Luận án Tiến sĩ: Thực hiện pháp luật bồi thường Nhà nước do công chức ở Việt Nam

Tài liệu: Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở việt nam luận án tiến sĩ. Tải miễn phí tạ

Chuyên ngành

Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

Tác giả

Luan An

Thể loại

luận án

Năm xuất bản

Số trang

193

Thời gian đọc

29 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I.Khái niệm nguyên tắc Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Pháp luật bồi thường Nhà nước là một công cụ pháp lý quan trọng. Công cụ này bảo vệ quyền lợi của tổ chức, cá nhân khi bị công chức gây thiệt hại. Luật quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các trường hợp cụ thể. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không chỉ là vấn đề dân sự. Nó còn mang ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc. Nó thể hiện tính dân chủ và công bằng của một Nhà nước pháp quyền. Việc thực hiện hiệu quả luật này củng cố lòng tin của người dân vào bộ máy công quyền. Đây là nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội.

1.1. Định nghĩa về trách nhiệm bồi thường Nhà nước

Trách nhiệm bồi thường Nhà nước là nghĩa vụ của Nhà nước. Nghĩa vụ này phát sinh khi công chức gây thiệt hại. Thiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật của công chức. Hành vi này trong khi thi hành công vụ. Khoản bồi thường lấy từ ngân sách nhà nước. Mục đích là khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Đây là cơ sở để khắc phục hậu quả.

1.2. Các nguyên tắc cơ bản trong bồi thường Nhà nước

Bồi thường Nhà nước tuân thủ nhiều nguyên tắc. Nguyên tắc công bằng, kịp thời là cốt lõi. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường vật chất, tinh thần. Danh dự cũng được phục hồi theo quy định. Nhà nước chịu trách nhiệm khách quan. Trách nhiệm này không phụ thuộc vào lỗi của công chức. Đây là nguyên tắc quan trọng để đảm bảo tính khả thi.

1.3. Vai trò của pháp luật bồi thường do công chức gây thiệt hại

Pháp luật bồi thường Nhà nước có vai trò lớn. Nó bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Nó tăng cường trách nhiệm của công chức. Pháp luật thúc đẩy sự minh bạch, liêm chính trong bộ máy nhà nước. Nó góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây là một yếu tố then chốt để củng cố niềm tin.

II.Phạm vi và đối tượng được bồi thường khi công chức gây thiệt hại

Phạm vi bồi thường Nhà nước được quy định rõ ràng. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước xác định cụ thể các trường hợp. Các trường hợp này bao gồm hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và thi hành án. Việc xác định đúng phạm vi giúp đảm bảo quyền lợi cho người dân. Đồng thời, nó giúp kiểm soát ngân sách nhà nước. Thiệt hại do công chức gây ra phải thuộc các hành vi công vụ. Các quy định này nhằm đảm bảo sự công bằng, minh bạch.

2.1. Các trường hợp Nhà nước bồi thường

Nhà nước bồi thường trong nhiều trường hợp. Đó là khi công chức gây thiệt hại trong hoạt động quản lý hành chính. Ví dụ, cấp phép sai, thu hồi đất trái pháp luật. Hoạt động tố tụng hình sự, dân sự, hành chính cũng được bao gồm. Ví dụ, bắt giữ trái pháp luật, khởi tố oan. Thi hành án trái pháp luật cũng là một trường hợp. Việc xác định rõ giúp người dân dễ dàng tiếp cận.

2.2. Xác định đối tượng được bồi thường

Đối tượng được bồi thường là tổ chức, cá nhân. Họ bị thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần. Thiệt hại này do hành vi trái pháp luật của công chức. Công chức thực hiện hành vi trong khi thi hành công vụ. Người thừa kế hợp pháp cũng có thể là đối tượng bồi thường. Đại diện hợp pháp của người bị thiệt hại cũng vậy. Điều này đảm bảo quyền lợi được chuyển giao.

2.3. Loại thiệt hại được bồi thường

Phạm vi bồi thường Nhà nước bao gồm nhiều loại thiệt hại. Thiệt hại về vật chất là phổ biến. Ví dụ, chi phí thu nhập bị mất, tài sản bị hủy hoại. Thiệt hại về tinh thần cũng được xem xét. Ví dụ, tổn thất do bị giam giữ, uy tín bị ảnh hưởng. Việc xác định mức bồi thường phải căn cứ quy định pháp luật. Quy định chi tiết giúp đảm bảo tính khách quan.

III.Thủ tục yêu cầu bồi thường và Hoàn trả của công chức

Thủ tục yêu cầu bồi thường được quy định cụ thể. Quy định này nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng. Người bị thiệt hại cần tuân thủ các bước. Điều này giúp quá trình giải quyết diễn ra nhanh chóng, hiệu quả. Luật cũng quy định về trách nhiệm hoàn trả. Trách nhiệm này thuộc về công chức gây thiệt hại. Quy định này khuyến khích công chức thực hiện công vụ đúng pháp luật. Nó tạo ra một cơ chế giám sát hữu hiệu.

3.1. Quy trình nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường

Người bị thiệt hại cần chuẩn bị hồ sơ. Hồ sơ bao gồm đơn yêu cầu bồi thường. Các tài liệu chứng minh thiệt hại cũng cần có. Hồ sơ nộp tại cơ quan Nhà nước có trách nhiệm bồi thường. Thời hạn yêu cầu bồi thường được quy định rõ. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải kiểm tra. Sau đó, họ hướng dẫn hoàn thiện. Đây là bước đầu tiên để khởi kiện.

3.2. Cơ quan giải quyết bồi thường

Cơ quan giải quyết bồi thường là cơ quan trực tiếp. Cơ quan này gây ra thiệt hại hoặc cơ quan cấp trên. Có thể là Tòa án hoặc các cơ quan hành chính. Việc xác định đúng cơ quan giúp đẩy nhanh tiến độ. Cơ quan này có trách nhiệm thụ lý, xem xét. Sau đó, họ ra quyết định bồi thường. Sự phối hợp giữa các cơ quan là rất quan trọng.

3.3. Trách nhiệm hoàn trả từ công chức gây thiệt hại

Sau khi Nhà nước bồi thường. Công chức gây thiệt hại có trách nhiệm hoàn trả một phần. Khoản hoàn trả này được nộp vào ngân sách nhà nước. Mức hoàn trả phụ thuộc vào mức độ lỗi. Nó cũng phụ thuộc vào chức vụ và khả năng hoàn trả. Hoàn trả nhằm tăng cường kỷ luật công vụ. Đây là một biện pháp răn đe hiệu quả.

IV.Thực trạng và giải pháp hoàn thiện bồi thường Nhà nước

Thực trạng thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường Nhà nước ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ. Hệ thống văn bản pháp luật được ban hành. Các vụ việc bồi thường đã được giải quyết. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế. Việc nhận thức về Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa đồng đều. Các thủ tục đôi khi còn phức tạp. Đây là những thách thức cần khắc phục. Việc đánh giá đúng thực trạng là tiền đề cho các giải pháp hiệu quả.

4.1. Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật

Việc thi hành pháp luật bồi thường Nhà nước đã đạt được kết quả nhất định. Nhiều trường hợp công chức gây thiệt hại đã được xử lý. Quyền lợi của người dân được đảm bảo. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được tăng cường. Tuy nhiên, số lượng vụ việc được bồi thường còn thấp. Thời gian giải quyết đôi khi kéo dài. Điều này ảnh hưởng đến lòng tin của người dân.

4.2. Các hạn chế và nguyên nhân tồn tại

Hạn chế bao gồm thủ tục phức tạp. Công tác phối hợp giữa các cơ quan chưa chặt chẽ. Năng lực của một số cán bộ còn hạn chế. Nhận thức của người dân về quyền được bồi thường chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu là do quy định pháp luật chưa thực sự đồng bộ. Nguồn kinh phí ngân sách nhà nước còn hạn hẹp. Chế tài xử lý công chức chưa đủ mạnh. Đây là những điểm cần cải thiện.

4.3. Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả

Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật. Pháp luật cần rõ ràng, dễ áp dụng hơn. Tăng cường năng lực cho công chức thi hành. Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật đến người dân. Nâng cao nhận thức về Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Cơ chế giám sát cần được cải thiện. Đảm bảo nguồn ngân sách nhà nước cho bồi thường. Xử lý nghiêm công chức gây thiệt hại. Những giải pháp này nhằm mục tiêu cải thiện hệ thống.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở việt nam luận án tiến sĩ

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (193 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN ĐỖ KIÊN THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ TR¸CH NHIÖM BåI TH¦êNG CñA NHµ N¦íC DO C¤NG CHøC C¥ QUAN HµNH CHÝNH NHµ N¦íC G¢Y RA ë VIÖT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2014 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN ĐỖ KIÊN THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ TR¸CH NHIÖM BåI TH¦êNG CñA NHµ N¦íC DO C¤NG CHøC C¥ QUAN HµNH CHÝNH NHµ N¦íC G¢Y RA ë VIÖT NAM Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật Mã số : 62 38 01 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: 1. TS ĐINH TRUNG TỤNG 2. TS HOÀNG NGỌC THỈNH HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận án Nguyễn Đỗ Kiên MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8 1.

Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài luận án trong nước và trên thế giới 8 1. Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan tới thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra và những vấn đề cần tiếp tục tập trung nghiên cứu trong luận án 23 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG CỦA NHÀ NƢỚC DO CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC GÂY RA Ở VIỆT NAM 31 2. Khái niệm, hình thức, vai trò thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra 31 2. Nội dung, yêu cầu và các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra 59 2.

Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở một số nước trên thế giới và những giá trị Việt Nam có thể tham khảo 76 Chƣơng 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG CỦA NHÀ NƢỚC DO CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC GÂY RA Ở VIỆT NAM 89 3. Khái quát tình hình và hệ thống tổ chức thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam 89 3. Những kết quả đạt được đối với thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở Việt Nam và nguyên nhân 98 3. Những hạn chế đối với thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở Việt Nam và nguyên nhân 109 Chƣơng 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG CỦA NHÀ NƢỚC DO CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC GÂY RA Ở VIỆT NAM 124 4.

Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở Việt Nam 124 4. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở Việt Nam 132 KẾT LUẬN 153 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 156 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 157 PHỤ LỤC 173 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN BLDS : Bộ luật Dân sự BTTH : Bồi thường thiệt hại CQHCNN : Cơ quan hành chính Nhà nước HĐND : Hội đồng nhân dân KS : Kiểm sát TA : Tòa án TAND : Tòa án nhân dân TNBT : Trách nhiệm bồi thường TNBTCNN : Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước TNDS : Trách nhiệm dân sự TNPL : Trách nhiệm pháp lý UBND : Ủy ban nhân dân UBTVQH : Ủy ban Thường vụ Quốc hội VKSND : Viện kiểm sát nhân dân WTO : Tổ chức Thương mại thế giới XHCN : Xã hội chủ nghĩa 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ khi đất nước ta giành được độc lập đến nay, Nhà nước luôn coi việc xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy và hoàn thiện hệ thống pháp luật là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân hiện nay, việc bảo đảm lợi ích của Nhà nước và các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức cần được tôn trọng và thực hiện công bằng giữa các chủ thể trong xã hội.

Mối quan hệ giữa Nhà nước với cá nhân và tổ chức trong xã hội là mối quan hệ đặc biệt, trong đó, vấn đề công bằng giữa một bên chủ thể là Nhà nước và một bên chủ thể là cá nhân, tổ chức được xác định thông qua các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với nhau và được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” [93, tr.3] và “Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật” [93, tr. Với nguyên tắc hiến định trên, Nhà nước Việt Nam đã không ngừng nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là trách nhiệm bắt buộc khi cơ quan Nhà nước xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đây không chỉ là vấn đề dân sự mà còn là vấn đề chính trị - pháp lý - xã hội, phản ánh trình độ phát triển và dân chủ của chế độ nhà nước, phản ánh một Nhà nước do dân làm chủ. Nhà nước với tư cách là một chủ thể công quyền trong chế độ chính trị - xã hội, được hình thành từ nhân dân và được nhân dân uỷ thác cho trách nhiệm điều hành, quản lý xã hội, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong quốc gia mình.

Với tinh thần đó, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một trong những yếu tố góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm, nâng cao hiệu quả hoạt động công vụ, mở rộng dân chủ xã hội, tạo lập sự công bằng trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân. Những năm qua, mặc dù trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được ghi nhận từ rất sớm trong Hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Những 2 nguyên tắc hiến định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định trong các bản Hiến pháp nêu trên được thể chế hóa thành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 (sửa đổi, bổ sung năm 2003), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Dân sự năm 1995 (sửa đổi, bổ sung năm 2005), Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức, người có thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc bồi thường cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra… Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa được đánh giá đúng mức, quan niệm về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tương đối mờ nhạt và đến ngày 18 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XII mới thông qua một đạo luật riêng biệt - Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Do hoạt động quản lý hành chính, đặc biệt là hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước từ trung ương đến địa phương là hoạt động mang tính quyền lực tác động tới các quan hệ xã hội trên các lĩnh vực trong đời sống xã hội, liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp chân chính của cá nhân, tổ chức.

Một mặt nó thừa nhận, bảo vệ, bảo đảm sự phát triển kinh tế xã hội vì dân giàu, nước mạnh, mặt khác do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan từ phía Nhà nước xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước liên quan đến nhiều người, nhiều lĩnh vực, nhiều mối quan hệ đan xen, có sự tham gia của nhiều chủ thể trong xã hội, chịu sự điều chỉnh của nhiều loại quy phạm của cả luật nội dung lẫn hình thức và phải tuân theo những trình tự, thủ tục khác nhau. Việc giải quyết bồi thường thiệt hại giữa cơ quan hành chính Nhà nước và người bị gây thiệt hại được đặt trong mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước và công dân khi thực thi quyền hành pháp. Vì vậy, trách nhiệm bồi thường trong lĩnh vực quản lý hành chính, hay nói cách khác trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính Nhà nước gây ra cần được xác định trong các đạo luật.

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, lĩnh vực thi hành án, hoạt động tố tụng. Đây là bước phát triển đáng kể trong hoạt động lập pháp, đáp ứng 3 đòi hỏi khách quan trong một xã hội dân chủ, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, vì vậy, vấn đề thực hiện Luật này nói chung và thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do công chức cơ quan hành chính Nhà nước gây ra nói riêng là vấn đề có tính cấp thiết. Bồi thường nhà nước là vấn đề hết sức phức tạp, nó thể hiện quan hệ đặc biệt giữa một bên chủ thể là Nhà nước - với tư cách là chủ thể thực thi và duy trì quyền lực công theo pháp luật - với một bên là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do chính hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra.

Bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật trong mối quan hệ này là không hề đơn giản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Pháp luật bồi thường Nhà nước do công chức gây ra tại Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?

Tài liệu: Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở việt nam luận án tiến sĩ. Tải miễn phí tạ

Luận án "Pháp luật bồi thường Nhà nước do công chức gây ra tại Việt Nam" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Năm bảo vệ: 2014.

Luận án "Pháp luật bồi thường Nhà nước do công chức gây ra tại Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Pháp luật bồi thường Nhà nước do công chức gây ra tại Việt Nam" thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật. Danh mục: Nhi Khoa.

Luận án "Pháp luật bồi thường Nhà nước do công chức gây ra tại Việt Nam" có bao nhiêu trang?

Luận án "Pháp luật bồi thường Nhà nước do công chức gây ra tại Việt Nam" có 193 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Pháp luật bồi thường Nhà nước do công chức gây ra tại Việt Nam" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter