảm giá thành mía, và đảm bảo hiệu quả sản xuất. Đây là những kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam. Việc học hỏi và ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến toàn cầu giúp ngành mía đường Việt Nam phát triển bền vững. Nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.
4.1. Nghiên cứu giống mía Tăng năng suất chất lượng
Công nghệ sinh học thúc đẩy nghiên cứu giống mía. Các quốc gia như Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ, Úc, Ấn Độ, Thái Lan đi đầu. Mục tiêu: tạo ra giống mía năng suất cao. Chữ đường ổn định, phù hợp rải vụ. Giống mía cần có khả năng kháng sâu bệnh tốt. Việc cải tiến giống là yếu tố cốt lõi để nâng cao hiệu quả canh tác.
4.2. Kỹ thuật canh tác mía Cơ giới hóa quản lý dịch
Hướng ưu tiên nghiên cứu là cơ giới hóa toàn bộ. Đặc biệt là công đoạn thu hoạch mía. Nghiên cứu tưới phun, tưới nhỏ giọt cũng được chú trọng. Kỹ thuật này đáp ứng đúng nhu cầu nước của cây mía. Các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp được phát triển. Mục đích là hạn chế sâu bệnh, bảo vệ năng suất. Đài Loan, Trung Quốc đã áp dụng thành công.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (205 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 MỞ ĐẦU 1- TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định vai trò, tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Ở Việt Nam hiện nay trong điều kiện dân số đông, các ngành công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển, ngoài các vai trò chung, nông nghiệp còn có vai trò rất quan trọng trong việc giữ vững ổn định chính trị, kinh tế - xã hội, tạo nền tảng để từng bước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nông nghiệp Việt Nam đang ở vào thời kỳ thay đổi có tính chất bước ngoặt. Đó là sự chuyển biến cơ bản từ một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu sang sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại và hướng mạnh ra xuất khẩu.
Trong quá trình đó, xây dựng và thực hiện các chương trình phát triển nông nghiệp theo hướng hình thành các vùng tập trung, chuyên môn hóa cao, sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến là yêu cầu khách quan và đang được Đảng và Chính phủ quan tâm [18], [70]. Một trong những chương trình lớn đầu tiên đã được xây dựng và triển khai thực hiện từ năm 1995 là Chương trình phát triển mía đường. Trên thực tế từ sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam đã xây dựng và triển khai một số chương trình phát triển cây công nghiệp như cà phê, cao su, chè, cây có dầu… Tuy nhiên, các chương trình này được thực hiện trong cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung và trong khuôn khổ hợp tác giữa Việt Nam và các nước Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô (cũ). Các chương trình này được thực hiện thông qua việc tiếp nhận vật tư, kỹ thuật của các nước và trả nợ bằng sản phẩm theo hiệp định giữa các chính phủ.
Do đó, có rất nhiều thuận lợi trong việc giải quyết các yếu tố đầu vào cho sản xuất cũng như đầu ra cho sản phẩm. Trong khi đó, Chương trình phát triển mía 2 đường được thực hiện trong cơ chế quản lý mới, vốn đầu tư chủ yếu dựa vào các nguồn vay tín dụng trong và ngoài nước, việc tiêu thụ sản phẩm mía và đường do người sản xuất tự chịu trách nhiệm. Quá trình triển khai thực hiện Chương trình phát triển mía đường đã thu được những kết quả bước đầu và xét về tổng thể đã đạt được mục tiêu sản xuất 1 triệu tấn đường vào năm 2000. Tuy nhiên, Chương trình cũng đã bộc lộ những vấn đề hạn chế và tồn tại, đặc biệt là mất cân đối, đồng bộ giữa vùng nguyên liệu và các cơ sở chế biến.
Một trong những vùng hiện còn đang gặp nhiều khó khăn về phát triển mía nguyên liệu là vùng Bắc Trung Bộ (Khu 4 cũ). Trong khi đó, cũng chính ở vùng này đã xuất hiện những mô hình phát triển vùng nguyên liệu mía có kết quả, có nhiều kinh nghiệm quý như vùng mía nguyên liệu của Công ty Đường Lam Sơn và Công ty đường Nghệ An - Tate&Lyle. Vùng Bắc Trung Bộ hiện có 7 nhà máy đường đã và đang được đầu tư bằng nhiều loại trang thiết bị công nghệ của hầu hết các nước có ngành chế tạo thiết bị đường phát triển trên thế giới, với các trình độ công nghệ khác nhau, có quy mô từ 350 tấn mía/ngày đến 6. Hiện tại, trang thiết bị của các nhà máy của vùng cơ bản đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật công nghệ của ngành chế biến đường.
Nhiều nhà máy có công nghệ vào loại hiện đại trên thế giới như nhà máy của Công ty đường Nghệ An - Tate&Lyle, Nhà máy đường Việt - Đài, Nhà máy đường số 2 của Công ty đường Lam Sơn. Tuy nhiên, đánh giá chung kết quả sản xuất chưa cao, một số nhà máy đang đứng trước nguy cơ không trả được vốn vay. Vấn đề sống còn đối với nhiều nhà máy hiện nay là phải có nguồn cung cấp nguyên liệu mía ổn định về số lượng, chất lượng, giá cả và rải vụ. Trong bối cảnh đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển vùng mía nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến đường ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ” làm đề tài nghiên 3 cứu luận án tiến sỹ.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Khái quát về nghiên cứu mía đường trên thế giới Vấn đề hình thành và phát triển các vùng mía nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến được các nước trong khu vực và trên thế giới nghiên cứu từ rất sớm và đến nay ở hầu hết các nước sản xuất mía lớn đã hình thành các vùng mía nguyên liệu ổn định phục vụ cho ngành công nghiệp đường. Các nghiên cứu hiện nay đang tập trung giải quyết các vấn đề nhằm mục đích tăng năng suất, hạ giá thành mía, bảo đảm hiệu quả của sản xuất mía nguyên liệu gồm: Thứ nhất về giống mía: Dựa trên sự phát triển của công nghệ sinh học, nghiên cứu về giống ở Trung quốc, Đài Loan, Mỹ, Ôxtrâylia, Ấn độ, Thái Lan., đang đi theo hướng tạo ra các giống mía năng suất cao, chữ đường ổn định, rải vụ và có khả năng kháng sâu bệnh cao. Thứ hai là kỹ thuật canh tác: Hướng ưu tiên của các nghiên cứu về kỹ thuật canh tác là cơ giới hóa toàn bộ các khâu của quá trình canh tác mía, đặc biệt là công đoạn thu hoạch.
Một loạt các nghiên cứu về kỹ thuật tưới phun và tưới nhỏ giọt cho mía theo đúng yêu cầu về nước của cây mía trong từng giai đoạn đã được thực hiện ở Đài Loan, Trung Quốc. Kỹ thuật canh tác nhằm hạn chế sự phát triển của sâu bệnh và các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp cũng được nghiên cứu và áp dụng tại nhiều nước sản xuất mía lớn. Thứ ba là nghiên cứu chính sách và thị trường: Có thể nhận thấy, đây là vấn đề đang được quan tâm nhất trong các nghiên cứu về mía đường trên thế giới. Thị trường đường quốc tế luôn ở tình trạng cung vượt quá cầu và chính sách bảo hộ nông nghiệp của các nước phát triển, giá đường trên thị trường thế giới nhiều thời kỳ thấp hơn giá thành sản xuất.
Để duy trì ngành sản xuất mía đường trong nước, giữ ổn định kinh tế và chính trị, tất cả các nước đều nghiên 4 cứu để có chính sách về ngành mía đường phù hợp với sự biến động của thị trường thế giới. Căn cứ vào đặc điểm tình hình riêng, mỗi nước có các chính sách khác nhau, nhưng đều quan tâm đến các vấn đề về xác định giá mía nguyên liệu tối thiểu, mức trợ cấp cho mía hoặc đường, chính sách thuế, hạn ngạch tiêu thụ trong nước, trợ giá xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu thông qua hạn ngạch hoặc thuế nhập khẩu [53], [89], [90], [92]. Các nghiên cứu thị trường của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Đường quốc tế, Ngân hàng Thế giới và các công ty tư vấn thị trường cũng thường xuyên đưa ra các kết quả về diễn biến thị trường, giá cả và dự báo cung cầu trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn [44], [85], [87]. Tổng quan nghiên cứu về mía nguyên liệu trong nước Các nghiên cứu về mía nguyên liệu ở Việt Nam trong 15 năm trở lại đây đã có sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là từ năm 1996 khi bắt đầu thực hiện Chương trình phát triển mía đường.
Về kỹ thuật canh tác mía, các trường đại học, viện nghiên cứu đã xây dựng các bộ giáo trình tương đối hoàn chỉnh. Công tác lai tạo, nhập nội, chọn lọc, khảo nghiệm các loại giống mía mới được Viện Nghiên cứu mía đường Bến Cát, các trung tâm, trạm nghiên cứu giống của các công ty đường, Trung tâm Khuyến nông quốc gia và trung tâm khuyến nông các tỉnh tiến hành tương đối đồng bộ. Đến nay, cơ bản đã hình thành các bộ giống mía mới phù hợp với đặc điểm thời tiết, khí hậu, nông hóa thổ nhưỡng ở các vùng mía lớn tập trung. Công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người trồng mía được Nhà nước hỗ trợ kinh phí thông qua hệ thống khuyến nông từ trung ương tới địa phương và kinh phí của các công ty đường đã giúp nông dân trồng mía giống mới có hiệu quả.
Việc nghiên cứu và triển khai thực hiện cơ giới hóa các khâu canh tác mía đang được một số viện nghiên cứu chuyên ngành thực hiện, trong đó tập trung vào các khâu như làm đất, chăm sóc mía lưu gốc, tưới tiêu, thu hoạch mía. Một số nghiên cứu bước đầu về kỹ thuật tưới mía và cơ giới hóa thu hoạch mía đang được thực hiện thí 5 điểm ở một số vùng mía nguyên liệu. Luận án tiến sỹ của tác giả Ngô Văn Hải hoàn thành năm 1996 đã nghiên cứu các vấn đề kỹ thuật canh tác mía đồi có năng suất cao thông qua tăng cường hệ thống khuyến nông [40]. Mặc dù vậy, các nghiên cứu về các vấn đề kinh tế của việc phát triển vùng mía nguyên liệu, cũng như các nghiên cứu về diễn biến thị trường mía đường trong nước, ảnh hưởng và tác động của thị trường đường thế giới đối với sản xuất đường của Việt Nam còn rất hạn chế.
Nghiên cứu ngành mía đường Việt Nam thời kỳ đến năm 2010 và 2020 do Bộ Nông nghiệp và PTNT và Cơ quan Phát triển Pháp hoàn thành năm 1999 đã phân tích các điều kiện tự nhiên của các vùng sinh thái nông nghiệp ở Việt Nam, đưa ra tổng quan về tiềm năng phát triển của ngành mía đường Việt Nam. Nghiên cứu đã khẳng định những vùng có lợi thế về sản xuất mía nguyên liệu hàng hóa lớn ở Việt Nam, trong đó có vùng Bắc Trung Bộ. Trọng tâm của nghiên cứu tập trung vào tình hình sản xuất của các nhà máy đường ở Việt Nam và điều phối thị trường đường. Chính vì vậy, nghiên nghiên cứu này còn thiếu những phân tích và đề xuất về chính sách và giải pháp cụ thể phát triển các vùng mía nguyên liệu [8].
Việc nghiên cứu chuyên sâu về phát triển mía nguyên liệu trước khi thực hiện Chương trình phát triển mía đường, Luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả Đinh Quang Tuấn đã đề cập đến vấn đề phát triển sản xuất mía nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến đường ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp chung về phát triển mía nguyên liệu, chế biến đường trong phạm vi cả nước.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Giải pháp phát triển vùng mía nguyên liệu ở Bắc Trung Bộ" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án: Giải pháp phát triển vùng mía nguyên liệu cho CN chế biến đường Bắc Trung Bộ. Nâng cao năng suất, chất lượng, bền vững.
Luận án "Giải pháp phát triển vùng mía nguyên liệu ở Bắc Trung Bộ" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Giải pháp phát triển vùng mía nguyên liệu ở Bắc Trung Bộ" thuộc chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp. Danh mục: Kinh Tế Nông Nghiệp.
Luận án "Giải pháp phát triển vùng mía nguyên liệu ở Bắc Trung Bộ" có bao nhiêu trang?
Luận án "Giải pháp phát triển vùng mía nguyên liệu ở Bắc Trung Bộ" có 205 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Giải pháp phát triển vùng mía nguyên liệu ở Bắc Trung Bộ" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.