Luận án tiến sĩ: Cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân - Đào Lê Hòa An
Hình ảnh cái tôi của sinh viên thể hiện qua Facebook cá nhân: dấu hiệu nhận diện, xu hướng thể hiện và tác động xã hội.
Năm xuất bản
Số trang
192
Thời gian đọc
29 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I.Cơ sở lý luận Hình ảnh cái tôi và Facebook cá nhân
Luận án đi sâu vào khung lý thuyết về hình ảnh cái tôi và vai trò của Facebook cá nhân. Nghiên cứu làm rõ cách thức sinh viên thể hiện bản thân trên môi trường số. Sự tự thể hiện trên mạng xã hội là một quá trình phức tạp. Cái tôi được xây dựng từ nhiều khía cạnh khác nhau. Facebook trở thành công cụ quan trọng để tạo dựng danh tính số của sinh viên. Nền tảng này cho phép người dùng thể hiện mong muốn, cảm xúc, và quan điểm. Các hoạt động trực tuyến góp phần hình thành ấn tượng cá nhân trên mạng xã hội. Việc hiểu rõ cơ sở lý luận này là nền tảng. Nó giúp phân tích sâu sắc hành vi chia sẻ thông tin sinh viên và tác động của mạng xã hội đến cái tôi. Luận án khám phá mối quan hệ giữa cái tôi thật và cái tôi ảo của sinh viên.
1.1. Khái niệm hình ảnh cái tôi và các yếu tố cấu thành.
Cái tôi biểu thị toàn bộ nhận thức, cảm xúc, hành vi của một cá nhân về chính mình. Khái niệm này bao gồm nhiều thành phần cốt lõi. Các yếu tố cấu thành bao gồm nhận diện bề ngoài, năng lực, cảm xúc. Cái tôi xã hội, cái tôi tương lai cũng là các khía cạnh quan trọng. Sự tự thể hiện trên mạng xã hội bắt nguồn từ những khía cạnh này. Luận án nghiên cứu các khía cạnh này. Sinh viên xây dựng nhận diện bản thân qua Facebook bằng cách thể hiện các yếu tố này.
1.2. Facebook cá nhân Nền tảng thể hiện bản thân số.
Facebook cung cấp công cụ để tạo danh tính số của sinh viên. Trang cá nhân, dòng thời gian, ảnh đại diện là những chức năng chính. Người dùng đăng tải trạng thái, hình ảnh, video. Các hoạt động này góp phần định hình thương hiệu cá nhân trực tuyến. Nền tảng này là không gian để chia sẻ và tương tác. Facebook cho phép tạo dựng một cái tôi ảo. Việc thể hiện này phản ánh một phần ấn tượng cá nhân trên mạng xã hội.
1.3. Khung lý thuyết Cái tôi sinh viên qua Facebook.
Luận án xây dựng khung lý thuyết cụ thể. Khung này liên kết hình ảnh cái tôi với đặc điểm sinh viên. Các hành vi chia sẻ thông tin sinh viên được xem xét kỹ lưỡng. Nghiên cứu tập trung vào sự ảnh hưởng của môi trường đại học. Mạng xã hội tác động đến nhận diện bản thân qua Facebook. Khung lý thuyết này là cơ sở cho các phân tích thực nghiệm về cái tôi thật và cái tôi ảo. Nó cũng làm rõ tác động của mạng xã hội đến cái tôi.
II.Thực trạng thể hiện cái tôi sinh viên trên Facebook
Nghiên cứu làm rõ thực trạng sinh viên thể hiện hình ảnh cái tôi trên Facebook cá nhân. Đây là một phần quan trọng của danh tính số của sinh viên. Các kết quả chỉ ra nhiều khía cạnh được biểu hiện. Ấn tượng cá nhân trên mạng xã hội được tạo dựng thông qua nhiều cách. Sinh viên sử dụng các tính năng khác nhau để tự thể hiện trên mạng xã hội. Điều này bao gồm việc đăng tải hình ảnh, cập nhật trạng thái, chia sẻ thông tin. Nghiên cứu khảo sát các đặc trưng này. Nó cung cấp cái nhìn tổng quan về hành vi chia sẻ thông tin sinh viên. Sự biểu lộ này ảnh hưởng trực tiếp đến nhận diện bản thân qua Facebook. Các phân tích chi tiết được trình bày.
2.1. Nhận diện hình thức và bề ngoài trên Facebook.
Sinh viên chú trọng thể hiện ngoại hình, phong cách cá nhân. Ảnh đại diện, ảnh bìa, các bài đăng ảnh là công cụ chính. Thông tin về sở thích, phong cách sống cũng được chia sẻ. Mục đích là tạo dựng một hình ảnh mong muốn. Đây là phần đầu tiên của ấn tượng cá nhân trên mạng xã hội. Việc này giúp sinh viên khẳng định nhận diện bản thân qua Facebook.
2.2. Biểu hiện năng lực cảm xúc và quan hệ xã hội.
Sinh viên thường chia sẻ thành tích học tập, công việc, hoạt động ngoại khóa. Cảm xúc cá nhân cũng được bộc lộ qua trạng thái, bình luận. Các mối quan hệ bạn bè, gia đình được thể hiện rõ ràng. Việc tương tác với người khác cũng là một cách tự thể hiện trên mạng xã hội. Những chia sẻ này xây dựng danh tính số của sinh viên đa chiều. Đây là hành vi chia sẻ thông tin sinh viên phổ biến.
2.3. Mong muốn tương lai và trải nghiệm cuộc sống.
Kế hoạch học tập, định hướng nghề nghiệp được sinh viên chia sẻ. Các chuyến đi, hoạt động giải trí, sở thích cũng được đăng tải. Điều này cho thấy mong muốn và trải nghiệm cuộc sống của sinh viên. Việc này tạo ra một cái nhìn toàn diện về cái tôi. Nó cũng thể hiện thương hiệu cá nhân trực tuyến. Sinh viên dùng Facebook để ghi lại hành trình phát triển.
III.Hành vi chia sẻ quyền riêng tư Danh tính số sinh viên
Luận án khám phá sâu các hành vi chia sẻ thông tin sinh viên trên Facebook. Đồng thời, nghiên cứu làm rõ cách sinh viên quản lý quyền riêng tư Facebook cá nhân. Việc này ảnh hưởng trực tiếp đến danh tính số của sinh viên. Sinh viên cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đăng tải nội dung. Họ cũng quản lý đối tượng có thể xem bài viết của mình. Sự nhận diện bản thân qua Facebook phụ thuộc vào những quyết định này. Việc này định hình thương hiệu cá nhân trực tuyến. Các yếu tố tác động đến sự cân bằng giữa thể hiện và bảo mật thông tin. Nghiên cứu cũng phân tích mối liên hệ giữa các hành vi này với cái tôi thật và cái tôi ảo.
3.1. Mức độ và loại hình chia sẻ thông tin cá nhân.
Sinh viên có xu hướng chia sẻ thông tin cá nhân đa dạng. Các loại hình bao gồm hình ảnh đời thường, quan điểm, cảm xúc. Tuy nhiên, mức độ chia sẻ khác nhau tùy thuộc từng cá nhân. Một số sinh viên cởi mở, số khác thận trọng. Hành vi chia sẻ thông tin sinh viên này là trọng tâm nghiên cứu. Nó phản ánh cách tự thể hiện trên mạng xã hội.
3.2. Quản lý quyền riêng tư và đối tượng tương tác.
Việc thiết lập quyền riêng tư Facebook cá nhân là một hành động quan trọng. Sinh viên kiểm soát ai có thể xem bài đăng, bình luận, tương tác. Họ cũng lựa chọn đối tượng kết bạn một cách có chủ đích. Việc chấp nhận hay từ chối lời mời kết bạn đều có lý do. Hành vi này thể hiện sự ý thức về danh tính số của sinh viên. Nó giúp bảo vệ cái tôi cá nhân trên mạng.
3.3. Tác động đến thương hiệu cá nhân trực tuyến.
Mọi hành vi chia sẻ và quản lý quyền riêng tư đều ảnh hưởng. Chúng định hình thương hiệu cá nhân trực tuyến của sinh viên. Một hình ảnh tích cực, chuyên nghiệp mang lại lợi thế. Ngược lại, những chia sẻ thiếu kiểm soát có thể gây hậu quả. Sinh viên ý thức được việc xây dựng một thương hiệu tốt. Điều này liên quan trực tiếp đến nhận diện bản thân qua Facebook.
IV.Mối quan hệ Tác động Facebook đến cái tôi sinh viên
Nghiên cứu phân tích các mối quan hệ quan trọng. Các yếu tố như giới tính, xuất thân, hoạt động xã hội ảnh hưởng đến cách sinh viên thể hiện cái tôi. Tác động của mạng xã hội đến cái tôi rất đa dạng. Thời gian sử dụng Facebook và cách thiết lập chế độ bạn bè cũng đóng vai trò. Sự tự đánh giá của sinh viên có mối liên hệ với hình ảnh đăng tải. Nghiên cứu cũng xem xét khả năng tồn tại cái tôi sai lệch. Hiện tượng so sánh xã hội trên Facebook là một yếu tố đáng chú ý. Luận án chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến ấn tượng cá nhân trên mạng xã hội. Đây là những phát hiện quan trọng về nhận diện bản thân qua Facebook.
4.1. Ảnh hưởng của giới tính xuất thân hoạt động xã hội.
Giới tính tác động đến cách sinh viên tự thể hiện trên mạng xã hội. Nữ giới và nam giới có xu hướng chia sẻ nội dung khác nhau. Xuất thân từ thành phố hay nông thôn cũng ảnh hưởng. Sinh viên tích cực tham gia hoạt động xã hội thường có hình ảnh năng động. Các yếu tố này định hình một phần danh tính số của sinh viên. Chúng là các biến số quan trọng trong phân tích.
4.2. Thời gian sử dụng Facebook và thiết lập chế độ bạn bè.
Thời gian truy cập Facebook cá nhân liên quan đến mức độ thể hiện cái tôi. Sinh viên dành nhiều thời gian hơn có thể chia sẻ nhiều hơn. Việc thiết lập chế độ bạn bè cũng ảnh hưởng đến quyền riêng tư Facebook cá nhân. Mối quan hệ này cho thấy sự kiểm soát thông tin. Nó tác động đến cái tôi thật và cái tôi ảo của sinh viên. Mối liên hệ này cần được cân nhắc.
4.3. Sự tự đánh giá và cái tôi sai lệch của sinh viên.
Nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ giữa sự tự đánh giá của sinh viên và hình ảnh trực tuyến. Sinh viên có thể tạo dựng một cái tôi lý tưởng hóa. Điều này dẫn đến cái tôi sai lệch. So sánh xã hội trên Facebook cũng ảnh hưởng đến tự đánh giá. Việc này có tác động đến tâm lý của sinh viên. Sự khác biệt giữa cái tôi thật và cái tôi ảo được làm rõ.
V.Cái tôi thật cái tôi ảo và ấn tượng cá nhân trên mạng
Luận án tập trung phân tích sự khác biệt giữa cái tôi thật và cái tôi ảo của sinh viên. Facebook cá nhân là không gian cho sự biểu hiện này. Sinh viên thường cố gắng tạo dựng một ấn tượng cá nhân trên mạng xã hội. Điều này bao gồm việc lựa chọn thông tin và hình ảnh được chia sẻ. Hiện tượng so sánh xã hội trên Facebook cũng được khám phá. Nó tác động mạnh mẽ đến cách sinh viên nhận diện bản thân qua Facebook. Nghiên cứu làm rõ các chiến lược mà sinh viên sử dụng. Các chiến lược này nhằm quản lý hình ảnh trực tuyến. Việc này góp phần vào việc xây dựng danh tính số của sinh viên. Tác động của mạng xã hội đến cái tôi là không thể phủ nhận.
5.1. Phân biệt cái tôi thật và cái tôi ảo trên mạng xã hội.
Cái tôi thật là bản chất bên trong của sinh viên. Cái tôi ảo là phiên bản được chỉnh sửa, trình bày trên Facebook. Sinh viên thường cố gắng thể hiện một hình ảnh tốt nhất. Sự khác biệt giữa hai cái tôi này là điểm cốt lõi. Nghiên cứu phân tích khoảng cách này. Nó giúp hiểu rõ hơn về hành vi chia sẻ thông tin sinh viên.
5.2. Ảnh hưởng của so sánh xã hội và kỳ vọng từ bạn bè.
Sinh viên thường so sánh mình với bạn bè trên Facebook. Điều này tạo áp lực phải thể hiện một hình ảnh hoàn hảo. Kỳ vọng từ bạn bè và cộng đồng mạng cũng ảnh hưởng. So sánh xã hội trên Facebook có thể dẫn đến lo âu, tự ti. Nó tác động đến ấn tượng cá nhân trên mạng xã hội và cái tôi tổng thể. Đây là một khía cạnh quan trọng của tác động của mạng xã hội đến cái tôi.
5.3. Chiến lược tạo ấn tượng cá nhân và nhận diện bản thân.
Sinh viên sử dụng nhiều chiến lược để quản lý hình ảnh. Họ chọn lọc nội dung, sử dụng bộ lọc ảnh, viết trạng thái cẩn thận. Mục tiêu là tạo ra một ấn tượng cá nhân mong muốn. Việc này thể hiện sự chủ động trong nhận diện bản thân qua Facebook. Các chiến lược này góp phần xây dựng thương hiệu cá nhân trực tuyến. Chúng là cách sinh viên tự thể hiện trên mạng xã hội một cách có ý thức.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (192 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐÀO LÊ HÒA AN HÌNH ẢNH CÁI TÔI CỦA SINH VIÊN QUA FACEBOOK CÁ NHÂN Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC Mã số : 9.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. Phan Thị Mai Hương 2. Huỳnh Văn Sơn HÀ NỘI - 2018 HÀ NỘI-năm LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi và tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung của luận án này trước Hội đồng và trước pháp luật. Hà Nội, ngày 16 tháng 04 năm 2018 Tác giả Đào Lê Hòa An MỤC LỤC MỞ ĐẦU.
1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HÌNH ẢNH CÁI TÔI CỦA SINH VIÊN QUA FACEBOOK CÁ NHÂN. Các nghiên cứu về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook ở nước ngoài. Các nghiên cứu về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook ở Việt Nam. 17 Tiểu kết chương 1.
22 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÌNH ẢNH CÁI TÔI CỦA SINH VIÊN QUA FACEBOOK CÁ NHÂN. Lý luận về hình ảnh cái tôi. Lý luận về Facebook cá nhân và những tính năng giới thiệu hình ảnh cái tôi. Lý luận về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân.
40 Tiểu kết chương 2. 53 CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Tổ chức nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu.
59 Tiểu kết chương 3. 68 CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HÌNH ẢNH CÁI TÔI CỦA SINH VIÊN QUA FACEBOOK CÁ NHÂN. Thực trạng hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân. Mối quan hệ giữa hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân với các yếu tố.
Nghiên cứu trường hợp về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân. 121 Tiểu kết chương 4. 140 KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ. 142 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ.
146 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 147 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TT Các chữ viết tắt Đọc là 1 ĐH Đại học 2 CĐ Cao đẳng 3 MXH Mạng xã hội 4 SV Sinh viên 5 FB Facebook 6 HACT Hình ảnh cái tôi 7 TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu. Bộ mã về HACT.
Các khía cạnh của HACT qua các chức năng cụ thể của FB. Phân bố các đặc trưng của HACT - nhận diện bề ngoài. Tỷ lệ phân bố HACT - năng lực. Tỷ lệ thường xuyên đăng HACT - cảm xúc.
Phân bố các đặc trưng của HACT - xã hội. Đối tượng kết bạn trên FB của SV (trên tổng mẫu). Mức độ chủ động kết bạn trên FB của SV. Mức độ chấp nhận lời mời kết bạn trên FB của SV.
Nguyên nhân từ chối lời mời kết bạn trên FB của SV. Các nguyên nhân dẫn đến hành động hủy kết bạn trên FB của SV. HACT - tương lai thể hiện qua các chức năng của FB. Sự bộc lộ HACT - hưởng thụ và trải nghiệm cuộc sống.
Các khía cạnh của HACT chung từ tổng các chỉ báo. Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT trong nhóm SV nam và SV nữ. Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT trong nhóm SV xuất thân tại các thành phố khác nhau. Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT và thứ tự sinh của SV.
Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT và mức độ tham gia hoạt động xã hội của SV. Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT và chức vụ trong hoạt động xã hội của SV. Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT và thời gian truy cập FB của SV115 Bảng 4. Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT và sự thiết lập chế độ bạn bè của SV.
Tỷ lệ biểu hiện các khía cạnh HACT và sự tự đánh giá của SV. Tỷ lệ biểu hiện khác khía cạnh HACT và cái tôi sai lệch của SV. 120 DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2. Cấu trúc khái niệm cái tôi.
Cấu trúc HACT học thuật. 34 DANH MỤC CÁC HỘP Hộp 4. HACT - nhận diện hình thức trên ý nghĩa tên FB, ảnh đại diện và trên dòng trạng thái. HACT - nhận diện hình thức trên ảnh đăng tải kèm lời bình qua FB.
Các mô tả về HACT - năng lực ở các bình diện qua FB. HACT - cảm xúc trên dòng trạng thái qua FB. HACT - cảm xúc trên ảnh đăng tải kèm lời bình qua FB. HACT - bạn bè trên dòng trạng thái qua FB.
HACT - bạn bè trên ảnh đăng tải kèm lời bình qua FB. HACT - gia đình trên dòng trạng thái qua FB. HACT - gia đình trên ảnh đăng tải kèm lời bình qua FB. HACT - xã hội trên bình diện quan điểm sống qua FB.
HACT - xã hội trên bình diện quan điểm chính trị, xã hội qua FB. HACT - xã hội trên bình diện quan điểm tôn giáo qua FB. Các mô tả về HACT - tương lai được thể hiện trên hồ sơ cá nhân và dòng trạng thái qua FB. HACT - tương lai được thể hiện ở ảnh đăng tải kèm lời bình qua FB.
Các mô tả về HACT - tính cách qua FB. HACT - hưởng thụ và trải nghiệm cuộc sống thể hiện qua ảnh đăng tải kèm lời bình trên FB. HACT - thể chất của P.H qua ảnh đăng FB. HACT – nhận diện bề ngoài của P.H qua mục giới thiệu trên FB.
HACT - xã hội của P.H qua ảnh kèm lời bình trên FB. HACT - hưởng thụ - trải nghiệm của P.H qua ảnh trên FB. HACT - tính cách của P.H qua các dòng chia sẻ FB. HACT - thể chất của H.L qua ảnh đăng FB.
HACT - vật chất của H.L qua ảnh đăng FB. HACT – nhận diện bề ngoài của H.L qua mục giới thiệu trên FB. HACT - cảm xúc của H.L qua ảnh kèm lời bình trên FB. HACT - xã hội của H.L qua ảnh kèm lời bình trên FB.
HACT – tương lai của H.L qua ảnh kèm lời bình trên FB. HACT - hưởng thụ - trải nghiệm của H.L qua ảnh kèm lời bình FB. HACT - tính cách của H.L qua các dòng chia sẻ FB. HACT – thể chất của G.L được thể hiện qua hình ảnh trên FB.
HACT – nhận diện bề ngoài của G.L qua mục giới thiệu trên FB. HACT - cảm xúc của G.L qua hình ảnh, dòng trạng thái FB. HACT – hưởng thụ, trải nghiệm của G.L qua hình ảnh trên FB. HACT - tính cách của G.L qua các dòng chia sẻ FB.
Tính cấp thiết của đề tài Mạng xã hội (MXH) là dịch vụ kết nối các thành viên có cùng sở thích trên Internet với nhiều mục đích khác nhau, không phân biệt không gian, thời gian. MXH có các tính năng như chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, blog,… đã đổi mới cách mọi người liên kết với nhau, thể hiện bản thân mình và trở thành một phần tất yếu mỗi ngày cho hằng trăm triệu thành viên trên khắp thế giới. Trong các trang MXH đã xuất hiện trên thế giới như Classmates. FB giúp người dùng dễ dàng thể hiện bản thân, kết nối bạn bè, tiếp nhận thông tin, học hỏi kiến thức và kỹ năng, bày tỏ quan điểm cá nhân về một vấn đề nào đó trong cuộc sống,… thông qua chức năng đăng tải hồ sơ cá nhân, hình ảnh, dòng trạng thái, bình luận, các lượt yêu thích,… Tại Việt Nam, FB trở nên khá phổ biến.
Theo thống kê mới nhất, có khoảng 35 triệu người sử dụng FB mỗi tháng ở nước ta. Như vậy với dân số hơn 90 triệu dân thì khoảng hơn 1/3 dân số Việt Nam có tài khoản mạng xã hội FB [91]. Những người tham gia MXH (còn gọi là cư dân mạng) có độ tuổi khá trẻ, tiêu biểu là học sinh – sinh viên. Sinh viên (SV) - lực lượng trí thức trẻ, những người thường xuyên sử dụng FB cá nhân như một công cụ giao tiếp xã hội, trình diễn bản thân, thể hiện những quan điểm, tính cách, thái độ, tình cảm cá nhân.
điều này có ảnh hưởng rất lớn đến hình ảnh hiện tại cũng như tương lai của SV trong các mối quan hệ xã hội - cuộc sống. Không những thế, một số trào lưu tự phát có khuynh hướng hấp dẫn giới trẻ, mà SV cũng nằm trong số đó, nhất là những phát biểu mang tính giật gân và thể hiện những cái được họ coi là sự mạnh mẽ của bản thân có nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến SV trong hành trình hoàn thiện nhân cách. Một ví dụ minh họa cụ thể cho điều này đó là trào lưu “Nói là làm” bắt đầu nở rộ sau vụ thách thức của một anh chàng tên N.T trên FB vào tối 20/9/2016. Nguyên văn lời thách thức là “Bức hình này đủ 40k like tôi đổ xăng từ trên người xuống, lấy hộp quẹt tự đốt người rồi nhảy kênh Tân Hóa! Đủ like sẽ làm, tôi nói là 1 làm.
Share mạnh để có cái hay hấp dẫn mà xem”. Sau khi dòng trạng thái này nhận được hơn 90,000 like thì anh chàng đã thực sự giữ lời hứa của mình bằng cách châm lửa lên người rồi nhảy thật nhanh xuống kênh Tân Hóa để dập lửa [24]. Những khẩu hiệu dạng như “Việt Nam nói là làm”, “đủ like là cởi”, “đủ like sẽ đốt trường”. được bạn trẻ hưởng ứng một cách rầm rộ trên FB nhằm thể hiện cái tôi trình diễn, bản sắc cá nhân nhưng lại mang tính tiêu cực, cường điệu hóa và thách thức dư luận nhằm thỏa mãn nhu cầu tự khẳng định, được nổi tiếng và nhiều người biết đến.
Theo tác giả Trần Hữu Luyến và cộng sự (2015): “Nhu cầu sử dụng MXH của thanh thiếu niên đã có những tiến triển. Nếu như trước đây, giới trẻ sử dụng MXH để tìm kiếm thông tin cho bản thân thì nay họ sử dụng để quảng bá bản thân” [19]. Nghiên cứu của Valkenburg và Peter (2007); Valkenburg và Soetes (2011) đã phát hiện ngày nay, mục đích của việc sử dụng Internet hay MXH đã có sự thay đổi. Nếu như trước kia, thời kì đầu Internet ra đời, giới trẻ sử dụng Internet như một công cụ để tìm kiếm thông tin và giải trí thì ngày nay họ lại sử dụng Internet như một phương tiện để trình diễn và quảng bá hình ảnh cá nhân nhằm làm tăng khả năng nhận diện bản thân với cộng đồng [81].
HACT là những hình dung nhất định về bản thân. Nó là đối tượng nghiên cứu của nhiều phân ngành tâm lý học: tâm lý học nhân cách, tâm lý học xã hội, tâm lý học văn hóa.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân" nghiên cứu về vấn đề gì?
Hình ảnh cái tôi của sinh viên thể hiện qua Facebook cá nhân: dấu hiệu nhận diện, xu hướng thể hiện và tác động xã hội.
Luận án "Hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2018.
Luận án "Hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân" thuộc chuyên ngành Tâm lý học. Danh mục: Giáo Dục Học.
Luận án "Hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân" có bao nhiêu trang?
Luận án "Hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân" có 192 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.