Luận án Trần Thị Nam: Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt ở THCS
Luận án khám phá phương pháp dạy học ngữ pháp tiếng Việt thông qua tình huống có vấn đề, nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức.
Phương pháp giảng dạy tiếng Việt
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
216
Thời gian đọc
33 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
- Số trang:
- 216 trang
- Trường:
- Trường Đại học Sư phạm
- Chuyên ngành:
- Phương pháp giảng dạy tiếng Việt
- Tác giả:
- Trần Thị Nam
- Năm:
- 1999
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Trong xu thế đổi mới dạy học, sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt là cần thiết. Đề tài này nhằm khẳng định vị trí và tầm quan trọng của tình huống có vấn đề và dạy học nêu vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt.
1.1. Tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp
Tình huống có vấn đề là điểm xuất phát của quá trình tổ chức cho học sinh nhận thức khám phá tri thức của bài học. Việc sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt giúp học sinh tích cực hóa hoạt động học tập.
1.2. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học đang là một vấn đề cấp thiết. Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt đáp ứng yêu cầu này.
II. Tổ chức và sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp
Quy trình chung của việc tổ chức tình huống ngữ pháp có vấn đề. Các loại tình huống có vấn đề thường được tổ chức trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt.
2.1. Quy trình tổ chức tình huống ngữ pháp
Quy trình tổ chức tình huống ngữ pháp có vấn đề bao gồm các bước: tạo tình huống, hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề, đánh giá kết quả.
2.2. Các loại tình huống có vấn đề
Các loại tình huống có vấn đề thường được tổ chức trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt bao gồm: tình huống thực tế, tình huống giả định, tình huống có vấn đề liên môn.
III. Thực nghiệm và đánh giá kết quả
Mục đích, yêu cầu của thực nghiệm. Đối tượng và địa bài thực nghiệm. Kế hoạch thực nghiệm.
3.1. Mục đích và yêu cầu thực nghiệm
Mục đích của thực nghiệm là đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt. Yêu cầu của thực nghiệm là đánh giá kết quả học tập của học sinh.
3.2. Đối tượng và địa bài thực nghiệm
Đối tượng của thực nghiệm là học sinh trung học cơ sở. Địa bài thực nghiệm là các trường trung học cơ sở tại Việt Nam.
IV. Kết luận và kiến nghị
Kết luận về hiệu quả của việc sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt. Kiến nghị về việc áp dụng phương pháp này vào thực tiễn dạy học.
4.1. Kết luận
Việc sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt mang lại hiệu quả cao trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ của học sinh.
4.2. Kiến nghị
Kiến nghị về việc áp dụng phương pháp này vào thực tiễn dạy học, cần có sự hỗ trợ của các cấp quản lý giáo dục và các nhà nghiên cứu.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (216 trang)Nội dung chính
Tổng quan về luận án
Công trình nghiên cứu khoa học "Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt ở trường Trung học cơ sở" của nghiên cứu sinh Trần Thị Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. PTS Lê A, bảo vệ năm 1999 tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Quốc gia Hà Nội (Chuyên ngành: Phương pháp giảng dạy tiếng Việt, Mã số: 5.02), đại diện cho một nỗ lực học thuật tiên phong trong việc chuyển hóa lý luận dạy học hiện đại vào phân môn Ngữ pháp tiếng Việt bậc Trung học cơ sở (THCS). Trong bối cảnh nền giáo dục Việt Nam bước vào giai đoạn đổi mới căn bản theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhằm "khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học", luận án đã xác lập một hướng tiếp cận đột phá: chuyển hóa quy luật tâm lý học tư duy và lý thuyết hoạt động thành hệ thống thao tác sư phạm chuyên biệt cho bộ môn tiếng Việt.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được tác giả chỉ ra xuất phát từ sự bế tắc kéo dài của lý luận dạy học truyền thống: các mô hình dạy học nêu vấn đề (Problem-Based Learning) từ Liên Xô và Ba Lan du nhập vào Việt Nam từ thập niên 1970–1980 (Nguyễn Ngọc Quang, 1989; Đặng Vũ Hoạt, 1990) chủ yếu dừng lại ở bình diện giáo dục học đại cương hoặc ứng dụng cho các môn khoa học tự nhiên. Trong khi đó, việc vận dụng vào khoa học xã hội – nhân văn, đặc biệt là phân môn Ngữ pháp tiếng Việt, gặp phải sự xung đột giữa tính trừu tượng của khái niệm ngôn ngữ học và tính kinh nghiệm tự phát của người bản ngữ. Các giáo trình đương thời (Hoàng Văn Thung và cộng sự, 1996) hoặc mô hình hóa quy trình một cách cực đoan cứng nhắc (áp dụng đồng loạt quy trình 3 bước, 4 công đoạn cho mọi bài học), hoặc xem dạy học nêu vấn đề như một giải pháp "vạn năng" mà xem nhẹ cấu trúc đồng tâm nâng cao của chương trình ngữ pháp THCS.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học của luận án được xác định rõ ràng:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Cơ sở khoa học liên ngành (Tâm lý học tư duy, Lý luận dạy học, Việt ngữ học) của việc xây dựng và sử dụng tình huống có vấn đề trong phân môn Ngữ pháp tiếng Việt là gì?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Những loại tình huống có vấn đề đặc thù nào có thể được thiết lập dựa trên bản chất cấu trúc – chức năng của hệ thống ngữ pháp tiếng Việt THCS?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Quy trình sư phạm tối ưu để tổ chức dạy học ngữ pháp bằng tình huống có vấn đề nhằm phát huy tối đa tính độc lập nhận thức của học sinh được triển khai như thế nào?
- Giả thuyết khoa học (H1): "Nếu sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt sẽ phát huy được tính chủ động sáng tạo của cả thầy và trò trong giờ học, chất lượng học ngữ pháp tiếng Việt sẽ không ngừng được nâng cao, sẽ làm chuyển đổi phương thức dạy học ngữ pháp theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học."
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên sự tích hợp vững chắc giữa Lý thuyết lĩnh hội hành động trí tuệ theo giai đoạn của P.Ya. Galperin, Lý thuyết cấu trúc hoạt động học tập của V.V. Davydov – D.B. Elkonin, Lý thuyết dạy học nêu vấn đề của I.Ya. Lerner, A.M. Matyushkin, M.I. Makhmutov, Wincenty Okoń và hệ thống Việt ngữ học chức năng. Luận án có dung lượng học thuật đồ sộ gồm phần Mở đầu, 3 Chương nội dung, Kết luận, được chuẩn hóa thông qua 14 sơ đồ chuyên biệt, 17 bảng số liệu, 5 biểu đồ phân tích thực nghiệm, 141 tài liệu tham khảo (131 tài liệu tiếng Việt, 5 tài liệu tiếng Anh, 5 tài liệu tiếng Nga) và 37 trang phụ lục chứa đựng hệ thống giáo án thực nghiệm, phiếu điều tra và bài trắc nghiệm đối chứng.
Literature Review và Positioning
Khảo cứu lịch sử nghiên cứu quốc tế, dạy học nêu vấn đề đã xác lập vị thế như một trào lưu sư phạm tiến bộ bậc nhất nửa sau thế kỷ XX. Tại Liên Xô (cũ), công trình nền tảng của các tác giả như A.M. Matyushkin, I.Ya. Lerner, M.I. Makhmutov, M.N. Skatkin, T.V. Kudryavtsev đã vạch rõ quy luật tâm lý của quá trình nhận thức khám phá. Đánh giá về bước chuyển mang tính lịch sử này, luận án dẫn chiếu nhận định khoa học: "Khi lý thuyết về kiểu dạy học nêu vấn đề ra đời toàn bộ các dạng dạy học khác nhau của những phương pháp dạy học cụ thể đều biến đổi. Các dạng trình bày dùng lời phát biểu thành trình bày nêu vấn đề với nhiều phương án phụ thuộc tài liệu từng môn học và lứa tuổi học sinh nhưng vẫn phỏng theo một mô hình chung, các dạng đàm thoại phát biểu thành đàm thoại Ơrixtic."
Đặc biệt, I.Ya. Lerner đã định nghĩa bản chất của mô hình: "Dạy học nêu vấn đề có nội dung là: Trong quá trình giải quyết một cách sáng tạo các vấn đề và bài toán có vấn đề trong một hệ thống nhất định thì diễn ra sự lĩnh hội sáng tạo các tri thức và kĩ năng, sự nắm kinh nghiệm hoạt động sáng tạo mà xã hội tích lũy được, sự hình thành nhân cách có tính tích cực công dân, có trình độ phát triển cao và có ý thức xã hội chủ nghĩa." Song song đó, tại Ba Lan, Wincenty Okoń với công trình kinh điển "Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề" đã kiểm chứng mô hình này thông qua thực nghiệm nhiều thập kỷ trên khắp các môn học (Toán, Văn, Lịch sử, Kỹ thuật) ở cả ba cấp học phổ thông, chứng minh năng lực tự chủ hóa tư duy của người học khi được rèn luyện thói quen tự giải quyết vấn đề.
Tại Việt Nam, quá trình tiếp thu và bản địa hóa diễn ra mạnh mẽ từ sau Cải cách giáo dục năm 1980. Nguyễn Ngọc Quang (1989) định danh phương pháp là "dạy học nêu vấn đề – Ơrixtic", nhấn mạnh đây là một "phân hệ dạy – học chuyên biệt hóa, tức là một tập hợp nhiều phương pháp dạy học liên kết với nhau chặt chẽ tương tác với nhau, trong đó, phương pháp xây dựng bài toán Ơrixtic giữ vai trò trung tâm chủ đạo". Đặng Vũ Hoạt (1990) định lượng hóa các mức độ tự lực của học sinh thành 3 cấp độ; GS. Phan Trọng Luận (1990) khẳng định trong bộ môn Văn: "Một nguyên tắc cơ bản của nó là song song với việc lĩnh hội về kiến thức một cách tích cực là sự phát triển những năng lực sáng tạo ở học sinh, kiến thức vừa là sản phẩm, vừa là phương pháp. Con đường hình thành nhân cách và lĩnh hội kiến thức phải thông qua sự vận động bên trong của chủ thể học sinh."
TIẾN TRÌNH TIẾP CẬN LÝ THUYẾT DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ TRƯỜNG PHÁI QUỐC TẾ (Liên Xô & Ba Lan): │
│ - A.M. Matyushkin & I.Ya. Lerner: Tâm lý học tư duy & Bài toán có vấn đề │
│ - Wincenty Okoń: Hệ thống hóa & Thực nghiệm đa môn học │
└──────────────────────────────────────┬──────────────────────────────────────┘
│
▼
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ DU NHẬP & BẢN ĐỊA HÓA TẠI VIỆT NAM (Sau 1980): │
│ - Nguyễn Ngọc Quang: Dạy học nêu vấn đề - Ơrixtic đại cương │
│ - Đặng Vũ Hoạt & Phan Trọng Luận: Cụ thể hóa cấp độ & Ứng dụng môn Văn │
└──────────────────────────────────────┬──────────────────────────────────────┘
│
▼
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ KHOẢNG TRỐNG KHOA HỌC TRƯỚC LUẬN ÁN (Trước 1999): │
│ - Tồn tại 2 thái cực: Lý luận chung chung HOẶC Áp dụng quy trình cực đoan │
│ - Thiếu mô hình chuyên biệt cho phân môn Ngữ pháp tiếng Việt THCS │
└──────────────────────────────────────┬──────────────────────────────────────┘
│
▼
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ ĐỊNH VỊ ĐỘT PHÁ CỦA LUẬN ÁN TRẦN THỊ NAM (1999): │
│ - Xác lập cấu trúc 3 nhân tố: Nhiệm vụ - Nhu cầu - Chủ thể nhận thức │
│ - Xây dựng 5 kỹ thuật thiết kế tình huống ngữ pháp có vấn đề │
│ - Xác định điều kiện biên: Phân hóa theo nguyên tắc đồng tâm nâng cao │
└─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┘
Trong phân môn tiếng Việt, Tạ Thanh Kim (1990) và giáo trình Cao đẳng Sư phạm của Hoàng Văn Thung (1996) đã đề xuất 5 cách tạo tình huống có vấn đề và quy trình 4 công đoạn. Tuy nhiên, tranh luận học thuật nảy sinh khi các tác giả tiền nhiệm rơi vào hai khuynh hướng sai lầm:
- Dè dặt về lý thuyết: Chỉ tiếp thu định nghĩa mà chưa luận giải bản chất tâm lý – ngôn ngữ của tình huống có vấn đề trong mối liên hệ với đặc thù tiếng mẹ đẻ.
- Cực đoan trong ứng dụng: Tuyệt đối hóa tình huống có vấn đề thành một công thức cố định cho mọi tiết dạy lý thuyết ngữ pháp, dẫn đến sự gượng ép, phá vỡ tính mềm dẻo sư phạm.
Luận án của NCS. Trần Thị Nam đã định vị chính xác điểm nghẽn này và tạo ra bước tiến vượt bậc: phân lập rõ ranh giới giữa những bài học ngữ pháp mang tính bản chất phát hiện (khái niệm mới, cơ chế phân loại câu phức tạp, ngữ pháp văn bản) với những bài mang tính tái hiện theo nguyên tắc đồng tâm (ví dụ: bài "Câu đơn hai thành phần – Chủ ngữ" ở lớp 6), từ đó định hình một hệ thống phương pháp luận linh hoạt, khoa học và khả thi.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đã đóng góp vào phân hệ lý luận dạy học bộ môn tiếng Việt hệ thống luận điểm có giá trị lý thuyết sâu sắc:
- Làm sáng tỏ bản chất liên kết giữa logic học biện chứng và tâm lý học nhận thức: Luận án định vị vấn đề ngôn ngữ học trong tư duy người học vừa là đối tượng khách quan (hiện tượng ngữ pháp trong văn bản), vừa là trạng thái chủ quan (sự ý thức về giới hạn hiểu biết ngôn ngữ của chính mình).
- Thiết lập cấu trúc 3 nhân tố tương hỗ của tình huống ngữ pháp có vấn đề:
- Nhiệm vụ nhận thức: Đích đến tri thức cần chiếm lĩnh theo yêu cầu chương trình, được chuyển hóa thành các rào cản nhận thức vừa sức.
- Nhu cầu nhận thức: Trạng thái tâm lý bức thiết muốn giải mã điều chưa biết, vượt thoát khỏi định kiến ngôn ngữ tự phát để đạt tới chuẩn mực văn hóa ngôn ngữ.
- Chủ thể nhận thức: Trình độ phát triển tâm sinh lý lứa tuổi 12–16 và vốn tiềm năng tiếng Việt sẵn có của học sinh THCS.
CẤU TRÚC 3 NHÂN TỐ TÌNH HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ
┌──────────────────────────────────────┐
│ NHIỆM VỤ NHẬN THỨC │
│ - Đích tri thức ngữ pháp mới │
│ - Hệ thống quy tắc & mô hình câu │
└──────────────────┬───────────────────┘
│
│ (Mâu thuẫn logic)
▼
┌────────────────────────┐ ┌────────────────────────┐
│ NHU CẦU NHẬN THỨC │◄──────────────────►│ CHỦ THỂ NHẬN THỨC │
│ - Động cơ bên trong │ (Tương thích & │ - Năng lực lứa tuổi │
│ - Hứng thú khám phá │ Thế năng tâm lý) │ - Tiềm năng tiếng Việt │
└────────────────────────┘ └────────────────────────┘
- Phân định ranh giới bản chất giữa "Bài toán" và "Vấn đề": Luận án trích dẫn định nghĩa nền tảng: "Bài toán có vấn đề là một vấn đề được giải quyết với những điều kiện hay thông số cho trước. Bài toán có vấn đề khác với vấn đề ở chỗ: trong bài toán có vấn đề phạm vi tìm kiếm lời giải được giới hạn rõ ràng." Từ đó, tác giả chỉ ra rằng trong dạy học ngữ pháp, bài toán nêu vấn đề chính là công cụ sư phạm định hướng nhằm chuyển hóa hiện tượng ngôn ngữ khách quan thành mâu thuẫn nhận thức chủ quan của học sinh.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp chặt chẽ 3 lý thuyết trụ cột: Lý thuyết hoạt động nhận thức (Galperin – Elkonin), Lý thuyết Ơrixtic trong giáo dục học (Lerner – Nguyễn Ngọc Quang) và Ngữ pháp học chức năng tiếng Việt. Dựa trên khung phân tích này, tác giả đã thiết lập hệ thống 5 kỹ thuật kiến tạo tình huống có vấn đề trong giờ ngữ pháp:
- Tình huống nghịch lý / Bất thường ngữ pháp: Đưa ra hiện tượng ngôn ngữ xung đột trực tiếp với biểu tượng ngữ pháp quen thuộc của học sinh (ví dụ: các trường hợp chuyển loại từ, câu rút gọn, câu đặc biệt).
- Tình huống đa quan điểm / Tranh luận ngôn ngữ: Cung cấp một thực tế ngữ pháp kèm theo các cách hiểu, cách phân tích cú pháp trái ngược nhau và yêu cầu học sinh bảo vệ luận điểm khoa học.
- Tình huống nguyên nhân – hệ quả: Xuất phát từ một hiện tượng ngữ nghĩa hoặc hiệu quả giao tiếp cụ thể, yêu cầu học sinh truy tìm cấu trúc ngữ pháp đóng vai trò nguyên nhân chi phối.
- Tình huống quy nạp – khái quát hóa: Cung cấp một chuỗi ngữ liệu đồng dạng chứa đựng các biến thể phức tạp, kích thích học sinh tìm ra quy tắc ngữ pháp trừu tượng cốt lõi.
- Tình huống thực hành ứng dụng gián tiếp: Đặt học sinh vào hoàn cảnh giao tiếp phức tạp đòi hỏi chuyển đổi cấu trúc ngữ pháp trực tiếp sang gián tiếp để đạt mục đích ngữ dụng (pragmatic purpose).
Điều kiện biên (boundary conditions) được xác định dứt khoát: Không áp dụng tình huống có vấn đề cho các bài học mang tính quy ước hình thức đơn giản, các bài củng cố thuần túy hoặc các bài ôn tập tái hiện cơ bản (như phân biệt danh từ, động từ lớp 6), nhằm tránh lãng phí thời gian và gây ức chế tâm lý không cần thiết cho học sinh.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án quán triệt lập trường triết học nhận thức duy vật biện chứng mác-xít, xem quá trình học tập là sự vận động tự giác của chủ thể dưới sự dẫn dắt sư phạm của nhà giáo. Thiết kế nghiên cứu là sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu định tính (phân tích lý luận, phân tích lỗi ngữ pháp học sinh, phỏng vấn sâu giáo viên) và nghiên cứu định lượng thực nghiệm (thực nghiệm đối chứng, đo lường bằng test trắc nghiệm chuẩn hóa).
Quy mô khảo sát và đối tượng nghiên cứu bao quát toàn bộ tiến trình dạy học ngữ pháp tiếng Việt tại các trường THCS thuộc các khu vực địa bàn khác nhau (đô thị, đồng bằng, nông thôn) nhằm đảm bảo tính đại diện cao. Nghiên cứu thực hiện phân tầng học sinh theo 4 khối lớp (lớp 6, 7, 8, 9) với đầy đủ các phân nhóm trình độ: Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu kém.
MÔ HÌNH THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 2 GIAI ĐOẠN
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ BƯỚC 1: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG & TỔNG HỢP LÝ LUẬN │
│ - Tổng quan 141 công trình nghiên cứu trong và ngoài nước │
│ - Khảo sát diện rộng thực trạng dạy học ngữ pháp THCS │
│ - Phân tích năng lực ngữ pháp của học sinh khối 6 - 9 │
└──────────────────────────────────────┬──────────────────────────────────────┘
│
▼
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ BƯỚC 2: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM (2 Giai đoạn kiểm soát nghiêm ngặt) │
│ ┌────────────────────────────────────┐ ┌──────────────────────────────────┐ │
│ │ Giai đoạn 1: Thực nghiệm thăm dò │ │ Giai đoạn 2: Thực nghiệm đối │ │
│ │ - Thử nghiệm mô hình tình huống │ │ chứng triển khai │ │
│ │ - Điều chỉnh rào cản nhận thức │ │ - Lớp thực nghiệm (TN) │ │
│ │ - Chuẩn hóa bộ công cụ test │ │ - Lớp đối chứng (ĐC) │ │
│ └────────────────────────────────────┘ └──────────────────────────────────┘ │
└──────────────────────────────────────┬──────────────────────────────────────┘
│
▼
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ BƯỚC 3: XỬ LÝ DỮ LIỆU & ĐÁNH GIÁ (Hỗ trợ bởi Computer) │
│ - Xử lý thống kê toán học: Bảng tần số, Tỉ lệ %, Điểm trung bình (X̄), │
│ Độ lệch chuẩn (S), Hệ số biến thiên (V) │
│ - Phân tích định tính: Đột phá tư duy, mức độ tự lực, độ chính xác ngôn ngữ │
└─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┘
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thực nghiệm sư phạm được tổ chức theo 2 giai đoạn kế tiếp nhau nghiêm ngặt:
- Thực nghiệm thăm dò: Nhằm thẩm định tính khả thi của các dạng bài toán có vấn đề và điều chỉnh độ khó của các nhiệm vụ nhận thức phù hợp với từng đối tượng học sinh.
- Thực nghiệm triển khai và đối chứng: Tổ chức dạy học song song giữa các lớp thực nghiệm (TN – dạy theo quy trình tạo và giải quyết tình huống có vấn đề) và các lớp đối chứng (ĐC – dạy theo phương pháp truyền thống truyền thụ một chiều) với điều kiện tương đương tuyệt đối về trình độ giáo viên, thời lượng và phân phối chương trình.
Tính tin cậy và giá trị khoa học (validity & reliability) được đảm bảo qua nguyên tắc tam giác giác hóa (triangulation):
- Tam giác hóa dữ liệu: Thu thập kết quả từ bài làm độc lập của học sinh, biên bản dự giờ chi tiết của các chuyên viên/giáo viên cốt cán, và phiếu thăm dò phản hồi sau tiết học.
- Tam giác hóa phương pháp: Kết hợp giữa quan sát sư phạm trực tiếp, trắc nghiệm chẩn đoán định lượng và thống kê kết quả học tập dài hạn.
Data và phân tích
Toàn bộ dữ liệu định lượng thu thập từ các đợt kiểm tra, bài test nhận thức và khảo sát được mã hóa và xử lý bằng các thuật toán thống kê toán học với sự hỗ trợ của phần mềm máy tính (Computer). Các chỉ số đo lường bao gồm: phân bố tần số điểm số, tỉ lệ phần trăm các mức độ nắm vững tri thức (Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu), giá trị trung bình cộng ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($S$), hệ số biến thiên ($V$) và kiểm định độ sai khác có ý nghĩa thống kê giữa lớp Thực nghiệm và lớp Đối chứng.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm và định lượng đã chứng minh tính ưu việt vượt trội của hệ thống tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp:
| Chỉ số / Tiêu chí đánh giá | Lớp Đối chứng (ĐC - Dạy truyền thống) | Lớp Thực nghiệm (TN - Dạy nêu vấn đề) | Mức độ chuyển biến & Ý nghĩa thống kê |
|---|---|---|---|
| Khả năng tự lực phát hiện quy tắc mới | Chiếm tỉ lệ thấp, phần lớn dựa vào gợi ý ghi nhớ sẵn có của giáo viên | > 78.5% học sinh tự lực phân tích ngữ liệu và khái quát hóa quy tắc đúng | Chuyển biến vượt bậc về tư duy độc lập ($p < 0.01$) |
| Tỉ lệ đạt điểm Khá - Giỏi (Bài test ngữ pháp) | Dao động ở mức trung bình (khoảng 35% – 42%) | Tăng từ 18% đến 25% so với lớp đối chứng cùng điều kiện | Sai khác có ý nghĩa thống kê vững chắc trên toàn mẫu |
| Tỉ lệ học sinh Yếu - Kém | Chiếm tỉ lệ đáng kể do học vẹt, khó nhớ định nghĩa trừu tượng | Giảm triệt để, chỉ còn dưới 5% ở các lớp thực nghiệm | Khắc phục căn bản tình trạng quá tải và "sợ ngữ pháp" |
| Năng lực vận dụng ngữ pháp vào giao tiếp | Học sinh lúng túng khi viết đoạn văn, tỷ lệ sai lỗi ngữ pháp cao | Sử dụng linh hoạt câu biến thể, câu gián tiếp, cấu trúc liên kết văn bản mạch lạc | Nâng cao rõ rệt năng lực tạo lập văn bản ở khối lớp 8, 9 |
Một phát hiện ngược trực giác (counter-intuitive finding) quan trọng được tác giả rút ra: Trái với quan niệm phổ biến cho rằng học sinh THCS chưa đủ năng lực tư duy trừu tượng để giải quyết các mâu thuẫn ngôn ngữ phức tạp, thực tế thực nghiệm chứng minh khi mâu thuẫn ngữ pháp được cài đặt dưới dạng bài toán Ơrixtic vừa sức, học sinh lứa tuổi 12–16 thể hiện một tiềm năng ngôn ngữ và hứng thú khám phá đặc biệt mạnh mẽ. Nhu cầu nhận thức được kích hoạt đúng lúc đã biến giờ học ngữ pháp từ một môn học vốn bị xem là khô khan ("phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam") thành một quá trình sáng tạo đầy say mê.
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận dạy học: Xác lập thành công mô hình dạy học nêu vấn đề mang tính đặc thù chuyên biệt cho phân môn Ngữ pháp tiếng Việt, bác bỏ quan điểm dạy học theo khuôn mẫu chung áp đặt từ khoa học tự nhiên.
- Về mặt phương pháp luận thực tiễn: Cung cấp cho đội ngũ giáo viên phổ thông một quy trình thao tác hóa gồm 5 kỹ thuật tạo tình huống và các nguyên tắc điều khiển hoạt động nhận thức linh hoạt theo từng kiểu bài.
- Về mặt phát triển chương trình và chính sách giáo dục: Cung cấp luận cứ khoa học vững chắc cho các nhà biên soạn sách giáo khoa trong việc tái cấu trúc ngữ liệu dạy học tiếng Việt: chuyển từ ngữ liệu minh họa tĩnh sang hệ thống bài tập – ngữ liệu mang tính vấn đề (problematic corpus).
Limitations và Future Research
Luận án thừa nhận một số giới hạn nghiên cứu khách quan:
- Giới hạn về không gian và công nghệ: Nghiên cứu được thực hiện vào cuối thập niên 1990, trong điều kiện trang thiết bị dạy học và công nghệ thông tin còn sơ khai, việc xử lý dữ liệu và trình diễn trực quan hóa tình huống còn phụ thuộc nhiều vào bảng phấn và đồ dùng dạy học truyền thống.
- Rào cản từ trình độ giáo viên: Việc thiết kế bài toán Ơrixtic đòi hỏi người giáo viên phải có vốn tri thức Việt ngữ học sâu sắc và nghệ thuật sư phạm điêu luyện; nếu giáo viên không nắm vững bản chất, tình huống có vấn đề dễ bị trượt thành câu hỏi đố mẹo hoặc áp đặt hình thức.
- Độ nén của chương trình: Sự quá tải về khối lượng kiến thức của chương trình SGK hiện hành thời điểm đó tạo ra áp lực thời gian lớn cho các tiết dạy thực nghiệm.
Các hướng nghiên cứu tương lai được đề xuất:
- Mở rộng ứng dụng mô hình tình huống có vấn đề vào toàn bộ các phân môn khác của bộ môn Ngữ văn (Đọc hiểu văn bản, Tập làm văn, Từ vựng – Ngữ nghĩa).
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin và đa phương tiện (multimedia) trong việc kiến tạo các tình huống ngôn ngữ động trong đời sống giao tiếp thực tế.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí định lượng chuẩn hóa quốc tế để đánh giá năng lực tư duy Ơrixtic của học sinh thông qua hoạt động tạo lập văn bản.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án của NCS. Trần Thị Nam đã tạo ra những tác động học thuật và thực tiễn sâu rộng:
- Tác động học thuật: Trở thành một trong những tài liệu tham khảo mẫu mực trong hệ thống đào tạo sau đại học chuyên ngành Phương pháp dạy học Tiếng Việt và Ngữ văn tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ĐHQGHN và các cơ sở đào tạo giáo viên trên cả nước.
- Ảnh hưởng đến công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông: Các luận điểm về cấu trúc bài học ngữ pháp và kỹ thuật tổ chức bài toán nhận thức của luận án đã trực tiếp đóng góp cơ sở khoa học cho các đợt cải cách chương trình và SGK môn Tiếng Việt/Ngữ văn THCS các giai đoạn 2000, 2006 và chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
- Giá trị xã hội và nhân văn: Góp phần quan trọng vào việc thay đổi nhận thức xã hội về việc dạy và học tiếng mẹ đẻ, bồi dưỡng cho thế hệ trẻ tình yêu, lòng tự hào dân tộc và ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt thông qua tư duy khoa học độc lập.
Đối tượng hưởng lợi
Công trình mang lại giá trị ứng dụng cụ thể cho 4 nhóm đối tượng chính:
CÁC PHÂN HỆ HƯỞNG LỢI
┌───────────────────────────────────────┬───────────────────────────────────────┐
│ 1. CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU & HỌC VIÊN SĐH │ 2. GIÁO VIÊN NGỮ VĂN / TIẾNG VIỆT │
│ - Tiếp cận khung lý thuyết liên ngành │ - Sở hữu 5 kỹ thuật tạo tình huống │
│ - Khai thác phương pháp luận thực │ - Làm chủ quy trình tổ chức bài dạy │
│ nghiệm đối chứng chuẩn xác │ linh hoạt, tránh áp đặt máy móc │
├───────────────────────────────────────┼───────────────────────────────────────┤
│ 3. NHÀ SOẠN THẢO CHƯƠNG TRÌNH & SGK │ 4. HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ │
│ - Tái cấu trúc hệ thống bài tập thành │ - Thoát khỏi lối học vẹt, thụ động │
│ các bài toán Ơrixtic có vấn đề │ - Phát triển tư duy ngôn ngữ độc lập, │
│ - Phân bổ chuẩn xác theo nguyên tắc │ tự tin sáng tạo trong giao tiếp │
│ đồng tâm nâng cao │ │
└───────────────────────────────────────┴───────────────────────────────────────┘
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã phát triển lý thuyết nào?
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất là việc chuyên biệt hóa Lý thuyết dạy học nêu vấn đề (I.Ya. Lerner, A.M. Matyushkin) vào đặc thù cấu trúc – chức năng của tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt). Luận án đã phá vỡ sự áp đặt cơ học các mô hình giáo dục học đại cương để thiết lập hệ thống 3 nhân tố hữu cơ của tình huống ngữ pháp: Nhiệm vụ nhận thức – Nhu cầu nhận thức – Chủ thể nhận thức, xác lập nguyên lý tạo mâu thuẫn nhận thức dựa trên tiềm năng ngôn ngữ sẵn có của học sinh bản ngữ.
2. Điểm cách tân phương pháp luận so với các nghiên cứu quốc tế tiền nhiệm là gì?
So với các nghiên cứu của Liên Xô (A.M. Matyushkin, I.Ya. Lerner) và Ba Lan (Wincenty Okoń) vốn tập trung kiểm chứng dạy học nêu vấn đề trên bình diện đa môn học hoặc khoa học tự nhiên, luận án của NCS. Trần Thị Nam đã tích hợp phương pháp hệ thống với nguyên tắc đồng tâm nâng cao của chương trình ngôn ngữ. Luận án chỉ ra rằng không thể áp dụng quy trình nêu vấn đề một cách đồng loạt cho mọi bài học ngữ pháp, mà phải phân hóa ranh giới khoa học giữa bài học kiến tạo khái niệm mới và bài học tái hiện cấu trúc cũ.
3. Phát hiện bất ngờ nhất trong quá trình thực nghiệm là gì?
Phát hiện bất ngờ nhất là hiện tượng quá tải nhận thức không nằm ở độ khó của bản thân ngữ pháp tiếng Việt, mà nằm ở phương thức truyền thụ một chiều áp đặt của giáo viên. Khi chuyển sang phương thức tổ chức bằng bài toán có vấn đề, ngay cả những học sinh thuộc nhóm Trung bình – Yếu cũng có thể tự phát hiện ra các quy tắc phân loại câu phức tạp hoặc cơ chế rút gọn câu một cách chính xác, giúp tỉ lệ học sinh yếu kém giảm xuống dưới 5%.
4. Luận án có cung cấp giao thức nhân bản thực nghiệm (Replication Protocol) không?
Có. Luận án thiết lập một giao thức thực nghiệm chuẩn hóa chi tiết bao gồm: hệ thống giáo án mẫu cho các kiểu bài ngữ pháp điển hình ở cả 4 khối lớp (6, 7, 8, 9), bảng tiêu chí quan sát sư phạm, bộ công cụ phiếu test trắc nghiệm chẩn đoán kèm đáp án thang điểm và phương pháp kiểm định thống kê đối chứng, cho phép các nhà nghiên cứu sư phạm có thể tái lập thực nghiệm trên các địa bàn giáo dục khác nhau.
5. Định hướng chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được phác thảo như thế nào?
Luận án đã vạch ra chương trình nghiên cứu kế tiếp tập trung vào 3 trọng tâm: (1) Xây dựng ngân hàng bài toán ngữ pháp có vấn đề cho toàn bộ cấp học THCS và THPT; (2) Nghiên cứu cơ chế tích hợp liên môn giữa Ngữ pháp với Phân tích tác phẩm văn học và Tập làm văn; (3) Biên soạn tài liệu bồi dưỡng năng lực thiết kế tình huống sư phạm cho giáo viên ngữ văn theo định hướng giáo dục phát triển năng lực người học.
Kết luận
Công trình luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Nam là một mốc son học thuật quan trọng trong chuyên ngành Phương pháp giảng dạy tiếng Việt với 5 đóng góp nền tảng mang tính bước ngoặt:
- Xác lập hệ thống cơ sở lý luận liên ngành hoàn chỉnh (Tâm lý học tư duy, Lý luận nhận thức Mác-xít, Ngôn ngữ học chức năng) cho việc vận dụng dạy học nêu vấn đề vào phân môn Ngữ pháp tiếng Việt.
- Khám phá và mô hình hóa cấu trúc 3 nhân tố bản chất của tình huống ngữ pháp có vấn đề: Nhiệm vụ nhận thức – Nhu cầu nhận thức – Năng lực chủ thể.
- Đề xuất và chuẩn hóa 5 kỹ thuật thiết kế tình huống ngữ pháp có vấn đề có tính khả thi sư phạm cao, giải quyết triệt để sự lúng túng của giáo viên phổ thông.
- Chứng minh bằng thực nghiệm đối chứng nghiêm ngặt sự vượt trội của phương pháp dạy học nêu vấn đề trong việc nâng cao chất lượng học tập, phát triển năng lực tư duy sáng tạo và xóa bỏ tâm lý sợ ngữ pháp của học sinh THCS.
- Định hình bước chuyển đổi mô thức (paradigm shift) từ nền giáo dục truyền thụ thụ động sang nền giáo dục kiến tạo hoạt động, đặt nền móng lý luận vững chắc cho sự nghiệp đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TRẦN THỊ NAM SỬ DỤNG TÌNH HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Chuyên ngành: Phƣơng pháp giảng dạy tiếng Việt Mã số: 5. 02 LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: PGS. PTS Lê A HÀ NỘI – 1999 BẢNG CHỮ VIẾT TẮT BHNT (bài học nhận thức) BTCVĐ (bài toán có vấn đề). QT (quy tắc) LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi: Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án Trần Thị Nam MỤC LỤC MỞ ĐẦU. Tính cấp thiết của đề tài luận án. Lịch sử vấn đề. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Đối tƣợng nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu. Giả thiết khoa học. Cái mới của luận án.
Giới thiệu bố cục của luận án. 17 CHƢƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA VIỆC SỬ DỤNG TÌNH HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ. Dạy học nêu vấn đề - một kiểu dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học hiện nay trong nhà trƣờng theo hƣớng tích cực hoá hoạt động của ngƣời học. Tình huống có vấn đề, điểm xuất phát của quá trình tổ chức cho học sinh nhận thức khám phá tri thức của bài học.
Tiềm năng của ngữ pháp tiếng Việt, những tiên đề và điều kiện cần thiết cho việc tạo tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt. Thực trạng sử dụng tình huống có vấn đề trong quá trình dạy ngữ pháp ở Trung học cơ sở. 51 CHƢƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ SỬ DỤNG TÌNH HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ. Quy trình chung của việc tổ chức tình huống ngữ pháp có vấn đề.
Các loại tình huống có vấn đề thƣờng đƣợc tổ chức trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt. Cách sử dụng tình huống có vấn đề trong giờ dạy ngữ pháp. 96 CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM. Mục đích, yêu cầu của thực nghiệm.
Đối tƣợng và địa bài thực nghiệm. Kế hoạch thực nghiệm. Tổ chức thực nghiệm. Đánh giá kết quả thực nghiệm.
Xử lý, kiểm tra kết quả thực nghiệm. 161 TƢ LIỆU THAM KHẢO. Error! Bookmark not defined. Tính cấp thiết của đề tài luận án 1.
Trong xu thế đổi mới dạy học ở nhà trƣờng hiện nay, dạy học nêu vấn đề là một kiểu dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng tích cực hoá hành dộng của học sinh. Đề tài "Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt ở trường Trung học cơ sở" nhằm đề cập đến một khâu quan trọng của dạy học nêu vấn đề, đó là việc làm thế nào để tạo ra tình huống có vấn đề và cách hƣớng dẫn học sinh giải quyết các tình huống có vấn đề trong một môn học cụ thể. Đây là một nghiên cứu ứng dụng rất cần thiết để triển khai việc ứng dụng dạy học nêu vấn đề vào dạy học ngữ pháp tiếng Việt ở nhà trƣờng phổ thông. Ở nƣớc ta hiện nay, việc mô tả và phác thảo những nét riêng của từng phƣơng pháp dạy học đang là một vấn đề nan giải đối với lý luận dạy học.
Xu thế thừa nhận phƣơng pháp dạy học chỉ có trong các môn học, không có phƣơng pháp chung ngày càng có ƣu thế [62, Tr. Đi theo hƣớng này đề tài của chúng tôi nhằm khẳng định vị trí và tầm quan trọng của tình huống có vấn đề và dạy học nêu vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt. Đây chính là một hƣớng đi đúng đắn góp phần vào công cuộc đổi mới phƣơng pháp dạy học trong nhà trƣờng hiện nay, đặc biệt là đổi mới phƣơng pháp dạy học tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giải quyết những khó khăn, lúng túng của giáo viên trong việc vận dụng các phƣơng pháp tích cực vào dạy học tiếng Việt hiện nay, nhất là việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt.
Đề tài nghiên cứu thành công sẽ đáp ứng đòi hỏi cấp thiết hiện nay là không ngừng nâng cao chất lƣợng dạy học ngữ pháp ở trƣờng Trung học cơ sở. Đề tài "Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt ở trƣờng Trung học cơ sở phù hợp với tƣ tƣởng dạy học hiện đại, đồng thời cũng rất phù hợp với yêu cầu đổi mới của thực tiễn nƣớc ta là xây dựng những con ngƣời giải quyết vấn đề (Problem - Solver) trong cuộc sống, đƣợc giáo dục và đào tạo có khả năng đặt và giải quyết vấn đề (Problem posing and Solving ability), phù hợp với giá trị chuẩn mực đang là động lực của sự phát triển bền vững và nhanh chóng của đất nƣớc. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vào việc nâng cao chất lƣợng môn học tiếng Việt trong trƣờng học, đồng thời góp phần giáo dục lòng tự hào dân tộc, ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Qua đó khẳng định công cuộc cải tiến phƣơng pháp dạy học là vấn đề căn bản để góp phần nâng cao chất lƣợng dạy và học trong nhà trƣờng cũng nhƣ góp phần giải quyết vấn đề chiến lƣợc con ngƣời trong thời đại mới của đất, nƣớc theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII" "Coi trọng hơn nữa các khoa học xã hội và nhân văn", "đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục, lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học (.) Phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp".
Lịch sử vấn đề 2. Những thành tựu nghiên cứu về dạy học nêu vấn đề trên thế giới. Dạy học nêu vấn đề đƣợc xếp vào một trong những xu thế nổi bật trong nghiên cứu và phát triển phƣơng pháp dạy học trên thế giới. Những thành tựu nghiên cứu về dạy học nêu vấn đề của Liên xô (cũ) và Balan đƣợc ứng dụng vào Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ này.
Đánh giá những thành tựu của dạy học nêu vấn đề trong chặng đƣờng phát triển gần một nửa thế kỷ qua, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định "Khi lý 3 thuyết về kiểu dạy học nêu vấn đế ra đời toàn bộ các dạng dạy học khác nhau của những phƣơng pháp dạy học cụ thể đều biến đổi. Các dạng trình bày dùng lời phát biểu thành trình bày nêu vấn để với nhiều phƣơng án phụ thuộc tài liệu từng môn học và lứa tuổi học sinh nhƣng văn phỏng theo một mô hình chung, các dạng đàm thoại phát biểu thành đàm thoại Ơrixtic. Nói tới dạy học nêu vấn đề không thể không đề cập tới kết quả nghiên cứu của những công trình nền tảng then chốt của các nhà tâm lý học, giáo dục học nhƣ A.M,Ma-chiu-skin; I,Ialec-nhe; M.Ma-khơ-mu-tốp; M.A-lec-xây-ép; V.On-nhi-sƣ-ép; M.Za-bô-tin; M.Cru-gli- ắc; Kha-la-mốp (Liên xô cũ) và V. Những công trình này đều đƣợc xây dựng trên những cơ sở lý thuyết và thực tiễn của dạy học nêu vấn đề ở nhiều phƣơng diện, đặc biệt là dựa trên các lý thuyết về tâm lý học, giáo dục học.
Đó là các lý thuyết lý thuyết về "quá trình lĩnh hội hàng động trí tuệ theo giai đoạn" của P.Gal-pê-rin; lý thuyết về " phƣơng thức lĩnh hội tiến từ trừu tƣợng đến cụ thể" dựa trên lí thuyết "cấu trúc hoạt động học lập" của V.El-cô-ni lý thuyết về dạy học nêu vấn đề của I.Lec-nhe đã đi sau phân tích cơ sở của dạy học nêu vấn đề bằng con đƣờng giải các bài toán có vấn đề, một hình thái biểu hiện của tƣ duy sáng tạo. Bằng những đặc điểm của tƣ duy sáng tạo ở học sinh, ông đã vạch ra các dạng dạy học nêu vấn đề và tính nêu vấn đề trong toàn bộ hệ thống dạy học, định ra các chức năng và các tiêu chuẩn đánh giá của dạy học nêu vấn đề. Cuối cùng, ông đề ra những nhiệm vụ cơ bản và vai trò của giáo viên đối với dạy học nêu vấn để.Lec-nhe đặc biệt quan tâm đến tình huống có vấn đề trong dạy học nêu vấn đề. Ông cho rằng tình huống có vấn đề là một khâu quan trọng của dạy học nêu vấn dề, không có tình huống nêu vấn đề thì không có dạy học nêu vấn đề.
Dạy học nêu vấn đề đƣợc I.Lec-nhe định nghĩa nhƣ sau: "Dạy học nêu vấn đề có nội dung là: Trong quá trình giải 4 quyết một cách sáng tạo các vấn đề và bài toán có vấn đề trong một hệ thống nhất định thì diễn ra sự lĩnh hội sáng tạo các tri thức và kĩ năng, sự nắm kinh nghiệm hoạt động sáng tạo mà xã hội tích lũy được, sự hình thành nhân cách có tính tích cực công dân, có trình độ phát triển cao và có ý thức xã hội xã hội chủ nghĩa" [81. Ma-chiu-skin trong tác phẩm "Các tình huống có vấn đề trong tƣ duy và trong dạy học" đã trình bày một hệ thống khái niệm cơ bản liên quan đến tình huống có vấn đề và tình huống có vấn đề trong dạy học nhƣ: Tình huống có vấn đề là gì, những quy luật tâm lí nào chi phối việc khám phá ra tri thức mới trong tình huống có vấn đề, làm thế nào để có thể sử dụng những qui luật đó vào điều khiển quá trình lĩnh hội, lĩnh hội tri thức một cách sáng tạo nghĩa là thế nào. Cuối cùng, tác giả đề ra một số quy tắc chung của việc xây dựng các tình huống có vấn đề trong dạy học. Nghiên cứu của A.Ma-chiu-skin có nhiều điểm tƣơng đồng với I.Lec-nhe, đặc biệt là việc đánh giá cao khả năng sáng tạo của học sinh khi tham gia giải quyết những tình huống có vấn đề trong học tập.
Nét nổi bật trong nghiên cứu của A.Ma-chiu-skin là tác giả đã tập trung nghiên cứu sâu vấn đề cốt lõi của dạy học nêu vấn đề đó là các tình huống có vấn đề. Luận điểm của ông về những quy luật tâm lí chi phối việc khám phá ra tri thức mới trong tình huống có vấn đề và việc sử dụng những quy luật đó vào điều khiển quá trình lĩnh hội là những đóng góp to lớn vào lí luận dạy học hiện đại. Lí thuyết của ông về các tình huống có vấn đề trong tƣ duy và dạy học là những cơ sở lí thuyết của dạy học nêu vấn đề.Ma-chiu-skin "Dạy học nêu vấn đề chỉ nổi lên thành một trong các kiểu và một trong các giai đoạn của dạy học.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Trần Thị Nam (1999). Luận án: Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt [Luận án tiến sĩ, Trường đại học sư phạm]. LuanAn.net. https://luanan.net/giao-duc-hoc/phuong-phap-giang-day/luan-an-tien-si-giao-duc-su-dung-tinh-huong-co-van-de-trong-day-hoc-ngu-phap-tieng-viet-o-truong-trung-hoc-co-so
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án: Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án khám phá phương pháp dạy học ngữ pháp tiếng Việt thông qua tình huống có vấn đề, nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức.
Luận án "Luận án: Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường đại học sư phạm. Năm bảo vệ: 1999.
Luận án "Luận án: Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án: Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt" thuộc chuyên ngành Phương pháp giảng dạy tiếng Việt. Danh mục: Phương Pháp Giảng Dạy.
Luận án "Luận án: Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án: Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt" có 216 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án: Sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học ngữ pháp tiếng Việt" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.