Phân tích thực tiễn vận động bầu cử - Chế độ tại Việt Nam
Phân tích lý luận và thực tiễn cải cách chế度选举制度的理论与实践研究,第二部分。
Số trang
251
Thời gian đọc
38 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I. Đổi mới chế độ bầu cử Thực tiễn và tranh cử ở Việt Nam
Việt Nam có cách tiếp cận riêng về bầu cử. Thực tiễn cho thấy không có khái niệm tranh cử trực tiếp. Chỉ có vận động bầu cử. Quan điểm này được các cơ quan chức năng khẳng định. Tranh cử được coi là một công đoạn nhỏ trong bầu cử. Tuy nhiên, bầu cử mà thiếu vận động tranh cử đúng nghĩa sẽ giảm tính dân chủ. Trong một đơn vị bầu cử, có số dư ứng cử viên là có sự cạnh tranh. Không thể nói rằng các ứng cử viên không tranh giành nhau. Bầu cử hiện nay không có tranh cử đúng nghĩa. Điều này ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của bầu cử. Nhiều cuộc bầu cử, ứng cử viên không có chương trình hành động cụ thể. Hoặc chỉ trình bày vài ý kiến khi tiếp xúc cử tri. Bầu cử dân chủ cần có sự cạnh tranh công bằng. Đây là một điểm cần xem xét trong cải cách bầu cử. Thực tiễn này đòi hỏi sự đổi mới toàn diện.
1.1. Phân biệt vận động bầu cử và tranh cử
Việt Nam phân biệt rõ giữa vận động bầu cử và tranh cử. Các tổ chức giải thích rằng không có tranh cử ở Việt Nam. Chỉ có vận động bầu cử. Ứng cử viên không tự vận động nếu không qua tổ chức. Tranh cử chỉ là một phần hoạt động trong bầu cử. Không nên so sánh tranh cử với toàn bộ quá trình bầu cử. Đây là vấn đề mang tính hệ thống chính trị Việt Nam. Việc giải thích cần đặt trong bối cảnh hệ thống.
1.2. Thực trạng thiếu cạnh tranh trong bầu cử
Bầu cử hiện tại thiếu sự vận động tranh cử. Pháp luật và tư duy hiện hành chưa tạo ra tính cạnh tranh. Trong một đơn vị bầu cử, có số dư là có cạnh tranh. Không thể có trường hợp ứng cử viên không tranh giành nhau. Tranh cử là hoạt động phổ biến toàn cầu. Ngay cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của Việt Nam cũng có tranh cử sinh động. Thiếu tranh cử là một hạn chế của bầu cử hiện nay. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng đại biểu. Cần đổi mới chế độ bầu cử để khắc phục.
II. Hạn chế trong vận động bầu cử quyền ứng cử tại Việt Nam
Chế độ bầu cử Việt Nam đặt ra nhiều hạn chế. Các ứng cử viên thường không có chương trình hành động rõ ràng. Hoặc chỉ nêu vài ý kiến trong các buổi tiếp xúc cử tri. Điều này làm giảm sự lựa chọn của cử tri. Quyền ứng cử của cá nhân cũng bị ảnh hưởng. Kết quả trúng cử phụ thuộc nhiều vào định hướng lãnh đạo. Cấu trúc tổ chức đóng vai trò quan trọng. Năng lực ứng cử viên và sự tín nhiệm của cử tri chưa được đặt lên hàng đầu. Điều này dẫn đến các đại biểu chưa thực sự toàn tâm. Họ lo sợ mất uy tín với cấp ủy, cấp trên hơn là với nhân dân. Đây là một vấn đề trong hệ thống chính trị Việt Nam. Nó cần được giải quyết để nâng cao chất lượng đại biểu và bầu cử dân chủ hơn. Đổi mới chế độ bầu cử cần xem xét các hạn chế này.
2.1. Ứng cử viên và chương trình hành động
Nhiều ứng cử viên hiện tại không có chương trình hành động cụ thể. Chương trình thường chỉ là những ý kiến đơn giản. Chúng được trình bày tại các buổi tiếp xúc cử tri. Điều này gây khó khăn cho cử tri trong việc đánh giá. Cử tri thiếu thông tin để thẩm định năng lực ứng cử viên. Yếu tố này ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền bầu cử. Nâng cao chất lượng chương trình hành động là cần thiết.
2.2. Tác động của cơ cấu định hướng lãnh đạo
Đại biểu trúng cử phụ thuộc vào định hướng của lãnh đạo. Hiện tượng cơ cấu cũng đóng vai trò lớn. Năng lực ứng cử viên chưa phải yếu tố quyết định hoàn toàn. Sự tín nhiệm của cử tri cũng chưa được ưu tiên. Điều này dẫn đến một số đại biểu thiếu tận tâm. Họ ưu tiên uy tín với cấp ủy hơn uy tín với nhân dân. Đây là thực trạng cần đổi mới trong hệ thống chính trị Việt Nam. Cải cách bầu cử cần giải quyết vấn đề này.
III. Cải cách luật bầu cử Nâng cao dân chủ và cạnh tranh
Để có bầu cử dân chủ thực chất, cần cải cách luật bầu cử. Ứng cử viên cần có cơ sở pháp lý để đối thoại tranh cử. Các diễn đàn, hình thức phù hợp cần được xây dựng. Điều này giúp họ tiếp xúc mọi thành phần cử tri. Nếu luật bầu cử đại biểu Quốc hội, luật bầu cử đại biểu HĐND chưa phù hợp, cần sửa đổi. Không nên lặp lại lý do 'không còn thời gian sửa đổi luật'. Đổi mới này mang lại nhiều lợi ích. Cử tri sẽ có thông tin đầy đủ để quyết định qua lá phiếu. Ứng cử viên có cơ hội rèn luyện bản thân. Họ sẽ tập dượt làm chính khách và hoạt động nghị trường. Vận động bầu cử là hoạt động không thể thiếu. Đổi mới toàn diện vận động bầu cử là trọng tâm. Đây là nội dung quan trọng trong đổi mới chế độ bầu cử hiện nay. Cải cách sẽ giúp nâng cao chất lượng đại biểu, đảm bảo quyền ứng cử công bằng.
3.1. Yêu cầu về cơ sở pháp lý cho đối thoại tranh cử
Cần có cơ sở pháp lý rõ ràng cho đối thoại tranh cử. Ứng cử viên cần môi trường để gặp gỡ, trao đổi với cử tri. Điều này bao gồm việc tổ chức diễn đàn và các hình thức tiếp xúc phù hợp. Đây là bước quan trọng để xây dựng nền dân chủ đích thực. Nếu luật bầu cử hiện hành chưa hỗ trợ, cần sửa đổi kịp thời. Không nên trì hoãn việc cải cách bầu cử. Việc này giúp đảm bảo quyền ứng cử và quyền bầu cử được thực hiện đầy đủ.
3.2. Lợi ích của đổi mới vận động bầu cử
Đổi mới vận động bầu cử mang lại hai lợi ích lớn. Thứ nhất, cử tri sẽ tiếp cận được nhiều thông tin. Họ có thể thẩm định ứng cử viên và đưa ra quyết định sáng suốt. Thứ hai, ứng cử viên có điều kiện rèn luyện. Họ được 'tập dượt' làm chính khách và hoạt động nghị trường. Vận động bầu cử là hoạt động thiết yếu. Đổi mới toàn diện vận động bầu cử là một nội dung quan trọng. Điều này góp phần vào cải cách bầu cử ở Việt Nam.
IV. Vai trò đơn vị bầu cử ảnh hưởng hệ thống chính trị Việt Nam
Phân định đơn vị bầu cử đóng vai trò quan trọng. Đây là quá trình xác định ranh giới các khu vực bầu cử. Việc phân chia lại các đơn vị bầu cử cần thực hiện định kỳ. Nếu không, sự sai lệch về dân số sẽ ảnh hưởng đến tính công bằng. Kết quả bầu cử chịu tác động lớn từ cách phân định này. Thành phần cơ quan lập pháp cũng bị ảnh hưởng. Các quốc gia khác nhau có phương pháp phân định riêng. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến nhà lập pháp. Nó còn tác động đến cá nhân và cộng đồng cử tri. Đảm bảo tính chính xác và công bằng trong phân định là cần thiết. Điều này góp phần vào việc xây dựng bầu cử dân chủ. Cải cách bầu cử cần chú ý đến vấn đề này. Nó là một phần của tổng thể đổi mới chế độ bầu cử, góp phần vào sự ổn định của hệ thống chính trị Việt Nam.
4.1. Khái niệm và tầm quan trọng của phân định đơn vị bầu cử
Phân định ranh giới được hiểu là quá trình phân chia đơn vị bầu cử. Khái niệm này cũng áp dụng cho nơi bỏ phiếu hoặc đơn vị hành chính. Phân định định kỳ đơn vị bầu cử rất quan trọng. Nó đặc biệt cần thiết trong hệ thống đại diện. Nếu không phân định thường xuyên, dân số sẽ bị sai lệch. Điều này ảnh hưởng đến sự công bằng của bầu cử dân chủ. Tầm quan trọng của phân định cần được nhận thức đúng.
4.2. Ảnh hưởng của phân định đến kết quả và thành phần lập pháp
Phân định đơn vị bầu cử có ảnh hưởng lớn. Nó tác động đến các nhà lập pháp và cử tri. Kết quả bầu cử có thể thay đổi tùy thuộc vào cách phân định. Thành phần của cơ quan lập pháp cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp. Điều này tác động đến sự đại diện của cá nhân và cộng đồng. Đảm bảo sự công bằng trong phân định là điều kiện tiên quyết. Đây là yếu tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam vững mạnh và công bằng.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (251 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộra ứng cử”. Ong khang định “Ở Việt Nam, không có tranh cử mà chỉ có vận động bau cử. Bau cử khác với tranh cử, ứng cử viên không ai tranh a’. Cũng tương tự như vậy, Ông Trần Ngọc Nhẫn, Trưởng ban Dân chủ pháp luật (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) đã giải thích răng, chế độ bầu cử ở nước ta không cho phép tranh cử, ứng cử viên không thé tự mình đứng ra vận động bau cử, nếu không thông qua co quan, tổ chức 200 Vấn đề thứ nhất, ông Trưởng tiểu ban Tuyên truyền bầu cử nói rất đúng: ở đa số các nước, các đảng viên phải được các đảng phái tuyên chọn và đề cử, vì đó là chức năng cơ bản của các đảng phái chính trị, nhưng đó là cơ chế chính trị đa đảng, đúng như ông nói.
Không thể “cắt đoạn” dé giải thích những van dé mang tính hệ thống trong khi lại phủ nhận chính cái hệ thống đó. Van dé thứ hai, ông Trưởng tiểu ban Tuyên truyền khang định bầu cử khác với tranh cử, ứng cử viên không ai tranh ai. Về vấn đề này, chúng tôi cho rang: Mot Jd, tranh cử chỉ là một công đoạn, một loại hoạt động trong bầu cử, cho nên không nên so sánh tranh cử với bầu cử; Hai là, nếu bầu cử không có vận động tranh cử, thì không phải là bầu cử theo đúng nghĩa; trong một đơn vị bầu cử, đã có số dư là có tranh cử, không thê xảy ra trường hợp “ứng cử viên không ai tranh ai”; Ba là, nói đến bầu cử, không thể không nói đến vận động tranh cử, điều này chẳng những phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, mà ngay trong cuộc Tổng tuyên cử đầu tiên ở nước ta, nó đã được thể hiện sinh động và là một trong những nguyên nhân quan trọng làm nên thành công của cuộc Tông tuyên cử. Như vậy là quá rõ: bầu cử hiện nay ở nước ta không được vận động tranh cử.
Với qui định của pháp luật và tư duy về bầu cử như vậy, chưa thể nói tới tính cạnh tranh trong bầu cử. Nhiều cuộc bầu cử, thậm chí người được đề cử không có chương trình hành động, hoặc chỉ là vài ý kiến trong các cuộc tiếp xúc cử tri. Rất nhiều đại biểu trúng cử chủ yếu phụ thuộc vào định hướng của lãnh đạo, của hiện '» Vietnamnet ngày 26/4/2004, ngày 2/5/2007 ? Tuyết Nhung - Ung cử viên được làm gì và không được làm gì, Báo Thanh niên ngày 2/5/ 2007 253 tượng cơ cau, chứ không phải hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực và chương trình hành động của các ứng cử viên, vào su tín nhiệm của cử tri. Do vậy, cũng dễ hiểu tại sao một số đại biéu chưa toàn tâm, toàn ý với vai trò là người đại biểu của nhân dân, khomg sợ mất uy tín với nhân dân bang mat uy tín với cấp ủy, cấp trên”.
Trong kaii chưa thé đòi hỏi cao vẻ thực thi dân chủ trong đa số dân chúng, toàn bộ ứng viên, cả ngưởi được đề cử và người tự ứng cử, phải đi tiên phong xây dựng nền dân chủ đích thực. Muốn vậy, họ phải có cơ sở pháp lý để tổ chức các diễn đàn, các hình thức phù hop dé “tiếp xúc đối thoại tranh cử” trước mọi thành phần cử tri. Nếu cơ sở pháp lý chưa phù hợp thì cần xây dựng lại cho phù hợp, không nên lặp lại điệp khúc “không còn thời gian sửa đổi Luật bau cử”; điều này mang lại hai lợi ich: Thứ nhất, phần lớn cử tri dù không trực tiếp tiếp xúc thì vẫn có thông tin từ các cuộc đối thoại như vậy để thẩm định các ứng viên mà đưa ra quyết định qua lá phiếu của mình. Thứ hai, các ứng viên có điều kiện “tập dượt” làm chính khách và hoạt động nghị trường ”°”.
Tóm lại, vận động bau cử là một loại hoạt động không thé thiếu của mọi chế độ bau cử. Ddi mới toàn diện về vận động bầu cử là một nội dung quan trọng trong việc đôi mới chê độ bâu cử ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. **' Đặng Dinh Tân ( Chủ biên)- Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, 2006, tr.
214-215 ## Báo Tuổi trẻ, các ngày 21,22,23,24/3/2007 254 Chuyên đề 8 DON VỊ BẦU CỬ - KHÁI NIỆM, BAN CHAT VÀ CÁCH THỨC PHAN ĐỊNH CÁC DON VỊ BAU CỬ TS. Đặng Minh Tuấn, Khoa Luật-ĐHQGHN 1. Pháp luật về phân định các đơn vị bầu cử 1. Khái quát chung Khái niệm “Phân định ranh giới” (boundary delimitation) thường được hiểu là quá trình phân định các các đơn vị bầu cử.
Khái niệm này cũng được sử dụng cho quá trình phân định các nơi bỏ phiếu. Khái niệm này cũng được sử dụng cho việc phân định các đơn vị hành chính trong nước. Trong nội dung bài viết này, khái niệm này được sử dụng là quá trình phân định các đơn vị bầu cử. Phân định định kỳ các đơn vị bầu cử, hoặc phân chia lại các đơn vị bầu cử đóng vai trò quan trọng trong hệ thống đại diện nơi mà các cuộc bầu cử đơn danh hoặc liên danh được sử dụng.
Nếu việc phân định các đơn vị bầu cử không được tiến hành định kỳ, sự sai lệnh về dân số sẽ ảnh hưởng đến các đơn vị bau cử. Phân định các đơn vị bầu cử có thể có những ảnh hưởng lớn không chỉ đối với các nhà lập pháp-những người đại diện cho các đơn vị bầu cử, mà còn ảnh hưởng đến các cá nhân và công đồng đại diện của các đơn vị bầu cử đó. Nói một cách cụ thể hơn, kết quả bầu cử và thành phần của cơ quan lập pháp chịu ảnh hưởng bởi sự phân định các đơn vị bầu cử. Các nước khác nhau có các phương pháp khác nhau trong việc phân định các đơn vị bầu cử.
Ở một số nước, phương pháp truyền thống được áp dụng cho đến ngày nay. Ở một số nước khác, các phương pháp được du nhập thông qua quá trình ảnh hưởng pháp luật (như thuộc dia). Sự khác nhau còn phụ thuộc vào quy mô của đất nước, các đặc điểm địa lý và nguồn tài chính. Gần đây, nhiều nước đã xem xét bối cảnh chính trị-xã hội để quyết định phân định các phương pháp phân định phù hợp.
Phương pháp phân định các đơn vị bau cử phụ thuộc có mối quan hệ gần gũi với hệ thống bầu cử: đa số tuyệt đối hoặc đa số tương đối. Cả hai hệ thống này phụ thuộc œ bản vào các đơn vị bầu cử đơn danh. Các đơn vị bầu cử này cần phải 255 được phân định lại theo định kỳ nhằm cập nhật những thay đổi của dân số. Tuy nhiên, hệ thống bầu cử đa số tuyệt đối và đa số tương đối không phải là những hệ thống bầu cử duy nhất đặt ra việc phân định định kỳ các đơn vị bầu cử.
Các hệ thống bầu cử hỗn hợp và tỷ lệ đôi khi cũng cần phân định các đơn vị bau cử. Việc phân định bầu cử trong hệ thống bau cử đa số tuyệt đối và tương đối có tầm quan trọng hơn trong hệ thống bầu cử hỗn hợp và tỷ lệ. Chế định pháp luật về phân chia đơn vị bầu cử là một chế định pháp luật bầu cử quan trọng. Chế định pháp luật này bao gồm các quy định pháp luật nhằm đảm bảo răng các đơn vị bầu cử được phân chia theo một cách thức nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu bình dang giá trị lá phiếu và tính đại diện cao nhất.
Chế định pháp luật này giải quyết vẫn đề làm thế nào để phân chia các đơn vị bau cử. Với tim quan trọng như vậy, Hiến pháp nhiều nước có các quy định về van đề này. Chế định pháp luật này quy định về: - Tính định kỳ của sự phân chia các đơn vị bầu cử; - Các tiêu chí phân chia; - Mức độ tham gia của người dân vào quá trình này; - Vai trò của các co quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong quá trình này; - Cơ quan có thâm quyền phân chia các đơn vị bầu cử. Phần lớn các quốc gia phân chia các đơn vi bầu cử để phục vụ các cuộc bau cử (66,3%), trong khi khoảng 26% các nước sử dụng các don vi sẵn có để sử dụng cho các cuộc bầu cử (Xem bảng ]).
Bảng 1- Phân chia các đơn vị bầu cử phục vụ các cuộc bầu cử” Trả lời Số Phần Danh mục các nước (tông 223) nước trăm Có 148 66.3% United Arab Emirates, Antigua and Barbuda, Anguilla, Armenia, American Samoa, ? http://aœproject.org/epic-en/CDTable?question=BD001#b 256 Austria, Australia, Azerbaijan, Bosnia and Herzegovina, Barbados, Bangladesh, Belgium, Bulgaria, Bahrain, Benin, Bermuda, Bolivia, Bahamas, Bhutan, Botswana, Belarus, Belize. Canada, Congo (Brazzaville), Cote d'Ivoire, Cook Islands, China, Colombia, Cuba, Cape Verde, Czech Republic, Germany, Dominica, Dominican Republic, Algeria, Ecuador, Egypt, Eritrea, Ethiopia, Finland, Fiji, Micronesia, Federated States of, France, Gabon, United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland, Grenada, Georgia, French Guiana, Ghana, Gambia, Guadeloupe, Guinea-Bissau, Guyana, Hong Kong, Honduras, Croatia, Hungary, Indonesia, Ireland, India, Iceland, Italy, Jamaica, Jordan, Japan, Kenya, Comoros, Saint Kitts and Nevis, Korea, Republic of, Cayman Islands, Kazakhstan, Lebanon, Saint Lucia, Liechtenstein. Sri Lanka, Liberia, Lesotho, Lithuania. Luxembourg, Latvia, Libya.
Morocco, Marshall Islands, Mali, Mongolia, Martinique, Montserrat, Malta, Malawi, Mexico, Malaysia, Namibia, New Caledonia, Niger, Nigeria, Netherlands, Nepal, Nauru, Niue, New Zealand, Panama, Peru, French Polynesia, Papua New Guinea, Philippines, Pakistan, Poland, Puerto Rico, Palau, Qatar, Reunion, Rwanda, Seychelles, Sudan, Sweden, Singapore, Slovenia, Sierra Leone. Somalia, South Sudan, Sao Tome and Principe, Swaziland, Turks and Caicos Islands, Togo, Thailand, Tajikistan, Turkmenistan, Tunisia, Tonga, Turkey, Trinidad and Tobago, Tuvalu, Tanzania, 257 Ukraine, Uganda. United States of America, Uzbekistan, Saint Vincent and the Grenadines, Venezuela, Virgin Islands, U., Viet Nam, Vanuatu, Wallis and Futuna, Samoa, Yemen, Zambia, Zimbabwe, Zanzibar, Không, sử 58 26% Andorra, Afghanistan. Albania, Angola, dụng các Argentina, Aruba, Burkina Faso, Burundi, đơn vi Brazil, Congo (Kinshasa).
Democratic ving, tinh Republic of the, Central African Republic. hoac khac Switzerland, Chile, Cameroon, Costa Rica, Cyprus, Diibouti, Denmark, Estonia, Spain, Falkland Islands (Malvinas), Faroe Islands, Guinea, Guatemala, Guam, Haiti. Iraq, Iran, Cambodia, Kiribati, Korea, Democratic People's Republic of. Moldova, Republic of, Montenegro, Madagascar, Macedonia, the Former Yugoslav Republic of, Mauritania, Mauritius, Maldives, Mozambique, Nicaragua, Norway, Oman, Palestine, Portugal, Paraguay, Romania, Russia, Solomon Islands, Saint Helena, San Marino, Senegal, Suriname.
El Salvador, Chad, Taiwan, Uruguay, South Africa Không áp 10 4.4% Greenland, Greece, Israel. Kyrgyzstan, dụng Kosovo, Monaco, Serbia, Saudi Arabia, Slovakia, Holy See (Vatican City State) Không có 3.1% Brunei__ Darussalam, Christmas Isiand. thông tin Western Sahara. Timor-Leste, Virgin Islands.
Một số nội dung cơ bản 258 1. Các cơ quan phụ trách phan định các đơn vị bầu cử Có rất nhiều cách thức khác nhau dé phân chia các đơn vị bau cử. Nhiều nước trao quyền cho cơ quan lập pháp (67%) phân chia các đơn vị bầu cử.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Đổi mới chế độ bầu cử - Thực tiễn ở Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?
Phân tích lý luận và thực tiễn cải cách chế度选举制度的理论与实践研究,第二部分。
Luận án "Đổi mới chế độ bầu cử - Thực tiễn ở Việt Nam" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội.
Luận án "Đổi mới chế độ bầu cử - Thực tiễn ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Đổi mới chế độ bầu cử - Thực tiễn ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật. Danh mục: Chính Trị Học.
Luận án "Đổi mới chế độ bầu cử - Thực tiễn ở Việt Nam" có bao nhiêu trang?
Luận án "Đổi mới chế độ bầu cử - Thực tiễn ở Việt Nam" có 251 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Đổi mới chế độ bầu cử - Thực tiễn ở Việt Nam" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.