Nghiên cứu dịch tễ học gen K13 và kháng thuốc Plasmodium falciparum ở Việt Nam

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học phân tử gen k13 và P. falciparum với DHA-PP tại vùng sốt rét Việt Nam.

Chuyên ngành
Y học
Tác giả

Luan An

Thể loại

luận án

Số trang

171

Thời gian đọc

26 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Tình hình sốt rét Việt Nam: Thách thức kháng thuốc P. falciparum
Số trang:
171 trang
Chuyên ngành:
Y học
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. falciparum

Bệnh sốt rét là một bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng. Ký sinh trùng Plasmodium spp. gây bệnh, lây truyền qua muỗi Anopheles spp. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính 241 triệu ca mắc sốt rét năm 2020. Việt Nam ghi nhận 9331 bệnh nhân năm 2015. Các khu vực như ven biển Miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ chịu ảnh hưởng chính. Một thách thức lớn là ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) đã kháng hầu hết các loại thuốc. Ngoại trừ một số thuốc phối hợp có gốc artemisinin. Artemisinin và các dẫn chất là thành phần quan trọng trong liệu pháp phối hợp dựa trên artemisinin (ACT). ACT được dùng điều trị Plasmodium falciparum (P. falciparum) kháng thuốc. WHO khuyến cáo sử dụng ACT tại nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam. Tuy nhiên, P. falciparum giảm nhạy với ACT từ năm 2005. Đến cuối năm 2008, P. falciparum kháng artemisinin được báo cáo tại Campuchia. Tình trạng này đã lan rộng ra 5 nước thuộc Tiểu vùng sông Mê Kông, bao gồm Việt Nam. Đây là mối đe dọa nghiêm trọng đến công tác phòng chống và loại trừ sốt rét.

1.1. Sốt rét tại Việt Nam và thách thức toàn cầu

Sốt rét là bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng Plasmodium spp. gây ra. Bệnh lây truyền qua muỗi Anopheles spp. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) báo cáo khoảng 241 triệu ca mắc sốt rét toàn cầu năm 2020. Khoảng 627.000 người tử vong. Ở Việt Nam, năm 2015 có 9331 bệnh nhân sốt rét. Bệnh tập trung chủ yếu ở ven biển Miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Sốt rét vẫn là một thách thức lớn trong y tế công cộng.

1.2. Kháng artemisinin Mối đe dọa lớn

Ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum đã kháng nhiều thuốc. Artemisinin và dẫn chất là nền tảng của liệu pháp phối hợp dựa trên artemisinin (ACT). WHO khuyến cáo ACT cho điều trị P. falciparum kháng thuốc. Từ năm 2005, P. falciparum giảm nhạy với ACT. Kháng artemisinin xuất hiện tại Campuchia năm 2008. Tình trạng này đã lan rộng sang Lào, Thái Lan, Myanmar và Việt Nam. Đây là một mối đe dọa nghiêm trọng.

1.3. Hiệu quả DHA PPQ giảm dần

Dihydroartemisinin-piperaquine (DHA-PPQ) là lựa chọn điều trị P. falciparum ở Việt Nam. Giai đoạn 2005-2010, hiệu quả lâm sàng của DHA-PPQ rất cao (97.8-100%). Sau đó, thời gian chậm sạch ký sinh trùng máu kéo dài hơn. Tỷ lệ ký sinh trùng ngày D3 tăng nhanh chóng. Ví dụ, Bình Phước 36% (2014), Gia Lai 24.1% (2015), Khánh Hòa 17.4% (2014). Điều này báo hiệu thất bại điều trị sốt rét tiềm tàng. Cần đánh giá lại hiệu quả của DHA-PPQ.

II.Đột biến gen Kelch 13 PfK13 Chỉ điểm kháng Artemisinin

Gần đây, các đột biến trong gen Kelch 13 (PfK13) đã được xác định. Chúng là các chỉ điểm phân tử liên quan chặt chẽ với tình trạng kháng artemisinin của P. falciparum. Các nghiên cứu lâm sàng và phòng thí nghiệm đều xác nhận mối liên hệ này. Việc phát hiện và giám sát đột biến gen Kelch 13 (PfK13) rất quan trọng. Điều này giúp đánh giá chính xác tình hình kháng thuốc Plasmodium falciparum. Dữ liệu phân tích chỉ điểm phân tử đột biến gen K13 kết hợp với hiệu lực thuốc là cần thiết. Đặc biệt đối với dihydroartemisinin-piperaquine (DHA-PPQ) trên bệnh nhân. Giám sát PfK13 giúp dự báo và ứng phó với sốt rét kháng thuốc Tây Nguyên. Hiểu rõ các đột biến này đóng vai trò then chốt trong kiểm soát bệnh sốt rét.

2.1. PfK13 Gen liên quan kháng artemisinin

Đột biến gen Kelch 13 (PfK13) là chỉ điểm phân tử quan trọng. Các đột biến này liên quan chặt chẽ đến kháng artemisinin. Sự liên kết này đã được xác nhận qua nhiều nghiên cứu. Nghiên cứu thực hiện trên chủng KST tại phòng thí nghiệm và trên bệnh nhân. Phát hiện đột biến gen K13 giúp nhận diện sớm khả năng kháng thuốc. Đây là một bước tiến quan trọng trong giám sát tình hình kháng thuốc.

2.2. Các đột biến PfK13 phổ biến tại Việt Nam

Một số đột biến cụ thể trong gen Kelch 13 (PfK13) cần được theo dõi. Đột biến C580Y là một đột biến được quan tâm đặc biệt. Đột biến Y493H cũng được nghiên cứu rộng rãi. Các đột biến này gây ra hiện tượng chậm sạch ký sinh trùng máu. Giám sát các đột biến PfK13 cung cấp thông tin quý giá. Thông tin này giúp đánh giá mức độ sốt rét kháng thuốc Tây Nguyên và các vùng khác.

III.Đánh giá kháng thuốc Plasmodium falciparum tại Việt Nam

Nghiên cứu về gen K13 và đáp ứng của Plasmodium falciparum với dihydroartemisinin-piperaquine (DHA-PPQ) đã được thực hiện. Mục tiêu là đánh giá chính xác tình hình kháng artemisinin tại các vùng sốt rét lưu hành. Các hoạt động bao gồm mô tả đặc điểm dịch tễ học phân tử đột biến gen K13. Nghiên cứu được tiến hành tại 5 tỉnh: Bình Phước, Gia Lai, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Quảng Trị từ 2016-2018. Đồng thời, đánh giá đáp ứng của KSTSR với DHA-PPQ trên bệnh nhân. Thử nghiệm in vitro cũng được sử dụng. Kỹ thuật in vitro giúp đánh giá nhạy cảm của KSTSR Plasmodium falciparum với thuốc. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về kháng thuốc sốt rét tại Việt Nam. Kết quả có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh chính sách thuốc.

3.1. Mục tiêu nghiên cứu chính

Mục tiêu nghiên cứu bao gồm mô tả dịch tễ học phân tử đột biến gen K13. Nghiên cứu tập trung vào Plasmodium falciparum tại 5 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên (2016-2018). Đánh giá đáp ứng của KSTSR P. falciparum với thuốc dihydroartemisinin-piperaquine (DHA-PPQ). Đồng thời, đánh giá nhạy cảm của P. falciparum bằng kỹ thuật in vitro tại Gia Lai.

3.2. Phương pháp đánh giá in vivo và in vitro

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nhiều phương pháp. Thử nghiệm in vivo theo dõi hiệu quả điều trị DHA-PPQ trên bệnh nhân. Phân tích chỉ điểm phân tử đột biến gen Kelch 13 (PfK13) được thực hiện. Thử nghiệm in vitro đánh giá nhạy-kháng thuốc trên các mẫu phân lập Plasmodium falciparum. Sự kết hợp này giúp nhận định chính xác tình hình kháng thuốc. Đây là cơ sở quan trọng để thay đổi chính sách thuốc điều trị.

IV.Giải pháp giám sát và kiểm soát kháng thuốc sốt rét

Việc giám sát liên tục các đột biến gen Kelch 13 (PfK13) là cực kỳ quan trọng. Điều này giúp phát hiện sớm tình trạng kháng artemisinin của Plasmodium falciparum. Kết hợp dữ liệu phân tích gen K13 và theo dõi hiệu quả điều trị bằng dihydroartemisinin-piperaquine (DHA-PPQ) trên bệnh nhân. Điều này góp phần đánh giá chính xác hơn tình hình P. falciparum kháng thuốc tại các vùng lưu hành. Các thông tin này rất cần thiết cho việc điều chỉnh chiến lược phòng chống sốt rét quốc gia. Từ đó, ngăn chặn thất bại điều trị sốt rét. Đảm bảo hiệu quả của liệu pháp phối hợp dựa trên artemisinin (ACT). Hướng tới mục tiêu loại trừ sốt rét bền vững tại Việt Nam.

4.1. Vai trò giám sát đột biến gen K13

Giám sát đột biến gen Kelch 13 (PfK13) đóng vai trò trung tâm. Việc này giúp phát hiện sớm các dấu hiệu kháng artemisinin. Dữ liệu về đột biến gen K13 cần được kết hợp với hiệu quả điều trị DHA-PPQ. Điều này cung cấp bức tranh toàn diện về tình hình kháng thuốc Plasmodium falciparum. Thông tin này quan trọng cho các chương trình kiểm soát sốt rét.

4.2. Phát triển chính sách điều trị mới

Kết quả từ nghiên cứu gen K13 và đáp ứng thuốc là nền tảng. Nền tảng này giúp cập nhật phác đồ điều trị sốt rét hiệu quả. Các chính sách điều trị mới phải tính đến tình trạng kháng artemisinin. Mục tiêu là ngăn chặn thất bại điều trị sốt rét. Đảm bảo duy trì hiệu quả của liệu pháp phối hợp dựa trên artemisinin (ACT). Hướng tới loại trừ sốt rét bền vững tại Việt Nam.

Mục lục chi tiết luận án

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình bệnh sốt rét trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Sốt rét và một số yếu tố liên quan dịch tễ bệnh sốt rét
1.1.2. Tình hình mắc sốt rét trên thế giới và Việt Nam
1.1.3. Tình hình tử vong do sốt rét trên thế giới và Việt Nam
1.2. Các thuật ngữ và định nghĩa liên quan tới kháng thuốc
1.3. Đột biến gen K13
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử gen k13 và đáp ứng của plasmodium falciparum với dihydroartemisinin piperaquin phosphate ở một số vùng sốt rét lưu hành tại việt nam

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (171 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh sốt rét là một bệnh truyền nhiễm, do ký sinh trùng Plasmodium spp. của ngƣời gây nên. Bệnh lây theo đƣờng máu, do muỗi Anopheles spp. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2021), trên toàn thế giới năm 2020 ƣớc tính có khoảng 241 triệu ca mắc sốt rét, 627.000 ngƣời tử vong.

Số mắc sốt rét tăng khoảng 14 triệu ca bệnh và tăng khoảng 69.000 ngƣời tử vong so với năm 2020, trong đó có khoảng 47.000 ngƣời chết liên quan đến việc bị gián đoạn cung cấp các biện pháp phòng chống, chẩn đoán, điều trị bệnh trong bối cảnh đại dịch Covid. Khu vực châu Phi chiếm 90% số ca mắc và tử vong sốt rét trên thế giới [107], [108]. Ở Việt Nam theo số liệu chƣơng trình phòng chống sốt rét năm 2015 cả nƣớc có 9331 bệnh nhân sốt rét trong đó tập chung chủ yếu ở ven biển Miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ [28]. Một trong những khó khăn và là một trong những thách thức trong lộ trình loại trừ sốt rét là ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) đã kháng với hầu hết các thuốc đang dùng, ngoại trừ một số thuốc phối hợp có gốc artemisinin và dẫn chất [103].

Artemisinin và dẫn chất là thành phần quan trọng trong thuốc phối hợp (ACTs) để điều trị sốt rét Plasmodium falciparum (P. falciparum) kháng thuốc [28]. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo sử dụng các loại thuốc ACTs tại nhiều nƣớc, kể cả Việt Nam [103]. Tuy nhiên, đến năm 2005, WHO đã ghi nhận P.

falciparum giảm nhạy với ACTs và đến cuối năm 2008 thì báo cáo P. falciparum biểu hiện kháng artemisinin tại tỉnh Pailin, Campuchia - nơi giáp biên giới với Thái Lan, từ đó lan rộng kháng ra 5 nƣớc thuộc Tiểu vùng sông Mê Kông (Lào, Thái Lan, Myanmar, Việt Nam) [103]. Ở Việt Nam thuốc phối hợp dihydroartemisinin- piperaquin (DHA-PPQ) đƣợc lựa trọn đƣa vào điều trị sốt rét do P. falciparum, giai đoạn từ 2005-2010 tỷ lệ đáp ứng lâm sàng đầy đủ (ACPR) từ 97,8% đến 100%, nhƣng sau đó thời gian cắt ký sinh trùng ngày càng kéo dài, ký sinh trùng ngày D3 đã tăng lên nhanh chóng, năm 2012 là 30,6%, 2 năm 2014 là 36% (Bình Phƣớc) [16], Gia Lai 24,1% (2015) [12], Khánh Hòa 17,4% D3 (2014) [17].

Gần đây, một số đột biến trong gen K13 đã đƣợc xác định nhƣ các chỉ điểm phân tử liên quan chặt chẽ kháng thuốc artemisinin của P. falciparum trong các nghiên cứu lâm sàng cũng nhƣ tại các chủng tại phòng thí nghiệm [40]. Việc kết hợp dữ liệu phân tích chỉ điểm phân tử đột biến gen K13 và hiệu lực thuốc dihydroartemisinin-piperaquin phosphate trên các bệnh nhân là cần thiết, góp phần đánh giá chính xác tình hình P. falciparum kháng thuốc tại các vùng sốt rét lƣu hành.

Ngoài thử nghiệm in vivo và tìm chỉ điểm phân tử, thử nghiệm in vitro đóng vai trò quan trọng giám sát nhạy-kháng trên các mẫu phân lập P. falciparum thu thập tại thực địa, giúp nhận định tình hình kháng chính xác và quan trọng trong thay đổi chính sách thuốc [40]. Với ý tƣởng kết hợp giữa phân tích các đột biến gen K13 và theo dõi hiệu quả điều trị của thuốc sốt rét dihydro artemisinin - piperaquin trên bệnh nhân là cần thiết, góp phần đánh giá chính xác hơn tình hình P. falciparum kháng artemisinin thuốc tại các vùng sốt rét lƣu hành.

Để đánh giá tình hình nhạy- kháng thuốc trên in vivo, in vitro và các chỉ điểm phân tử K13 liên quan kháng trên quần thể P. falciparum, đề tài luận án “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử gen K13 và đáp ứng của Plasmodium falciparum với dihydroartemisinin-piperaquin phosphat ở một số vùng sốt rét lƣu hành tại Việt Nam” đƣợc thực hiện nhằm các mục tiêu sau: Mục tiêu nghiên cứu: 1. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học phân tử đột biến gen K13 của Plasmodium falciparum tại 5 tỉnh Bình Phƣớc, Gia Lai, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Quảng Trị năm 2016 – 2018. Đánh giá đáp ứng của ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum với thuốc dihydroartemisinin - piperaquin phosphat tại các điểm nghiên cứu.

Đánh giá nhạy cảm của ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum với thuốc sốt rét bằng kỹ thuật in vitro tại Gia Lai. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình bệnh sốt rét trên thế giới và Việt Nam 1. Sốt rét và một số yếu tố liên quan dịch tễ bệnh sốt rét Sốt rét là một bệnh truyền nhiễm lan truyền qua đƣờng máu gây nên bởi ký sinh trùng Plasmodium spp.

thông qua muỗi Anopheles cái đốt qua da và truyền các thoa trùng ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) vào máu. Bệnh sốt rét tồn tại trong cộng đồng cần có 3 yếu tố: Tác nhân gây bệnh KSTSR, muỗi Anopheles spp. truyền và quần thể ngƣời trong cộng đồng. Ngoài ra, còn một số yếu tố khác ảnh hƣởng đến sự tồn tại và phát triển của bệnh nhƣ môi trƣờng, kinh tế, xã hội.

Trong đó, nguồn bệnh là bệnh nhân sốt rét (BNSR), ngƣời mang KSTSR lạnh hay không triệu chứng. Sốt rét lan truyền từ ngƣời này qua ngƣời khác nhờ trung gian truyền bệnh, đó là muỗi Anopheles spp., có nhiều loại muỗi Anopheles spp. nhƣng hiện nay có ít nhất 62 loài có khả năng truyền bệnh sốt rét ở các vùng trên thế giới [4]. Theo tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) hiện nay có ít nhất 5 loài Plasmodium spp.

gây bệnh cho ngƣời đƣợc ghi nhận, trong đó nghiêm trọng nhất là P. falciparum, số còn lại P. knowlesi có thể gây thể bệnh nhẹ hơn và thƣờng ít dẫn đến tử vong (WHO, 2009) [101]. Việt Nam, có 2 loài chủ yếu P.

falciparum chiếm 60-70% trong cơ cấu, thƣờng gây sốt rét nặng, đa biến chứng và tử vong. vivax chiếm 30-40%, gây sốt rét cách nhật, tái phát xa, loài P. ovale có tỷ lệ thấp, riêng P. knowlesi mới phát hiện vào năm 2008 [4].

Tại Việt Nam có 3 vector chính gồm An. epiroticus và một số vector phụ nhƣ An. Muỗi đốt ngƣời có KST thể giao bào, tiếp đó giao bào phát triển thành thoa trùng trong cơ thể muỗi, khi đó muỗi đốt ngƣời và thoa trùng sẽ từ tuyến nƣớc bọt của 4 muỗi qua ngƣời [4]. Cơ thể cảm thụ gồm ngƣời lành, chƣa có miễn dịch sốt rét hoặc đã có miễn dịch nhƣng đã giảm thấp.

Tình hình mắc sốt rét trên thế giới và Việt Nam Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, ƣớc tính năm 2019 có khoảng 229 triệu trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét ở 87 quốc gia có sốt rét lƣu hành, giảm 3,78% so với năm 2000 (229/238 triệu). Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét trên 1.000 dân số nguy cơ giảm từ 80 (năm 2000) xuống 58 (năm 2015) và 57 (năm 2019). Từ năm 2000 đến năm 2015, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét toàn cầu đã giảm 27,00% và từ năm 2015 đến năm 2019 số mắc giảm dƣới 2,00%, cho thấy tốc độ giảm đã chậm hơn sau năm 2015. Toàn cầu có 29 quốc gia có số mắc cao nhất chiếm 95,00%, trong đó có 5 quốc gia chiếm cao nhất nhƣ Nigeria (27,00%), Cộng hòa Congo (12,00%), Uganda (5,00%), Mozambique (4,00%) và Niger (3,00%) chiếm khoảng 51,00% tất cả các trƣờng hợp trên toàn cầu [107], [108].

Tại Khu vực Châu Phi ƣớc tính có khoảng 215 triệu trƣờng hợp bệnh sốt rét năm 2019 chiếm khoảng 94,00%; Mặc dù năm 2019 có số mắc thấp hơn so với năm 2000 (204 triệu) và tỷ lệ mắc bệnh sốt rét giảm từ 363 (năm 2000) xuống 225 trƣờng hợp (năm 2019) trên 1000 dân số nguy cơ; Tuy nhiên sự phức tạp về thay đổi lây truyền bệnh một cách nhanh chóng đó chính là sự gia tăng dân số. Dân số sống ở Khu vực Châu Phi tăng từ khoảng 665 triệu năm 2000 lên 1,1 tỷ ngƣời trong năm 2019 [107], [108]. Ở Khu vực Đông Nam Á có số mắc sốt rét chiếm khoảng 3,00% gánh nặng trên toàn cầu. Số trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét giảm 73,00%, từ 23 triệu năm 2000 xuống còn khoảng 6,3 triệu năm 2019.

Tỷ lệ mắc bệnh ở khu vực này giảm 78,00%, từ khoảng 18 trƣờng hợp trên 1000 dân số chung năm 2000 còn 4 trƣờng hợp trong năm 2019 [107]. Ấn Độ đóng góp mức giảm tuyệt đối lớn từ 20 triệu trƣờng hợp năm 2000 xuống còn 5,6 triệu trƣờng hợp năm 2019. Sri Lanka đƣợc chứng nhận không có bệnh sốt rét trong năm 2015 và Timor-Leste báo cáo không có sốt rét trong năm 2018 và 2019 [107], [108]. 5 Các trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét ở Khu vực Đông Địa Trung Hải giảm 26,00%, từ khoảng 7 triệu ngƣời năm 2000 xuống còn 5 triệu trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét năm 2019.

Khoảng một phần tƣ số trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét năm 2019 là P.vivax, chủ yếu ở Afghanistan và Pakistan. Trong giai đoạn 2000 - 2019, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét ở Khu vực Đông Địa Trung Hải giảm từ 20 xuống 10 trên 1.000 dân số nguy cơ. Sudan là nƣớc đóng góp hàng đầu cho bệnh sốt rét ở khu vực này, chiếm khoảng 46,00% trƣờng hợp. Quốc gia Iran không có sốt rét nội địa trong năm 2018 và 2019.

Khu vực Tây Thái Bình Dƣơng ƣớc tính có khoảng 1,7 triệu trƣờng hợp vào năm 2019, giảm 43,00% (1,7/3 triệu trƣờng hợp) so với năm 2000. Trong cùng kỳ, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét giảm từ 5 xuống còn 2 trƣờng hợp trên 1000 dân số chung. Quốc gia Papua New Guinea chiếm gần 80% tổng số các trƣờng hợp bệnh ở khu vực này vào năm 2019. Trung Quốc không có trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét nội địa từ năm 2017.

Malaysia đã không có trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét trong năm 2018 và 2019 [108]. Tại Khu vực Châu Mỹ, số trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét giảm 40,00% (từ 1,5 triệu xuống 0,9 triệu) và tỷ lệ mắc bệnh giảm 57,00% (từ 14 xuống 6). Tiến bộ của khu vực trong những năm gần đây đã bị sự gia tăng số mắc sốt rét ở Venezuela, nơi có khoảng 35.500 trƣờng hợp (năm 2000) tăng lên hơn 467. Brazil, Colombia và Venezuela chiếm hơn 86,00% tổng số mắc sốt rét ở khu vực này [107].

Việt Nam năm 2016 cả nƣớc có 4.161 bệnh nhân sốt rét , năm 2017 có 4.548 bệnh nhân, năm 2018 có 4813 bênh nhân và năm 2019 có 4.665 bệnh nhân đến năm 2020 số bệnh nhân mắc sốt rét giảm mạnh chỉ còn 1. Tỷ lệ cơ cấu ký sinh trùng P. falciparum tại tỉnh Bình Phƣớc năm 2016 có 715 trƣờng hợp chiếm 64,41%, tỉnh Khánh Hòa năm 2016 có 294 trƣờng hợp bệnh nhân P. tỉnh Gia Lai năm 2016 có 269 trƣờng hợp P.

falciparum chiếm 67,27%, tỉnh Ninh Thuận có 252 bệnh nhân P. falciparum chiếm 79,52%, tỉnh Quảng Trị có 46 bệnh nhân P. 6 Quảng trị Gia Lai Khánh Hòa Bình phƣớc Ninh Thuận Hình 1. Phân bố ký sinh trùng sốt rét năm 2016 tại Việt Nam 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Gen K13 và kháng thuốc Plasmodium falciparum ở Việt Nam (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-te-cong-cong/gen-k13-khang-thuoc-plasmodium-falciparum-viet-nam

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Gen K13 và kháng thuốc Plasmodium falciparum ở Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học phân tử gen k13 và P. falciparum với DHA-PP tại vùng sốt rét Việt Nam.

Luận án "Gen K13 và kháng thuốc Plasmodium falciparum ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Gen K13 và kháng thuốc Plasmodium falciparum ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành Y học. Danh mục: Y Tế Công Cộng.

Luận án "Gen K13 và kháng thuốc Plasmodium falciparum ở Việt Nam" có bao nhiêu trang?

Luận án "Gen K13 và kháng thuốc Plasmodium falciparum ở Việt Nam" có 171 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Gen K13 và kháng thuốc Plasmodium falciparum ở Việt Nam" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter