Luận án quá trình phát triển chính sách đối ngoại Việt Nam với ASEAN giai đoạn đổi mới 1986-2024
Phân tích quá trình phát triển chính sách đối ngoại Việt Nam-ASEAN từ 1986 đến 2024, đánh giá tác động chiến lược và đề xuất định hướng tương lai.
Quan hệ quốc tế / Ngoại giao
Luan An
Số trang
178
Thời gian đọc
27 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Bối cảnh và Bước ngoặt chính sách đối ngoại Việt Nam (1986)
- Số trang:
- 178 trang
- Chuyên ngành:
- Quan hệ quốc tế / Ngoại giao
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Bối cảnh và Bước ngoặt chính sách đối ngoại Việt Nam 1986
Giữa thập niên 1980, Việt Nam đối mặt khủng hoảng kinh tế – xã hội. Đất nước cần thoát khỏi thế bao vây cấm vận. Mục tiêu là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội Đảng VI (12/1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện. Đây là bước ngoặt cơ bản, có ý nghĩa quyết định lịch sử cách mạng Việt Nam. Đổi mới là yêu cầu bức thiết, mang tính sống còn. Điều chỉnh chính sách đối ngoại Việt Nam 1986-2024 bắt đầu từ đây.
1.1. Khủng hoảng trong nước phá thế bao vây cấm vận
Tình hình kinh tế Việt Nam khó khăn trầm trọng. Bao vây cấm vận quốc tế gây áp lực lớn. Đường lối Đổi Mới nhằm giải quyết khủng hoảng. Mục tiêu là phục hồi kinh tế, phá vỡ sự cô lập. Quan trọng là tạo môi trường hòa bình. Điều này cần thiết cho phát triển đất nước.
1.2. Đường lối Đổi Mới toàn diện thay đổi tư duy đối ngoại
Đại hội VI khởi xướng Đổi Mới. Tư duy đối ngoại có sự điều chỉnh. Việt Nam không còn coi thế giới là vũ đài đấu tranh. Thế giới là môi trường tồn tại, phát triển. Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác được định hình. Đó là tiền đề cho Hội nhập ASEAN của Việt Nam.
II. Việt Nam gia nhập ASEAN Bước ngoặt đối ngoại chiến lược
Quyết định gia nhập ASEAN là một lựa chọn "cân não". Nó mang ý nghĩa lớn cả đối nội và đối ngoại. Quyết định này giúp Việt Nam thoát khỏi bao vây cấm vận. Đất nước bắt đầu hội nhập khu vực và quốc tế. Đây là sự điều chỉnh táo bạo trong chính sách đối ngoại. Nó thay đổi hoàn toàn tư duy bạn – thù. Quan hệ Việt Nam - ASEAN chuyển từ đối đầu sang hợp tác.
2.1. Lựa chọn cân não thoát khỏi bao vây cấm vận
Gia nhập ASEAN giúp phá vỡ cô lập. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế. Đây là yếu tố sống còn khi tình hình thế giới thay đổi. Khủng hoảng CNXH ở Liên Xô, Đông Âu thúc đẩy sự thay đổi này. Hội nhập ASEAN của Việt Nam là tất yếu.
2.2. Thay đổi cục diện quan hệ khu vực mở rộng hội nhập
Quyết định gia nhập ASEAN gây bất ngờ cho các nước lớn. Nó thay đổi hoàn toàn cục diện quan hệ của Việt Nam. ASEAN trở thành nhân tố quan trọng. Nó giúp Việt Nam tạo thế và lực mới. Ngoại giao đa phương Việt Nam được đẩy mạnh.
III. Tiến trình phát triển chính sách Việt Nam ASEAN 1986 2024
Quá trình đổi mới tư duy, đường lối đối ngoại của Đảng ngày càng hoàn thiện. Chính sách đối ngoại Việt Nam 1986-2024 phát triển liên tục. Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở. Đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế là mục tiêu. Lợi ích quốc gia là nguyên tắc tối cao. Sự phát triển chính sách đối ngoại với ASEAN là cơ sở và thành quả đổi mới.
3.1. Từ hữu nghị hợp tác đến thành viên chủ động tích cực
Chính sách có bước tiến dài. Từ chủ trương "phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với Inđônêxia và các nước Đông Nam Á khác" (1986). Đến "tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN" (1996). Cuối cùng là "chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng vững mạnh" (2016). Việt Nam đã vượt qua nghi kỵ, đối đầu. Nước này trở thành thành viên tích cực của Cộng đồng ASEAN.
3.2. Vai trò Việt Nam trong định hình Cộng đồng ASEAN vững mạnh
Việt Nam là thành viên "chủ động, tích cực, có trách nhiệm". Nước này góp phần xây dựng Cộng đồng ASEAN. Sự điều chỉnh chính sách 30 năm qua tạo nên thành công này. ASEAN tạo thế và lực cho Việt Nam. Cộng đồng ASEAN hình thành cuối 2015. Nước này tiếp tục đẩy mạnh liên kết. ASEAN có vai trò trung tâm định hình trật tự khu vực.
IV. Hợp tác kinh tế và an ninh khu vực Đông Nam Á
Việt Nam luôn coi trọng hợp tác kinh tế ASEAN-Việt Nam. Hợp tác này thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nó đóng góp vào sự phát triển chung của khu vực. An ninh khu vực Đông Nam Á là ưu tiên hàng đầu. Việt Nam cùng các nước thành viên duy trì hòa bình, ổn định.
4.1. Đẩy mạnh liên kết kinh tế tạo động lực phát triển
30 năm Đổi Mới đã tạo sức mạnh tổng hợp. Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội, thách thức mới. Hội nhập quốc tế toàn diện phục vụ phát triển. Hợp tác kinh tế trong ASEAN là động lực. Nó giúp tăng cường lợi ích quốc gia. Việt Nam tiếp tục đổi mới tư duy, hoạch định chính sách đối ngoại.
4.2. Giải quyết thách thức an ninh ổn định Biển Đông
Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương phát triển năng động. Tuy nhiên, nhiều nhân tố gây mất ổn định vẫn tồn tại. Tranh chấp lãnh thổ, biển đảo ngày càng gay gắt. Biển Đông trong quan hệ Việt Nam-ASEAN cần giải quyết hòa bình. Xuất hiện các hình thức tập hợp lực lượng mới. Việt Nam cùng ASEAN bảo vệ Tổ quốc. Nước này đảm bảo an ninh khu vực.
V. Tầm nhìn tương lai Việt Nam và Cộng đồng ASEAN 2025
Đại hội Đảng XII (1/2016) khẳng định ASEAN là trọng tâm chính sách đối ngoại Việt Nam. Định hướng là "chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng vững mạnh". Điều này phù hợp Tầm nhìn ASEAN 2025. Nó phản ánh cam kết của Việt Nam.
5.1. Thúc đẩy liên kết sâu rộng giữ vai trò trung tâm
ASEAN sẽ tiếp tục đẩy mạnh liên kết. Nước này giữ vai trò trung tâm trong định hình trật tự khu vực. Tình hình thế giới, khu vực có nhiều chuyển biến sâu sắc. Cộng đồng ASEAN và vai trò Việt Nam càng quan trọng. Ngoại giao đa phương Việt Nam được củng cố.
5.2. Đối mặt thách thức mới khẳng định vị thế quốc gia
Những thành tựu đổi mới tạo sức mạnh lớn. Việt Nam đối mặt thời cơ, thách thức mới. Hội nhập quốc tế toàn diện là con đường. Nó phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cần tiếp tục đổi mới tư duy, hoạch định chính sách đối ngoại. Phát huy nhân tố ASEAN hiệu quả là cần thiết.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (178 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộý do chọn đề tài Từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, Việt Nam đứng trước đòi hỏi bức bách phải tìm cách thoát khỏi tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá thế bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu một bước ngoặt cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Đại hội VI khẳng định đổi mới là yêu cầu bức thiết, vấn đề có ý nghĩa sống còn với đất nước. Kể từ năm1986 đến nay, Việt Nam đã luôn "tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững hơn” [41, tr.
30 năm Đổi mới đã cho thấy một trong những nhiệm vụ cơ bản của công tác đối ngoại là củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới nói chung và việc điều chỉnh chính sách đối với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nói riêng không chỉ là đòi hỏi chủ quan của tình hình khủng hoảng trong nước mà còn là vấn đề sống còn trước yêu cầu khách quan khi tình hình thế giới thay đổi, nhất là sau khủng hoảng của CNXH ở Liên Xô, Đông Âu. Trong công cuộc đổi mới, quyết định của Việt Nam gia nhập ASEAN là lựa chọn "có tính cân não" [111, tr. 208] cả về đối nội và đối ngoại, góp phần giúp Việt Nam thoát khỏi thế bị bao vây cấm vận, hội nhập với khu vực và quốc tế.
Về đối nội, đổi mới chính sách với ASEAN là quyết định táo bạo, thay đổi hoàn toàn tư duy bạn - thù. Về đối ngoại, đây là quyết định khiến ASEAN và các nước lớn bất ngờ, làm thay đổi hoàn toàn cục diện quan hệ của Việt Nam. Sự điều chỉnh đúng đắn, kịp thời chính sách với ASEAN đã góp phần tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để tập trung phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm các yêu cầu về an ninh, phát triển và nâng cao vị thế của Việt Nam. 2 Thành công của sự nghiệp đổi mới là kết quả của quá trình tìm tòi, trải nghiệm, liên tục đổi mới và hoàn thiện tư duy của Đảng trên mọi lĩnh vực.
Trong đó, quá trình đổi mới tư duy và đường lối đối ngoại của Đảng ngày càng được hoàn thiện. Từ chỗ coi thế giới là một vũ đài đấu tranh, Việt Nam đã khẳng định đó là môi trường tồn tại và phát triển của mình. Việt Nam đã từng bước hoàn thiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, lấy việc bảo đảm lợi ích quốc gia là nguyên tắc tối cao. Sự phát triển chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN vừa góp phần tạo cơ sở, vừa là thành quả của quá trình đổi mới đường lối đối ngoại của Đảng.
Nhìn lại 30 năm đổi mới, có thể thấy bước phát triển từ chủ trương "không ngừng phấn đấu nhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với Inđônêxia và các nước Đông Nam Á khác. mong muốn và sẵn sàng cùng các nước trong khu vực thương lượng để giải quyết các vấn đề ở Đông Nam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hoà bình, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định và hợp tác" (1986) [37, tr. 114]; tới “ra sức tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN” (1996) [38, tr.121] đến “chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng vững mạnh” (2016) [45, tr.154] là bước tiến dài và sự phát triển đột phá trong chính sách của Việt Nam với ASEAN. Việt Nam đã vượt qua những nghi kỵ và đối đầu với các nước thành viên ASEAN để trở thành một thành viên "chủ động, tích cực, có trách nhiệm" trong Cộng đồng ASEAN.
Đó là kết quả của quá trình điều chỉnh, phát triển tư duy, hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại 30 năm qua. ASEAN đã trở thành nhân tố quan trọng giúp tạo thế và lực cho Việt Nam. Với Cộng đồng ASEAN hình thành từ cuối năm 2015, ASEAN sẽ tiếp tục đẩy mạnh liên kết, có vai trò trung tâm trong việc định hình trật tự mới trong khu vực khi tình hình thế giới và khu vực đang có những chuyển biến sâu sắc. Khu 3 vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ tiếp tục phát triển năng động nhưng còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định.
Tranh chấp lãnh thổ, biển đảo ngày càng gay gắt. Xuất hiện các hình thức tập hợp lực lượng và đan xen lợi ích mới. Ở trong nước, những thành tựu của 30 năm đổi mới đã tạo ra cho đất nước sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước. Việt Nam đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới trong quá trình hội nhập quốc tế toàn diện, phục vụ sự nghiệp đổi mới, xây dựng và và bảo vệ Tổ quốc.
Điều đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục đổi mới cả về tư duy, hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (tháng 1/2016) khẳng định ASEAN là một trọng tâm của chính sách đối ngoại của Việt Nam với định hướng “chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng vững mạnh” [45, tr. Để phát huy nhân tố ASEAN một cách hiệu quả, tăng cường lợi ích cho đất nước, cần có những đánh giá tổng thể về chính sách của Việt Nam với ASEAN cả về lý luận và thực tiễn trong giai đoạn 1986-2016 nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới. Nghiên cứu quá trình phát triển chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN giai đoạn này sẽ giúp đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế trong việc hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam với khu vực trong thời kỳ Đổi mới thông qua các bước điều chỉnh chính sách; đóng góp cơ sở khoa học để tiếp tục hoàn thiện đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế toàn diện.
Nghiên cứu cũng sẽ góp phần triển khai định hướng đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XII, phát huy hiệu quả vai trò của ASEAN trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Với những ý nghĩa lý luận và thực tiễn nêu trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn chủ đề “Quá trình phát triển chính sách đối ngoại của Việt Nam với Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong thời kỳ Đổi mới (1986 đến nay)”, làm đề tài cho luận án Tiến sỹ chuyên ngành Quan hệ quốc tế của mình 4 với mục tiêu đưa ra khuyến nghị chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN trong thời gian 10 năm tới. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Chính sách đối ngoại của Việt Nam nói chung và với ASEAN nói riêng đã nhận được sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước do vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của Việt Nam, song các công trình nghiên cứu đều có mục tiêu và phạm vi nghiên cứu khác nhau, cụ thể: 2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc 2.
Các nghiên cứu về quá trình đổi mới chính sách đối ngoại của Việt Nam Các tài liệu về cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại Việt Nam gần đây mới được phổ biến rộng rãi. Nổi bật là các cuốn "Cục diện thế giới đến 2020”, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2010 [79]; “Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến 2020”, Nxb. Chính trị quốc gia, 2010 [77], “Đường lối Chính sách Đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới”, Nxb.
Chính trị Quốc gia, 2011 [78] do Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh chủ trì biên soạn với những nhận định về sự phát triển cục diện thế giới, định hướng chiến lược và đường lối chính sách đối ngoại cho Việt Nam. Tác giả Phạm Quang Minh trong “Chính sách đối ngoại Đổi mới của Việt Nam (1986 - 2010)”, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2012 [87] đã phân tích một cách hệ thống chính sách đối ngoại của Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới. Các tác giả Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế (chủ biên) trong “Chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Nxb.
Chính trị hành chính (2013) [46] đã trình bày tư tưởng, nguyên tắc, nhiệm vụ, phương châm chỉ đạo, lập trường của Việt Nam đối với các vấn đề quốc tế lớn; phương hướng và thành tựu đối ngoại trong việc phá thế bao vây cấm vận, thoát khỏi khủng hoảng và hội nhập khu vực, hội nhập quốc tế để rút ra bài học về hoạch định chính sách đối ngoại. Ngoài ra, cuốn “Thế giới trong 50 năm qua (1945- 1995) và Thế giới trong 25 năm tới (1995-2020)” của tác giả Nguyễn Cơ Thạch, 5 Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 [119] cũng đưa ra những nhận định về sự chuyển biến của tình hình thế giới trong thời gian qua và sắp tới. Nhiều công trình đã điểm những dấu mốc của ngoại giao Việt Nam hiện đại và ngoại giao thời kỳ đổi mới, như: “Ngoại giao Việt Nam 1945-2000” của Nguyễn Đình Bin (Chủ biên), Nxb.
Chính Trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 [13]; "Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam, 1945 – 1995" của Lưu Văn Lợi, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, 1998 [73]; “Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại 1986 - 2000” của Vũ Quang Vinh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2001 [131]. Các tác giả nguyên là Lãnh đạo của ngành Ngoại giao cũng có nhiều các công trình, bài viết liên quan, như Nguyễn Dy Niên trong “Chính sách và hoạt động đối ngoại trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Cộng sản, số 17, 2005 [100]; Vũ Khoan trong “Đổi mới về đối ngoại”, Tạp chí Cộng sản, số 16, 2005 [66]; Nguyễn Mạnh Cầm với “Ngoại giao Việt nam thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Cộng sản, số 19, 2005 [23]; Phạm Gia Khiêm với “Việt Nam tự tin vững bước trên con đường hội nhập”, Tạp chí Cộng sản, số 780, 2007 [64]; Dương Văn Quảng và Nguyễn Thị Thìn với "Bàn về vấn đề phân tích chính sách đối ngoại", Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 4 (83), 2010 [112] … Những bài viết này đã lý giải các bước đi của Việt Nam từ chỗ “mong muốn” và “sẵn sàng là bạn” đến khẳng định “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước”.
trong thời kỳ Đổi mới.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Phát triển chính sách đối ngoại Việt Nam - ASEAN giai đoạn 1986-2024 (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/chinh-tri-hoc/quan-he-quoc-te/luan-an-phat-trien-chinh-sach-doi-ngoai-viet-nam-asean-1986-den-2024
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Phát triển chính sách đối ngoại Việt Nam - ASEAN giai đoạn 1986-2024" nghiên cứu về vấn đề gì?
Phân tích quá trình phát triển chính sách đối ngoại Việt Nam-ASEAN từ 1986 đến 2024, đánh giá tác động chiến lược và đề xuất định hướng tương lai.
Luận án "Phát triển chính sách đối ngoại Việt Nam - ASEAN giai đoạn 1986-2024" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Phát triển chính sách đối ngoại Việt Nam - ASEAN giai đoạn 1986-2024" thuộc chuyên ngành Quan hệ quốc tế / Ngoại giao. Danh mục: Quan Hệ Quốc Tế.
Luận án "Phát triển chính sách đối ngoại Việt Nam - ASEAN giai đoạn 1986-2024" có bao nhiêu trang?
Luận án "Phát triển chính sách đối ngoại Việt Nam - ASEAN giai đoạn 1986-2024" có 178 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Phát triển chính sách đối ngoại Việt Nam - ASEAN giai đoạn 1986-2024" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.