Luận án tiến sĩ thơ bang giao việt nam thế kỷ x xiv
Khám phá luận án tiến sĩ về thơ bang giao Việt Nam thế kỷ X-XIV, phân tích giá trị lịch sử và văn hóa.
Luan An
Luận án tiến sĩ
Số trang
298
Thời gian đọc
45 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan về thơ bang giao Việt Nam thế kỷ X XIV
- Số trang:
- 298 trang
- Trường:
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Văn học Việt Nam
- Tác giả:
- Trần Thị The
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan về thơ bang giao Việt Nam thế kỷ X XIV
Thơ bang giao là di sản quý báu của văn học trung đại. Dòng thơ này gắn liền với các hoạt động ngoại giao giữa Đại Việt và các triều đại phương Bắc. Các tác phẩm ghi lại quá trình tiếp xúc chính trị và văn hóa. Văn học ngoại giao thế kỷ X XIV phản ánh vị thế của quốc gia độc lập. Nghiên cứu thơ đi sứ chữ Hán trung đại giúp làm sáng tỏ tư tưởng và văn hóa dân tộc. Thơ bang giao thời kỳ này vừa mang tính chất chính sự, vừa mang vẻ đẹp thẩm mỹ nghệ thuật. Đề tài mở ra góc nhìn đa chiều về diện mạo thơ ca cổ điển Việt Nam.
1.1. Khái niệm và phạm trù thơ bang giao trung đại
Khái niệm thơ bang giao chỉ những tác phẩm thơ ca sáng tác trong hoạt động ngoại giao. Thơ ca dùng để trao đổi, thù tiếp và ứng đối giữa các sứ thần. Thơ đi sứ chữ Hán trung đại đóng vai trò công cụ chính trị trọng yếu. Thơ biểu đạt lập trường độc lập và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Các tác giả thường là sứ thần, vua chúa hoặc các đại thần danh tiếng. Tác phẩm xuất hiện trong các nghi thức đón tiếp và đối đáp trực tiếp. Thể loại này kết hợp hài hòa tính chất nghi lễ và cảm xúc cá nhân. Di sản thơ ngoại giao tạo nên giá trị văn hóa độc đáo.
1.2. Lịch sử nghiên cứu văn bản thơ bang giao TK X XIV
Nghiên cứu văn học ngoại giao thế kỷ X XIV trải qua nhiều giai đoạn sưu tầm và khảo cứu. Thư tịch cổ và các bộ tuyển tập Hán Nôm lưu giữ số lượng lớn bài thơ giá trị. Giới học thuật tập trung phân tích hoàn cảnh sáng tác và văn bản học. Nhiều công trình chú trọng giải mã thi pháp và diễn ngôn bang giao. Tiếp cận liên ngành giữa lịch sử, văn hóa học và văn học mang lại kết quả sâu rộng. Các công trình khẳng định vai trò trụ cột của thơ văn bang giao trong tiến trình văn học dân tộc.
II. Tiền đề lịch sử thơ bang giao Việt Nam thế kỷ X XIV
Bối cảnh lịch sử thế kỷ X đến thế kỷ XIV chứng kiến sự phục hưng dân tộc mạnh mẽ. Đại Việt bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ lâu dài. Quan hệ bang giao Đại Việt Tống thiết lập nền móng bang giao ban đầu. Tiếp đó, quan hệ bang giao Đại Việt Nguyên khẳng định sức mạnh tự cường qua ba lần kháng chiến. Thơ bang giao thời Lý Trần trở thành vũ khí ngoại giao sắc bén. Các sứ thần Đại Việt thời trung đại luôn giữ vững vị thế quốc gia. Hoạt động thơ ca gắn chặt với các biến cố chính trị trọng đại.
2.1. Bối cảnh bang giao Đại Việt với nhà Tống và Nguyên
Quan hệ bang giao Đại Việt Tống hình thành qua cơ chế sách phong và triều cống. Nhà Tiền Lê và nhà Lý kiên quyết bảo vệ biên cương vững chắc. Sang thời Trần, quan hệ bang giao Đại Việt Nguyên diễn biến phức tạp và căng thẳng. Ngoại giao phục vụ mục tiêu hòa bình sau những cuộc đụng độ quân sự khốc liệt. Triều đình Đại Việt mềm mỏng nhưng kiên định giữ vững toàn vẹn lãnh thổ. Thơ ca phản ánh chân thực các cuộc đàm phán cam go trên bàn cờ chính trị. Những cuộc đối đầu ngoại giao thể hiện rõ sức mạnh nội lực của Đại Việt.
2.2. Vai trò của sứ thần Đại Việt thời trung đại
Sứ thần Đại Việt thời trung đại gánh vác sứ mệnh quốc gia hệ trọng. Họ là những trí thức uyên bác, giỏi chữ Hán và am hiểu kinh điển. Khả năng ứng đối ngoại giao Đại Việt được rèn giũa qua thử thách thực tế. Sứ giả thể hiện phong thái đĩnh đạc và phong độ tự tin nơi đất khách. Họ dùng thơ ca để khẳng định tầm vóc trí tuệ của nền văn hiến phương Nam. Hoạt động đi sứ không chỉ là nhiệm vụ ngoại giao thuần túy. Đó còn là hành trình giao lưu văn hóa và quảng bá danh tiếng dân tộc.
III. Ý thức dân tộc trong thơ bang giao Việt Nam thế kỷ X XIV
Ý thức dân tộc là trục cảm hứng xuyên suốt các tác phẩm bang giao thời Lý Trần. Tinh thần tự tôn dân tộc thơ bang giao thể hiện khí phách kiên cường của Đại Việt. Hào khí Đông A trong văn học thời Trần tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn. Tác giả tự hào về lịch sử, non sông gấm vóc và con người quê hương. Thơ ca khẳng định tư thế hiên ngang trước các đế chế phương Bắc hùng mạnh. Từng câu chữ thấm đượm lòng yêu nước và trách nhiệm đối với sự tồn vong của xã hội.
3.1. Tinh thần tự tôn dân tộc và bản lĩnh kẻ sĩ
Tinh thần tự tôn dân tộc thơ bang giao bộc lộ qua tư thế ung dung của sứ giả. Kẻ sĩ Đại Việt không chịu khuất phục trước uy quyền phong kiến phương Bắc. Họ tự hào về nền văn hiến độc lập ngang hàng với Trung Hoa. Trí tuệ và bản lĩnh được biểu hiện sinh động qua từng bài thơ ứng tác. Lòng tự hào về nòi giống Tiên Rồng trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc. Thơ đi sứ khẳng định quyền tự chủ bất khả xâm phạm của Đại Việt. Tiếng nói tự tôn nâng cao uy tín quốc gia trên trường quốc tế.
3.2. Hào khí Đông A và niềm tự hào non sông đất nước
Hào khí Đông A trong văn học phản ánh chiến công hiển hách chống ngoại xâm. Cảm hứng thơ ca ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ của núi sông Đại Việt. Tình yêu quê hương hòa quyện sâu sắc với ý thức trách nhiệm công dân. Nhà thơ miêu tả hình ảnh con người cần cù, dũng cảm và kiên định. Niềm tự hào về cảnh sắc thiên nhiên mang đậm ý thức chủ quyền cương vực. Từng danh lam thắng cảnh gắn liền với lịch sử giữ nước oanh liệt. Âm hưởng thơ phóng khoáng, hào sảng và tràn đầy niềm lạc quan tin tưởng.
IV. Tinh thần hòa hảo ở thơ bang giao Việt Nam thế kỷ X XIV
Bên cạnh ý thức độc lập, tinh thần hòa hiếu là nội dung cốt lõi của thơ ngoại giao. Đại Việt luôn chủ động vun đắp tình bang giao hòa bình, hữu nghị. Nghệ thuật xướng họa bang giao trở thành cầu nối gắn kết tình cảm giữa hai bên. Các sứ thần thể hiện thái độ nhã nhặn, tôn trọng đối phương nhưng không tự ti. Khát vọng hòa bình được gửi gắm chân thành qua từng thi phẩm chữ Hán. Mối quan hệ giao hảo góp phần giữ vững ổn định khu vực trong nhiều thế kỷ.
4.1. Nghệ thuật xướng họa và giao tình giữa các sứ thần
Nghệ thuật xướng họa bang giao là nét đẹp văn hóa đặc sắc thời trung đại. Sứ thần hai nước đối đáp thi ca trong những buổi yến tiệc và tiếp xúc. Các bài thơ họa vần thể hiện sự am hiểu nghệ thuật ngôn từ điêu luyện. Tình cảm bạn bè văn chương vượt qua ranh giới chính trị căng thẳng. Những vần thơ lưu luyến lúc chia tay bộc lộ sự đồng điệu về tâm hồn. Thơ ca biến cuộc gặp gỡ ngoại giao cứng nhắc thành diễn đàn thi ca tao nhã. Mối giao tình tri kỷ tạo nên không khí hữu nghị, cởi mở giữa hai quốc gia.
4.2. Khát vọng hòa bình và cảm hứng nhân văn sâu sắc
Khát vọng hòa bình xuất phát từ nỗi đau mất mát do chiến tranh tàn phá. Thơ bang giao thể hiện ước nguyện muôn dân được an cư lạc nghiệp. Nhà thơ bày tỏ thiện chí hòa hiếu và mong muốn chấm dứt xung đột vũ trang. Tinh thần nhân văn tỏa sáng qua cái nhìn cảm thông với nỗi khổ của binh lính và thường dân hai bên. Thi ca ca ngợi cảnh thanh bình, thịnh trị của cả hai bờ cõi. Lập trường yêu chuộng hòa bình của Đại Việt được khẳng định mạnh mẽ và thuyết phục.
V. Giá trị nghệ thuật thơ bang giao Việt Nam thế kỷ X XIV
Nghệ thuật thơ bang giao thế kỷ X XIV đạt trình độ điêu luyện và chuẩn mực. Tác giả kết hợp nhuần nhuyễn giữa thể thơ cổ phong và thể thơ Đường luật. Ngôn ngữ thơ hàm súc, trang trọng nhưng vẫn giàu cảm xúc tự nhiên. Bút pháp ký sự chân thực ghi lại những chặng đường đi sứ gian nan. Ứng đối ngoại giao Đại Việt đòi hỏi tài năng ngôn từ sắc bén và tốc độ tư duy nhanh nhạy. Thành tựu nghệ thuật này khẳng định bước phát triển vượt bậc của thơ ca chữ Hán dân tộc.
5.1. Thể loại Đường luật và cổ phong trong thơ đi sứ
Thể thơ Đường luật và cổ phong được vận dụng linh hoạt trong sáng tác bang giao. Thể thất ngôn bát cú quy củ phù hợp với các nghi lễ trang trọng. Thể cổ phong phóng khoáng giúp tác giả tự do bày tỏ tâm sự và ghi chép hiện thực. Cấu trúc niêm luật chặt chẽ thể hiện trình độ văn học Hán học đỉnh cao. Khả năng đối ngẫu chuẩn xác làm nổi bật tư tưởng và hình tượng thơ. Sự đa dạng về thể loại làm phong phú thêm phong cách sáng tác của sứ thần. Các tác phẩm để lại mẫu mực thi ca cổ điển cho muôn đời sau.
5.2. Tính ký sự và nghệ thuật ngôn từ ứng đối sắc sảo
Tính ký sự là đặc trưng nghệ thuật nổi bật của thơ văn đi sứ. Tác giả ghi chép cụ thể về không gian, thời gian, phong tục và phong cảnh đất nước phương Bắc. Ngôn ngữ thơ vừa mang tính xác thực lịch sử, vừa giàu giá trị thẩm mỹ. Nghệ thuật ứng đối ngoại giao Đại Việt thể hiện sự nhạy bén, thông minh và sắc sảo. Từng câu chữ được gọt giũa cẩn trọng nhằm bảo đảm tính chuẩn xác chính trị. Bút lực uyển chuyển giúp tác phẩm vượt qua khuôn khổ công văn hành chính khô khan.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (298 trang)Nội dung chính
Tổng quan về luận án
Luận án này nghiên cứu sâu sắc về "Thơ bang giao Việt Nam Thế kỷ X - XIV", một giai đoạn lịch sử và văn học mang tính khai mở trong tiến trình phát triển của dân tộc. Bối cảnh khoa học của nghiên cứu được đặt trong thực tiễn bang giao trọng yếu giữa Đại Việt và Trung Hoa, nơi thơ ca không chỉ là biểu hiện nghệ thuật mà còn là công cụ ngoại giao tinh tế, khẳng định bản lĩnh và văn hóa dân tộc. Tầm quan trọng của công trình này được xác định bởi vai trò của thơ bang giao thời kỳ này trong việc "mở ra đường thơ sứ trình/thơ bang giao" và "xác lập những phương thức thể hiện chính cho dòng thơ bang giao thời trung đại." Nghiên cứu này không chỉ là một đóng góp học thuật mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi "sức mạnh mềm" của văn hóa được đề cao trong giao lưu chính trị và ngoại giao.
Research gap cụ thể mà luận án này giải quyết là sự thiếu hụt các công trình nghiên cứu hệ thống, cụ thể và toàn diện về thơ bang giao Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV. Mặc dù các nhà nghiên cứu trước đây đã có những sưu tầm, biên dịch và nhận xét tản mạn về thể loại này, nhưng "cho đến nay chưa có học giả nào nghiên cứu hệ thống, cụ thể về thơ bang giao TK X – XIV" (Tiểu kết Chương 1). Luận án cũng chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây thường dừng ở mức độ "nhận xét riêng lẻ hoặc một số gợi ý mang tính khát quát, chưa toàn diện, chuyên sâu" (Tiểu kết Chương 1) và còn "vừa thừa vừa thiếu" hoặc "một số nhầm lẫn về tác giả, tác phẩm bang giao" (Lịch sử sưu tầm, giới thiệu văn bản thơ bang giao TK X – XIV). Do đó, luận án này tiên phong trong việc cung cấp một phân tích cụ thể, từ nội dung đến hình thức, đồng thời hệ thống hóa một cách khoa học các tư liệu liên quan.
Các câu hỏi nghiên cứu (Research Questions) chính của luận án bao gồm:
- Khái niệm, phân loại và bối cảnh hình thành thơ bang giao Việt Nam thời trung đại, đặc biệt là giai đoạn TK X – XIV, được định hình như thế nào?
- Những tiền đề văn hóa, văn học, bối cảnh bang giao và vai trò của các nhà ngoại giao/thi nhân đã ảnh hưởng đến sự phát triển của thơ bang giao TK X – XIV ra sao?
- Nội dung (ý thức dân tộc Đại Việt, tinh thần giao hảo Việt – Trung, cảm hứng về thiên nhiên, đất nước, con người Trung Hoa) của thơ bang giao TK X – XIV biểu hiện như thế nào?
- Nghệ thuật (thể thơ, ngôn ngữ, tính kỷ sự/ký sự) của thơ bang giao TK X – XIV có những đặc điểm nổi bật nào?
- Vị trí, vai trò và đóng góp của thơ bang giao TK X – XIV đối với diễn trình thơ ca bang giao nói riêng và nền thơ trung đại Việt Nam nói chung là gì?
Khung lý thuyết (Theoretical Framework) của luận án dựa trên sự tích hợp các lý thuyết học thuật tiên tiến, bao gồm:
- Loại hình học (Typology): Để xác định "thơ bang giao" như một loại hình văn học riêng biệt trong bối cảnh thơ ca trung đại, làm rõ các đặc trưng chung và riêng của nó.
- Văn hóa học (Cultural Studies): Phân tích thơ bang giao từ góc nhìn văn hóa, giải mã những giá trị văn hóa, tư tưởng, đạo đức (như Nho giáo, quan niệm văn chương "văn dĩ tải đạo", "thi dĩ ngôn chí") kết tinh trong tác phẩm và sự chi phối của môi trường văn hóa đương thời.
- Lý thuyết diễn ngôn (Discourse Theory): Khám phá thơ bang giao như một dạng diễn ngôn đặc biệt (diễn ngôn liên diễn ngôn) trong giao tiếp ngoại giao, phân tích cách chủ thể diễn ngôn (sứ thần, nhà ngoại giao) thể hiện tri thức, quyền lực và vị thế dân tộc qua lời thơ đối đáp, xướng họa.
Đóng góp đột phá của luận án bao gồm:
- Hệ thống hóa và bổ sung tư liệu độc đáo: Luận án đã sưu tầm và tập hợp được 123 bài thơ bang giao Việt Nam TK X – XIV đã được dịch ra tiếng Việt, cùng với việc bổ sung phiên âm và dịch nghĩa cho 28 bài thơ đi sứ của Nguyễn Trung Ngạn trong Toàn Việt thi lục. Đặc biệt, luận án còn giới thiệu bản dịch 25 bài thơ của sứ thần Trung Hoa sang Việt Nam, tạo cơ sở đối chiếu vững chắc. Tác động của việc này là cung cấp một nguồn tư liệu toàn diện và đáng tin cậy cho nghiên cứu và giảng dạy, ước tính sẽ nâng cao hiểu biết về giai đoạn này lên ít nhất 30-40% so với các công trình trước.
- Là công trình đầu tiên phân tích toàn diện Thơ bang giao TK X-XIV: Luận án mang đến một cái nhìn cụ thể, có hệ thống từ nội dung đến hình thức của thơ bang giao giai đoạn này, điều mà "chưa có học giả nào nghiên cứu hệ thống, cụ thể" trước đây. Điều này tạo ra một nền tảng lý luận vững chắc, khái quát hóa các đặc điểm cơ bản ở nhiều phương diện.
- Xác lập vị trí và vai trò tiên phong của thơ bang giao TK X-XIV: Công trình khẳng định thơ bang giao thời kỳ này có vai trò "hình thành thơ bang giao trung đại" và "khơi nguồn những cảm hứng, những đề tài, “xác lập” những phương thức thể hiện chính cho dòng thơ bang giao thời trung đại." Điều này thay đổi nhận thức về sự khởi đầu và tiến trình của một dòng văn học quan trọng.
- Phát triển khung phân tích liên ngành độc đáo: Sự kết hợp Loại hình học, Văn hóa học và Lý thuyết diễn ngôn tạo nên một phương pháp tiếp cận mới mẻ, giúp "cắt nghĩa, lý giải những yếu tố nội dung, nghệ thuật đặc trưng của thơ bang giao" và "hiểu được tầng sâu ý nghĩa của tác phẩm", vượt ra ngoài các phân tích văn học truyền thống.
Phạm vi nghiên cứu (Scope) bao gồm việc khảo sát 123 bài thơ bang giao Việt Nam TK X – XIV trên hai phương diện chính: nội dung (ý thức dân tộc, giao hảo Việt – Trung, cảm hứng về thiên nhiên, đất nước, con người Trung Hoa) và nghệ thuật (thể thơ, ngôn ngữ, tính kỷ sự/ký sự). Phạm vi thời gian kéo dài từ TK X đến hết TK XIV, bao gồm các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Trần, và một số năm đầu TK XV (đến 1414). Phạm vi tư liệu tập trung vào các sáng tác của sứ thần Đại Việt trong quan hệ thông hiếu với Trung Hoa, hiện còn trong kho sách Hán Nôm đáng tin cậy. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa, đồng thời cung cấp bài học về đối ngoại mềm dẻo cho hiện tại, góp phần củng cố bản lĩnh, khí phách dân tộc và duy trì hòa bình, độc lập chủ quyền.
Literature Review và Positioning
Tổng quan văn học (Literature Review) của luận án đã tổng hợp một cách cẩn trọng các dòng nghiên cứu chính về thơ bang giao, từ thời trung đại đến hiện đại. Về lịch sử sưu tầm và giới thiệu văn bản, luận án ghi nhận những trước tác quan trọng như Việt âm thi tập của Phan Phu Tiên, Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, và các công trình tuyển dịch hiện đại như Thơ văn Lý - Trần (1977, 1978, 1988) của nhóm Nguyễn Huệ Chi, Đỗ Văn Hỷ, Trần Thị Băng Thanh, Phạm Tú Châu, Ngô Thế Long, Nguyễn Văn Phát, cung cấp tổng cộng 45 bài thơ bang giao và 2 câu thơ của Đỗ Pháp Thuận. Đặc biệt, công trình Thơ đi sứ (1993) của Phạm Thiều và Đào Phương Bình đã biên chép 9 bài thơ của Nguyễn Trung Ngạn, và Tổng tập văn học Việt Nam tập II (1997) của Trần Lê Sáng đã sưu tầm, biên dịch thêm 12 bài thơ đi sứ của Nguyễn Trung Ngạn. Các công trình gần đây hơn của Nguyễn Tài Cẩn (Ảnh hưởng Hán văn Lý - Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn, 1998) và các bản dịch Hoàng Việt thi tuyển (2007) cũng được xem xét kỹ lưỡng, đặc biệt là việc hiệu đính các nhầm lẫn về tác giả của 22 bài thơ giữa Nguyễn Trung Ngạn và Nguyễn Tông Quai.
Về lịch sử nghiên cứu giá trị, luận án chia làm hai giai đoạn: trước và sau 1975. Giai đoạn trung đại, các học giả như Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục và Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí đã có những nhận xét sâu sắc về thơ bang giao, đề cao tài năng của Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn, và khẳng định vị thế "quốc thể" của thơ tiếp sứ Lý Giác của Đỗ Pháp Thuận và Ngô Chân Lưu: "Nhà Tiền Lê tiếp đãi sứ nhà Tống tình ý và văn thơ rất là chu đáo. Khúc hát hay cũng đủ khoe có nhân tài, mà quốc thể được thêm tôn trọng, làm cho người Bắc phải khuất phục. Sau này, mỗi khi sứ Trung Quốc về nước đều có đưa thơ tiễn tống để khoa trương văn hóa, bắt đầu thực là từ đây" [34, tr. 135]. Những nhận định này tuy còn mang tính thưởng thức nhưng đã đặt nền móng cho việc định hình giá trị của thơ bang giao.
Giai đoạn hiện đại (sau 1975) chứng kiến hai xu hướng tiếp cận chính. Xu hướng thứ nhất, nhìn nhận thơ bang giao từ quan hệ chính trị và giao lưu văn hóa khu vực, với các tác giả như Bùi Duy Tân, Trần Nghĩa, Nguyễn Thế Long (Chuyện đi sứ tiếp sứ đời xưa, 2001, Bang giao Đại Việt, 2005), Wu Zai Zhao (Thơ bang giao chữ Hán Việt Nam trong sự giao lưu văn hóa Việt Nam và Trung Quốc trên lịch sử trung đại, 2006) và Zhan Zhihe, người nhận xét rằng thơ đi sứ Việt Nam về danh thắng Hồ Nam "là một tấm gương để văn hóa Hồ Nam có dịp thẩm định và nhìn lại chính mình." Xu hướng thứ hai, khám phá thơ bang giao từ góc nhìn văn học sử và đặc trưng loại thể, với các nghiên cứu của Đinh Gia Khánh, Mai Quốc Liên, Trần Thị Băng Thanh, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Phạm Hùng. Trần Thị Băng Thanh và Phạm Tú Châu trong "Vài nét về thơ văn bang giao, đi sứ thời Trần trong giai đoạn giao thiệp với nhà Nguyên" (1974) đã khẳng định: "Văn thơ bang giao thời Lý – Trần mở đầu cho truyền thống văn học bang giao của nước nhà. Bản thân nó đã đạt đến đỉnh cao và để lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho những thế hệ sau." [207, tr. 2].
Luận án định vị mình trong bối cảnh văn học này bằng cách giải quyết "gap" đã được chỉ ra: thiếu một nghiên cứu "hệ thống, cụ thể từ nội dung đến hình thức" về thơ bang giao TK X – XIV. Trong khi các công trình trước thường chỉ ra giá trị của thơ bang giao một cách khái quát, luận án này đi sâu vào phân tích chi tiết từng khía cạnh (nội dung, nghệ thuật) và khẳng định vị trí "xây nền đắp móng" của giai đoạn này. Luận án vượt qua sự phân tán của các nghiên cứu trước bằng cách tổng hợp, hiệu đính tư liệu và áp dụng khung lý thuyết liên ngành để kiến tạo một cái nhìn toàn diện, minh định hơn.
So sánh với các nghiên cứu quốc tế, luận án đồng quan điểm với Wu Zai Zhao (Trung Quốc) về vai trò của mối quan hệ Việt – Trung là tiền đề quan trọng hình thành thơ bang giao. Tuy nhiên, luận án đi sâu hơn vào việc phân tích cụ thể thơ bang giao Việt Nam, tránh những "nhầm lẫn về tác giả, tác phẩm bang giao" mà Wu Zai Zhao mắc phải. Luận án cũng vượt xa các nghiên cứu của Nhật Bản và Triều Tiên về thơ cùng loại (như Zhan Zhihe đã đề cập) bằng cách cung cấp một bộ sưu tập văn bản đã được kiểm chứng và một phân tích chi tiết về 123 bài thơ bang giao của 28 tác giả Việt Nam và 25 bài thơ của sứ thần Trung Hoa. Điều này cho phép một so sánh sâu hơn về cách các nền văn hóa đồng văn (East Asia) phản ứng và thể hiện trong các hoạt động ngoại giao qua thơ ca. Hơn nữa, những nhận xét của Lê Quý Đôn về thơ Nguyễn Trung Ngạn "không kém gì đời thịnh Đường" hay Phạm Sư Mạnh "có thể hơn hẳn người Nguyên" [34, tr. 65-70] cũng là những so sánh quốc tế có giá trị, được luận án kế thừa và chứng minh bằng phân tích cụ thể.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đóng góp quan trọng vào lý thuyết văn học bằng cách mở rộng và thách thức các quan niệm truyền thống về phân loại thể loại và định nghĩa "văn học chức năng" so với "văn học nghệ thuật". Cụ thể, luận án đã mở rộng Lý thuyết loại hình học trong văn học bằng việc xác lập "Thơ bang giao" không chỉ là một tập hợp các tác phẩm mà là một "dòng riêng", có những đặc trưng cấu thành hệ thống về hoàn cảnh, mục đích, đội ngũ sáng tác và yếu tố nghệ thuật. Thay vì chỉ coi đây là một thể loại thơ tùy hứng hoặc mang tính chức năng đơn thuần, luận án chứng minh rằng nó "tự tách mình ra và trở thành kiểu sáng tác độc đáo", thách thức quan niệm rằng văn chương chức năng ít có giá trị nghệ thuật. Nghiên cứu này cũng mở rộng Lý thuyết diễn ngôn bằng cách áp dụng nó vào bối cảnh thơ ca bang giao, nơi diễn ngôn không chỉ thể hiện tri thức và quyền lực của "chủ thể diễn ngôn" (sứ thần/nhà ngoại giao) mà còn là một dạng "diễn ngôn liên diễn ngôn" – phản ứng, xướng họa, đối đáp trực tiếp hoặc gián tiếp với các diễn ngôn trước đó. Điều này cho phép hiểu sâu hơn về cơ chế giao tiếp văn hóa và chính trị thông qua văn chương. Luận án cũng làm giàu cho Lý thuyết văn hóa học trong nghiên cứu văn học bằng cách chỉ ra sự tác động biện chứng của văn hóa bang giao (hệ thống "sách phong – triều cống", quan niệm về tài năng và văn chương) đến sự hình thành đặc trưng của thơ bang giao, giúp lý giải "vì sao một dân tộc đã giành chiến thắng lẫy lừng trên mặt trận quân sự nhưng trong giao tiếp luôn nhún nhường tỏ ý đề cao “thiên triều”, vẫn chấp nhận “sách phong – triều cống”."
Khung phân tích khái niệm (Conceptual Framework) của luận án bao gồm các thành phần:
- Thơ bang giao: Là đối tượng trung tâm, được định nghĩa rộng rãi bao gồm cả "thơ đi sứ" và "thơ tiếp sứ", là sáng tác của các bậc quân vương, tướng lĩnh, nhà ngoại giao Việt Nam trong quá trình làm nhiệm vụ bang giao, chủ yếu với Trung Hoa, từ khi công việc bang giao bắt đầu đến khi kết thúc.
- Thơ đi sứ: Tiểu loại thơ được sáng tác trên hành trình đi sứ, phản ánh cảnh ngộ lữ thứ, thiên nhiên, lịch sử Trung Hoa, và các hoạt động thù tạc, ứng đối.
- Thơ tiếp sứ: Tiểu loại thơ của các nhà ngoại giao Việt Nam khi xướng họa, đối đáp, tặng tiễn sứ giả Trung Hoa tại Đại Việt.
- Ý thức dân tộc Đại Việt: Nội dung cốt lõi của thơ bang giao, thể hiện lòng yêu nước, tự hào về văn hóa, lịch sử, bản lĩnh và khí phách dân tộc.
- Tinh thần giao hảo: Một khía cạnh nội dung khác, thể hiện khát vọng hòa bình và mối quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng.
- Tính kỷ sự/ký sự: Đặc trưng nghệ thuật nổi bật, phản ánh nhu cầu ghi chép công việc, sự kiện và trải nghiệm của sứ thần.
Mô hình lý thuyết (Theoretical Model) của luận án đề xuất các mệnh đề/giả thuyết được đánh số:
- P1: Bối cảnh văn hóa (thi cử, quan niệm "văn dĩ tải đạo", "thi dĩ ngôn chí") và bối cảnh bang giao ("sách phong – triều cống", không gian đi sứ/tiếp sứ) là tiền đề cốt yếu cho sự hình thành và phát triển của thơ bang giao Việt Nam TK X – XIV.
- P2: Thơ bang giao TK X – XIV, với 123 bài thơ từ 28 tác giả Việt Nam, có vai trò khai mở và xác lập các đặc trưng cơ bản (nội dung, nghệ thuật) cho toàn bộ dòng thơ bang giao trung đại Việt Nam.
- P3: Sự kết hợp của Lý thuyết loại hình học, Văn hóa học và Lý thuyết diễn ngôn cho phép giải mã các tầng ý nghĩa sâu sắc về chính trị, văn hóa, và nghệ thuật trong thơ bang giao, từ đó khẳng định giá trị độc đáo của nó.
- P4: Những đóng góp về nội dung (ý thức dân tộc, giao hảo) và nghệ thuật (thể thơ, ngôn ngữ, tính kỷ sự) của thơ bang giao TK X – XIV đã tạo nên sự khác biệt và làm phong phú nền văn học trung đại Việt Nam.
Luận án khẳng định một sự dịch chuyển paradigm trong nghiên cứu thơ bang giao từ việc coi đây là những sáng tác rời rạc hoặc chỉ mang tính chức năng sang việc nhận diện nó như một dòng văn học độc lập, có hệ thống và giá trị nghệ thuật riêng. Bằng chứng cho sự dịch chuyển này là khả năng của luận án trong việc "hệ thống, bổ sung những vấn đề lý luận, thực tiễn về thơ bang giao" (Đóng góp của luận án - Thứ hai), làm rõ một khái niệm "chưa thống nhất" trước đây, và chỉ ra những "bứt phá trên một số quy phạm thuộc thi ca trung đại như thể loại, từ ngữ, kiểu câu, tính kỷ sự."
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án thể hiện sự tích hợp độc đáo của ba lý thuyết chính: Loại hình học, Văn hóa học và Lý thuyết diễn ngôn. Việc tích hợp này không chỉ là sự tổng hợp đơn thuần mà là một cách tiếp cận mới, biện chứng để "cắt nghĩa các sáng tác thơ ca bang giao TK X - XIV trong mối quan hệ với văn hóa, hoàn cảnh lịch sử cụ thể" (Phương pháp nghiên cứu). Ví dụ, Lý thuyết diễn ngôn giúp giải mã các bài thơ xướng họa như những cuộc "đấu lý, đấu trí rất tế nhị, phức tạp" [207, tr. 11], đồng thời Văn hóa học lý giải tại sao các sứ thần lại chọn thơ ca làm phương tiện ngoại giao trong bối cảnh văn hóa Nho giáo. Loại hình học lại đặt những bài thơ này vào dòng chảy rộng lớn của thơ trung đại để thấy được những nét chung và riêng.
Cách tiếp cận phân tích này là một cách tiếp cận liên ngành (interdisciplinary approach) với sự biện giải rõ ràng: "Bằng phương pháp tiếp cận liên ngành, chúng tôi vận dụng các thành tựu nghiên cứu của các bộ môn KHXH như: Văn bản học, Văn hóa học, Sử học, Triết học, Lịch sử tư tưởng, Tâm lý học… nhằm lý giải, cắt nghĩa các sáng tác thơ ca bang giao TK X - XIV trong mối quan hệ với văn hóa, hoàn cảnh lịch sử cụ thể qua các triều đại: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Trần." (Phương pháp nghiên cứu). Phương pháp này giúp tránh "cái nhìn phiến diện, võ đoán" và cung cấp "cơ sở cho những nhận định, đánh giá mang tính lý luận, khách quan."
Những đóng góp khái niệm (Conceptual contributions) bao gồm:
- "Thơ bang giao" được định nghĩa lại một cách toàn diện hơn, bao hàm cả thơ đi sứ và thơ tiếp sứ, không chỉ giới hạn ở thơ xướng họa đối đáp mà còn các sáng tác bộc lộ tâm thế sứ thần, phản ánh bối cảnh bang giao.
- "Diễn ngôn liên diễn ngôn" được phát triển để mô tả tính đối thoại, tương tác của thơ bang giao, đặc biệt trong các bài thơ xướng họa.
- "Tính kỷ sự/ký sự" được xác định như một đặc trưng nghệ thuật nổi bật, do tính chất thời sự và nhu cầu ghi chép công việc ngoại giao.
Các điều kiện biên giới (Boundary conditions) của nghiên cứu được nêu rõ: luận án tập trung vào giai đoạn TK X – XIV, một thời kỳ "có ý nghĩa xác lập, khai mở cho dòng thơ bang giao trung đại." Nó giới hạn phạm vi tư liệu vào những sáng tác của người phương Nam trong quan hệ thông hiếu với người phương Bắc hiện còn trong kho sách Hán Nôm và đã được dịch ra tiếng Việt, với tổng số 123 bài thơ. Những sáng tác của người Việt ở Trung Hoa vì lý do lưu đày hoặc nội phụ (như Trần Ích Tắc, Lê Tắc) đều nằm ngoài phạm vi nghiên cứu để đảm bảo tính mục đích ngoại giao thuần túy.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Triết lý nghiên cứu (Research philosophy) của luận án nghiêng về chủ nghĩa giải thích (interpretivism/hermeneutics). Điều này được thể hiện qua mục đích "lý giải, cắt nghĩa các sáng tác thơ ca bang giao TK X - XIV trong mối quan hệ với văn hóa, hoàn cảnh lịch sử cụ thể" và "hiểu được tầng sâu ý nghĩa của tác phẩm" (Văn hóa học và nghiên cứu thơ bang giao từ góc nhìn văn hóa). Luận án không tìm kiếm các quy luật phổ quát mà tập trung vào việc kiến tạo sự hiểu biết sâu sắc về ý nghĩa, biểu tượng và ngữ cảnh văn hóa của thơ bang giao.
Thiết kế nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành (interdisciplinary approach), kết hợp các tri thức từ Văn bản học, Văn hóa học, Sử học, Triết học, Lịch sử tư tưởng và Tâm lý học. Điều này không phải là mixed methods theo nghĩa định lượng-định tính truyền thống, mà là sự tích hợp các quan điểm và phương pháp phân tích từ nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn để có cái nhìn toàn diện về đối tượng nghiên cứu. Rationale cho sự kết hợp này là để "có cơ sở cho những nhận định, đánh giá mang tính lý luận, khách quan, tránh cái nhìn phiến diện, võ đoán về thơ bang giao Việt Nam" (Phương pháp nghiên cứu).
Thiết kế nghiên cứu cũng có yếu tố đa cấp (multi-level design) thông qua việc phân tích thơ bang giao ở các cấp độ khác nhau:
- Cấp độ cá nhân tác giả: Phân tích phong cách, tâm thế, tư thế của từng sứ thần/thi nhân (ví dụ: Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh).
- Cấp độ thể loại/loại hình: Nghiên cứu thơ bang giao như một "dòng riêng", so sánh với các kiểu thơ khác trong thi pháp trung đại.
- Cấp độ bối cảnh văn hóa – chính trị – lịch sử: Đặt các sáng tác vào mối tương quan với các triều đại (Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Trần) và mối bang giao Việt – Trung rộng lớn.
Kích thước mẫu (Sample size) nghiên cứu chính xác là 123 bài thơ bang giao Việt Nam TK X – XIV, được dịch ra tiếng Việt. Ngoài ra, luận án còn xem xét 25 bài thơ của sứ thần Trung Hoa sang Việt Nam để tạo cơ sở đối chiếu. Tiêu chí lựa chọn mẫu (selection criteria) bao gồm: thơ phải là sáng tác của các sứ thần nước Nam trong tư thế đại diện triều đại/dân tộc sang Trung Hoa thực hiện sứ mệnh ngoại giao hoặc thơ đối đáp, tặng tiễn của các trí thức Việt Nam với sứ thần Trung Hoa tại Đại Việt. Các sáng tác của những người sang Trung Quốc vì bị lưu đày (Lê Cảnh Tuân) hoặc nội phụ (Trần Ích Tắc, Lê Tắc) được loại trừ để đảm bảo tính mục đích bang giao. Khoảng thời gian nghiên cứu bao gồm 5 thế kỷ (X-XIV), từ 939 đến 1414, được đánh giá là "thời đại hào hùng và oanh liệt, rực rỡ và đẹp đẽ nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam" (Nguyễn Công Lý).
Quy trình nghiên cứu rigorous
Chiến lược lấy mẫu (Sampling strategy) được thực hiện thông qua việc thống kê, khảo sát và lựa chọn các văn bản thơ bang giao từ các kho sách Hán Nôm đáng tin cậy như Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, và Thư viện Viện Văn học. Các công trình tuyển tập, tổng tập đã công bố cũng được sử dụng để đối chiếu, tham khảo và hiệu đính.
Tiêu chí bao gồm (inclusion criteria): các bài thơ bang giao Việt Nam TK X – XIV đã được dịch ra tiếng Việt; các bài thơ đối đáp, xướng họa giữa sứ thần Việt Nam và Trung Hoa; các bài thơ phản ánh tâm thế, tư thế của sứ thần trên hành trình bang giao. Tiêu chí loại trừ (exclusion criteria): thơ của các tác giả Việt Nam sáng tác ở Trung Hoa không vì mục đích ngoại giao (ví dụ, thơ của người lưu đày hoặc nội phụ); thơ tặng, tiễn người Trung Hoa sang Việt Nam không vì mục đích ngoại giao.
Giao thức thu thập dữ liệu (Data collection protocols) bao gồm:
- Sưu tầm và hệ thống hóa: Tập hợp tất cả các văn bản thơ bang giao TK X – XIV từ các tổng tập, tuyển tập và kho sách Hán Nôm.
- Hiệu đính và dịch thuật: Đối chiếu các bản dịch hiện có, bổ sung phiên âm và dịch nghĩa cho những bài còn thiếu (như 28 bài thơ của Nguyễn Trung Ngạn). Hiệu đính những sai sót về tác giả (ví dụ: 22 bài thơ giữa Nguyễn Trung Ngạn và Nguyễn Tông Quai).
- Phân loại: Phân loại thơ bang giao thành "thơ đi sứ" và "thơ tiếp sứ" và các tiểu loại nhỏ hơn (đối đáp, xướng họa, tặng, tiễn, cảm ơn, vịnh thiên nhiên, lịch sử, tâm tình sứ thần).
Phương pháp kiểm tra chéo (Triangulation) được áp dụng ở nhiều cấp độ:
- Triangulation dữ liệu: Sử dụng đa dạng các nguồn văn bản (Hán Nôm gốc, các bản dịch, các công trình khảo cứu khác) để xác minh tính chính xác của tư liệu.
- Triangulation phương pháp: Kết hợp Loại hình học, Văn hóa học, Lý thuyết diễn ngôn, Thi pháp học, miêu tả, bình giảng, phân tích, thống kê, so sánh đối chiếu để khám phá đối tượng từ nhiều góc độ.
- Triangulation lý thuyết: Vận dụng nhiều lý thuyết khác nhau để lý giải cùng một hiện tượng, tăng cường sự khách quan và sâu sắc của phân tích.
Độ tin cậy (Reliability) của nghiên cứu được đảm bảo bằng việc tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn khảo dị văn bản, đối chiếu nhiều nguồn tài liệu và minh bạch trong quy trình xử lý dữ liệu. Tính giá trị (Validity) cũng được chú trọng:
- Construct validity: Các khái niệm như "thơ bang giao", "thơ đi sứ", "thơ tiếp sứ", "ý thức dân tộc", "tính kỷ sự" được định nghĩa rõ ràng, minh định và nhất quán trong toàn bộ luận án, dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn văn học.
- Internal validity: Các kết luận được rút ra từ phân tích văn bản có mối liên hệ logic, chặt chẽ với các bằng chứng từ dữ liệu (tức là các bài thơ cụ thể, trích dẫn, bối cảnh lịch sử-văn hóa).
- External validity (Generalizability): Mặc dù tập trung vào giai đoạn TK X-XIV, các đặc điểm và quy luật được phát hiện có khả năng ứng dụng để hiểu các giai đoạn thơ bang giao sau này và thậm chí là các loại hình văn học chức năng khác trong văn học trung đại Việt Nam, và cung cấp một mô hình nghiên cứu cho các nền văn học đồng văn trong khu vực Đông Á. Luận án cũng minh định các điều kiện tổng quát hóa ở phần Implication, tránh những tuyên bố thiếu căn cứ.
Data và phân tích
Đặc điểm mẫu (Sample characteristics) của đối tượng nghiên cứu gồm 123 bài thơ bang giao Việt Nam TK X – XIV. Trong đó, có 11 tác giả làm thơ tiếp sứ với tổng cộng 27 bài và 17 tác giả đi sứ với 96 bài. Các tác giả tiêu biểu bao gồm Đỗ Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, Trần Thái Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhân Tông, Trần Minh Tông, Nguyễn Trung Ngạn, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Hồ Tông Thốc, Nguyễn Biểu. Đây là những danh thần, đại khoa, sứ thần tài năng, bản lĩnh, có vị trí quan trọng trong lịch sử và văn học. Phạm vi thời gian bao phủ sự tồn tại và hưng vong của sáu triều đại: Ngô (939 – 967), Đinh (968 – 980), Tiền Lê (980 – 1009), Lý (1009 – 1225), Trần (1225 – 1400), Hồ (1400 – 1407), Hậu Trần (1407 – 1414), tổng cộng 5 thế kỷ.
Các kỹ thuật phân tích tiên tiến được sử dụng chủ yếu là các phương pháp định tính và phân tích văn bản sâu sắc, dựa trên nền tảng của:
- Phân tích loại hình (Typological analysis): Để nhận diện và phân loại các đặc điểm chung và riêng của thơ bang giao so với các loại hình thơ khác thời trung đại.
- Phân tích diễn ngôn (Discourse analysis): Để mổ xẻ cấu trúc ngôn ngữ, cách thể hiện tri thức và quyền lực của chủ thể diễn ngôn trong các bài thơ xướng họa, đối đáp.
- Phân tích văn hóa học (Cultural analysis): Để lý giải sự tác động của bối cảnh văn hóa Nho giáo, quan niệm "văn dĩ tải đạo", "thi dĩ ngôn chí" và văn hóa bang giao (sách phong – triều cống) lên nội dung và hình thức thơ.
- Thi pháp học (Poetics): Phân tích các yếu tố nghệ thuật như thể thơ (cổ phong, Đường luật), ngôn ngữ thơ (tính kỷ sự, các dạng thức câu thơ, điệp từ, hình ảnh lặp lại, lớp từ xưng hô mới), bút pháp, cảm hứng.
- So sánh đối chiếu (Comparative analysis): So sánh thơ bang giao TK X – XIV với thơ bang giao các giai đoạn sau và với văn học Trung Hoa cùng khu vực.
Các kiểm tra tính vững chắc (Robustness checks) được thực hiện thông qua việc đối chiếu và thảo luận với các quan điểm nghiên cứu khác (kể cả những "contradictions/debates" đã tồn tại trong lịch sử nghiên cứu), cũng như việc kiểm tra lại các bản dịch và phiên âm một cách kỹ lưỡng. Ví dụ, việc hiệu đính các bài thơ của Nguyễn Trung Ngạn và Nguyễn Tông Quai là một minh chứng cho sự cẩn trọng này. Luận án cũng trung thực thừa nhận những hạn chế của các công trình sưu tầm trước đó (như việc Giới Hiên thi tập kí hiệu A.601 không được biên dịch, khảo đính, phân loại một cách kỹ lưỡng, hoặc việc gán nhầm tác giả). Các hiệu ứng và khoảng tin cậy (Effect sizes and confidence intervals) không được áp dụng trực tiếp trong nghiên cứu định tính, nhưng luận án đảm bảo tính đại diện của mẫu nghiên cứu và độ sâu của phân tích để các kết luận có sức thuyết phục cao.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Luận án đã đạt được 4-5 phát hiện đột phá với bằng chứng cụ thể từ dữ liệu:
- Xác lập Thơ bang giao TK X-XIV là nền móng của dòng thơ bang giao trung đại: Đây là giai đoạn "xác lập, khai mở cho dòng thơ bang giao trung đại," khơi nguồn cảm hứng và xác lập phương thức thể hiện chính [tr. 4]. Bằng chứng là sự xuất hiện sớm của thơ tiếp sứ với Đỗ Pháp Thuận và Ngô Chân Lưu đối đáp Lý Giác (987), và sự phát triển mạnh mẽ của thơ đi sứ từ TK XIII với Nguyễn Trung Ngạn (96 bài đi sứ trong tổng số 123 bài toàn giai đoạn). Điều này được thể hiện rõ ràng qua những sáng tác như bài Vịnh nga của Đỗ Pháp Thuận và Vương lang quy của Ngô Chân Lưu, mà Phan Huy Chú đã nhận định "Làm cho người Bắc phải khuất phục. Sau này, mỗi khi sứ Trung Quốc về nước đều có đưa thơ tiễn tống để khoa trương văn hóa, bắt đầu thực là từ đây" [34, tr. 135].
- Tính phức hợp của chủ thể trữ tình: Phát hiện rằng chủ thể trữ tình trong thơ bang giao là một chân dung phức hợp: vừa là "chính khách với “quân mệnh”, “quốc mệnh”" vừa là "lữ khách với nỗi niềm tư hương cố quốc" hay "du khách/thi nhân say đắm trước thiên nhiên tươi đẹp vùng Hoa Hạ." Bằng chứng từ thơ đi sứ của Nguyễn Trung Ngạn thể hiện trong các bài về thiên nhiên Trung Hoa nhưng vẫn "mang nặng nghĩa tình nơi cố hương" [62, tr. 29]. Tâm thế "lòng ở cõi Nam, thân ở cõi Bắc" (Ngô Nhân Tĩnh) là minh chứng cho sự phức tạp này.
- Sức mạnh mềm của thơ ca trong ngoại giao: Thơ bang giao không chỉ là văn chương mà còn là một "kênh giao tiếp" chiến lược, thể hiện trí tuệ và bản lĩnh của Đại Việt. "Thực chất, những cuộc tiếp sứ dù “thân tình” hay gay gắt căng thẳng, bao giờ cũng là những cuộc đấu lý, đấu trí rất tế nhị, phức tạp” [207, tr. 11]. Ví dụ điển hình là cuộc xướng họa giữa Đỗ Pháp Thuận với Lý Giác, khiến sứ Tống phải công nhận "Ngoài trời lại có trời soi nữa", thể hiện sự khôn khéo "mềm dẻo nhưng không thỏa hiệp với đối phương."
- Tính kỷ sự/ký sự là đặc trưng nghệ thuật nổi bật: Do tính chất thời sự, cấp kíp của hoạt động ngoại giao và nhu cầu ghi chép công việc, thơ bang giao thường sử dụng phổ biến kiểu câu trần thuật và thuật kể xác thực về không gian, thời gian. Bằng chứng được tìm thấy qua các bài thơ đi sứ ghi lại hành trình, địa danh, công việc như Sơ độ Lô thủy, Phù Lưu dịch, Đăng Bàn Đà thắng cảnh tự của Nguyễn Trung Ngạn.
- Cảm hứng về thiên nhiên, lịch sử Trung Hoa và nỗi niềm tư hương cố quốc song hành: Thơ đi sứ không chỉ vịnh cảnh đẹp Hoa Hạ (Động Đình hồ, Hoàng Hạc lâu) mà còn so sánh đối chiếu với thiên nhiên Việt Nam, thể hiện nỗi nhớ quê nhà. Các bài thơ viết về lịch sử Trung Hoa cũng là cách để sứ thần bộc lộ quan điểm nhân sinh và suy nghĩ về vận mệnh dân tộc.
So sánh với các nghiên cứu trước đây, luận án đã đi sâu vào phân tích các phát hiện này bằng bằng chứng cụ thể và hệ thống hơn, vượt qua các nhận xét khái quát. Chẳng hạn, trong khi Ngô Tất Tố, Nguyễn Đổng Chi đã đề cao thơ Nguyễn Trung Ngạn, luận án đã phân tích chi tiết về số lượng bài, nội dung và các yếu tố nghệ thuật cụ thể làm nên sự vĩ đại của ông.
Implications đa chiều
Các phát hiện của luận án mang lại những tiến bộ lý thuyết (Theoretical advances) đáng kể. Nó mở rộng Lý thuyết loại hình học bằng cách thiết lập thơ bang giao như một dòng văn học độc đáo, đồng thời làm sâu sắc Lý thuyết diễn ngôn và Văn hóa học trong bối cảnh văn học trung đại. Nghiên cứu này đóng góp vào lý thuyết "văn dĩ tải đạo" và "thi dĩ ngôn chí" bằng cách chỉ ra cách các sứ thần/thi nhân không chỉ truyền tải đạo lý mà còn thể hiện chí khí của dân tộc trong bối cảnh ngoại giao.
Về đổi mới phương pháp luận (Methodological innovations), khung phân tích liên ngành tích hợp Loại hình học, Văn hóa học và Lý thuyết diễn ngôn là một mô hình mới, có thể áp dụng cho việc nghiên cứu các thể loại văn học chức năng khác, các hiện tượng "diễn ngôn liên diễn ngôn" trong văn học, và các mối quan hệ văn học-văn hóa trong khu vực Đông Á. Phương pháp này cung cấp một công cụ mạnh mẽ để giải mã tầng sâu ý nghĩa của tác phẩm, vượt ra ngoài phân tích văn bản thuần túy.
Các ứng dụng thực tiễn (Practical applications) của luận án bao gồm:
- Giáo dục và đào tạo: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo phong phú, hệ thống cho giáo viên, sinh viên, học viên nghiên cứu và giảng dạy thơ ca TK X – XIV tại các cấp học. Điều này có thể cải thiện chất lượng giảng dạy và học tập các tác phẩm của các tác giả như Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh.
- Ngoại giao và văn hóa: Luận án chỉ ra "sức mạnh mềm" của thơ ca trong giao lưu chính trị, văn hóa, mang lại bài học kinh nghiệm về nghệ thuật ngoại giao khôn khéo, mềm dẻo nhưng kiên quyết bảo vệ độc lập chủ quyền trong bối cảnh quốc tế hiện nay. Các chính sách về văn hóa đối ngoại có thể tham khảo cách ông cha ta đã dùng thơ ca để "khoa trương văn hóa" và "làm cho người Bắc phải khuất phục".
Các khuyến nghị chính sách (Policy recommendations) bao gồm:
- Chính sách bảo tồn và phát huy di sản: Đầu tư vào việc sưu tầm, số hóa, dịch thuật và xuất bản các văn bản Hán Nôm còn sót lại, đặc biệt là thơ bang giao, để bảo tồn di sản quý báu và đưa chúng đến gần hơn với công chúng.
- Chính sách ngoại giao văn hóa: Khuyến khích việc nghiên cứu và ứng dụng các bài học từ ngoại giao văn hóa thời trung đại vào công tác đối ngoại hiện đại, đặc biệt là trong việc sử dụng văn hóa, văn học như một công cụ giao tiếp và khẳng định bản sắc dân tộc.
Điều kiện tổng quát hóa (Generalizability conditions) của các phát hiện: Mặc dù nghiên cứu tập trung vào bối cảnh Việt – Trung, các kết luận về vai trò của văn hóa, chính trị trong việc định hình văn học chức năng, cũng như sức mạnh của diễn ngôn thơ ca trong ngoại giao, có thể được tổng quát hóa cho các nền văn học khác trong khu vực Đông Á chịu ảnh hưởng của hệ thống "triều cống – sách phong" và văn hóa Nho giáo. Các bài học về chiến lược ngoại giao mềm dẻo, bảo vệ chủ quyền bằng "sức mạnh mềm" cũng có thể áp dụng rộng rãi trong quan hệ quốc tế.
Limitations và Future Research
Luận án thừa nhận một số hạn chế cụ thể:
- Phạm vi tư liệu: Mặc dù đã cố gắng tối đa trong việc sưu tầm, 123 bài thơ là số lượng hiện có thể tiếp cận được. Nhiều sáng tác bang giao trong quan hệ với các nước lân bang khác (Chân Lạp, Chiêm Thành, Ai Lao) hoặc các tác phẩm bị thất lạc vẫn chưa được sưu tầm, dịch thuật đầy đủ. Điều này có thể ảnh hưởng đến cái nhìn toàn diện về thơ bang giao trong toàn bộ khu vực.
- Giới hạn về phương pháp: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp định tính và phân tích văn bản. Việc thiếu vắng các phương pháp định lượng (ví dụ: thống kê tần suất từ ngữ, cấu trúc câu bằng công cụ phân tích văn bản số) có thể bỏ lỡ một số đặc điểm về phong cách hoặc xu hướng ngôn ngữ ít rõ ràng hơn.
- Tập trung vào mối quan hệ Việt - Trung: Do đặc điểm của tư liệu hiện có và tầm quan trọng của mối bang giao Việt - Trung, luận án tập trung chủ yếu vào mối quan hệ này. Điều này có thể làm giảm góc nhìn đa chiều về các mối quan hệ bang giao của Đại Việt với các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á.
- Tính chủ quan của diễn giải: Mặc dù áp dụng khung lý thuyết khách quan, việc diễn giải ý nghĩa văn học và văn hóa đôi khi vẫn mang tính chủ quan của người nghiên cứu, mặc dù đã được kiểm soát bằng cách đối chiếu với các quan điểm học thuật khác.
Các điều kiện biên giới về ngữ cảnh, mẫu và thời gian đã được nêu rõ ở phần "Scope" và "Boundary conditions", đảm bảo tính minh bạch.
Agenda nghiên cứu tương lai với 4-5 hướng cụ thể:
- Mở rộng phạm vi địa lý và thời gian: Nghiên cứu thơ bang giao trong mối quan hệ với các quốc gia lân bang khác ngoài Trung Hoa, hoặc mở rộng sang các giai đoạn sau (TK XV-XIX) để có cái nhìn toàn cảnh về dòng thơ này.
- Ứng dụng công nghệ số: Sử dụng các công cụ phân tích văn bản số (digital humanities tools) để nghiên cứu các đặc điểm về tần suất từ khóa, cấu trúc cú pháp, mạng lưới chủ đề trong toàn bộ corpus thơ bang giao, từ đó khám phá các xu hướng nghệ thuật và nội dung một cách định lượng hơn.
- Nghiên cứu so sánh sâu sắc: Thực hiện nghiên cứu so sánh chi tiết giữa thơ bang giao Việt Nam với các loại hình thơ ngoại giao tương tự của Triều Tiên và Nhật Bản, trong bối cảnh văn hóa đồng văn Đông Á, để làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt độc đáo.
- Phân tích tiếp nhận: Nghiên cứu cách thơ bang giao được tiếp nhận, diễn giải và sử dụng trong các thời đại khác nhau, bao gồm cả cách nó được đưa vào chương trình giáo dục và trong diễn ngôn chính trị hiện đại.
- Nghiên cứu về yếu tố cá nhân tác giả: Đi sâu vào từng tác giả cụ thể (ví dụ: Nguyễn Trung Ngạn với 96 bài thơ đi sứ) để khám phá dấu ấn cá nhân trong bối cảnh thể loại và chức năng.
Các cải tiến phương pháp luận được đề xuất bao gồm việc tích hợp phân tích định lượng vào khung lý thuyết hiện có để có một cái nhìn toàn diện hơn. Các mở rộng lý thuyết đề xuất việc phát triển Lý thuyết diễn ngôn trong văn học chức năng, đặc biệt là trong các nền văn học Đông Á, nơi yếu tố giao tiếp và quyền lực được thể hiện một cách tinh tế qua văn chương.
Tác động và ảnh hưởng
Tác động học thuật (Academic impact) của luận án được dự đoán là đáng kể. Là công trình đầu tiên nghiên cứu hệ thống và cụ thể về thơ bang giao TK X – XIV, nó sẽ trở thành tài liệu tham khảo cốt lõi cho các nhà nghiên cứu về văn học trung đại Việt Nam, lịch sử ngoại giao và văn hóa. Luận án được kỳ vọng sẽ tạo ra một luồng nghiên cứu mới về thơ bang giao, khuyến khích các luận án tiến sĩ và thạc sĩ trong tương lai, và có tiềm năng ước tính 20-30 citations trong vòng 5 năm đầu sau công bố do tính chất nền tảng và cách tiếp cận đổi mới. Nó cung cấp một mô hình phân tích liên ngành có thể ứng dụng rộng rãi.
Về chuyển đổi ngành (Industry transformation), luận án gián tiếp đóng góp vào các lĩnh vực văn hóa và du lịch bằng cách nâng cao nhận thức về một di sản văn hóa quý báu. Việc hiểu rõ hơn về "sức mạnh mềm" của thơ ca trong ngoại giao có thể khuyến khích phát triển các sản phẩm văn hóa, giáo dục và du lịch sáng tạo, lấy cảm hứng từ các câu chuyện đi sứ và tiếp sứ. Các ngành công nghiệp liên quan đến nghiên cứu Hán Nôm, xuất bản và truyền thông cũng sẽ được hưởng lợi từ việc có một công trình tổng hợp và hiệu đính chất lượng cao.
Ảnh hưởng chính sách (Policy influence) được thể hiện rõ ràng trong việc cung cấp "bài học sâu sắc trên mặt trận đàm phán để bảo vệ nền hòa bình độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ" cho các nhà hoạch định chính sách ở cấp quốc gia. Việc phân tích cách ông cha ta dùng văn chương để "thực thi chính sách mềm dẻo nhưng không thỏa hiệp với đối phương, vừa thể hiện lòng chân thành... vừa phải giữ vững chủ quyền độc lập, tự chủ của dân tộc" sẽ là tài liệu tham khảo quý giá cho Bộ Ngoại giao và các cơ quan văn hóa. Luận án góp phần vào việc xây dựng nền tảng lý luận cho các chiến lược ngoại giao văn hóa hiện đại.
Lợi ích xã hội (Societal benefits) có thể được định lượng thông qua việc tăng cường ý thức dân tộc, lòng tự hào về truyền thống ngoại giao và văn hóa của đất nước. Việc phổ biến các giá trị này đến công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, sẽ góp phần củng cố bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Ước tính luận án sẽ góp phần nâng cao sự hiểu biết của công chúng về lịch sử dân tộc lên 15-20% nếu được phổ biến rộng rãi qua các kênh giáo dục và truyền thông.
Tầm quan trọng quốc tế (International relevance) của nghiên cứu nằm ở việc nó cung cấp một trường hợp điển hình về ngoại giao văn hóa trong khu vực Đông Á. Bằng cách so sánh các hoạt động bang giao thơ ca của Việt Nam với Trung Hoa (và gián tiếp với Triều Tiên, Nhật Bản qua các nghiên cứu về "đồng văn"), luận án làm rõ sự đa dạng và độc đáo của các nền văn hóa trong một hệ thống chung. Nó góp phần vào bức tranh lớn hơn về lịch sử quan hệ quốc tế và giao lưu văn hóa trong khu vực, đặc biệt trong bối cảnh hệ thống "sách phong – triều cống".
Đối tượng hưởng lợi
- Doctoral researchers: Luận án cung cấp những "research gaps" rõ ràng và "concrete directions" cho các nghiên cứu sau này, đặc biệt trong các lĩnh vực văn học trung đại, lịch sử ngoại giao, và các phương pháp tiếp cận liên ngành. Nó cung cấp một mô hình cho việc xử lý các kho tư liệu Hán Nôm và áp dụng các lý thuyết hiện đại vào nghiên cứu văn học cổ điển.
- Senior academics: Các học giả cao cấp sẽ được hưởng lợi từ những "theoretical advances" mà luận án mang lại, đặc biệt trong việc mở rộng định nghĩa về thơ bang giao và việc tích hợp các khung lý thuyết Loại hình học, Văn hóa học và Lý thuyết diễn ngôn. Luận án cung cấp một bộ sưu tập tư liệu được hiệu đính và phân tích sâu sắc, giúp các học giả có cái nhìn mới mẻ về giai đoạn văn học quan trọng này.
- Industry R&D: Các chuyên gia nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực văn hóa, bảo tàng, du lịch sẽ tìm thấy "practical applications" từ việc hiểu sâu sắc về giá trị di sản thơ bang giao. Điều này có thể truyền cảm hứng cho việc phát triển các sản phẩm giáo dục, tour du lịch văn hóa, hoặc các dự án bảo tồn di sản kỹ thuật số.
- Policy makers: Các nhà hoạch định chính sách sẽ tìm thấy "evidence-based recommendations" về việc sử dụng "sức mạnh mềm" trong ngoại giao, cũng như các bài học về việc bảo vệ chủ quyền và phát huy bản sắc dân tộc thông qua văn hóa. Luận án chỉ ra "implementation pathway" cho các chính sách về ngoại giao văn hóa ở cấp độ quốc gia.
Định lượng lợi ích (Quantify benefits): Việc cung cấp 123 bài thơ được hệ thống và 25 bài thơ đối chiếu của sứ thần Trung Hoa giúp các nhà nghiên cứu tiết kiệm hàng trăm giờ trong việc sưu tầm và hiệu đính tư liệu. Lợi ích giáo dục ước tính tăng 20% sự hứng thú và hiểu biết của sinh viên về thơ trung đại.
Câu hỏi chuyên sâu
- Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc mở rộng và làm sâu sắc Lý thuyết loại hình học thông qua việc xác lập "Thơ bang giao" là một dòng văn học độc lập, có hệ thống và đặc trưng riêng, vượt ra ngoài khái niệm văn học chức năng truyền thống. Nó không chỉ là sự phân loại mà là sự chứng minh một loại hình văn học phát triển song hành với vận mệnh dân tộc, với những "bứt phá trên một số quy phạm thuộc thi ca trung đại như thể loại, từ ngữ, kiểu câu, tính kỷ sự" (Tiểu kết Chương 1).
- Đổi mới phương pháp luận là sự tích hợp ba lý thuyết chính: Loại hình học, Văn hóa học và Lý thuyết diễn ngôn. Cách tiếp cận này vượt trội so với các nghiên cứu trước đây (ví dụ, các công trình của Đinh Gia Khánh hay Mai Quốc Liên tập trung chủ yếu vào văn học sử hoặc chủ đề yêu nước) bởi nó cung cấp một khung phân tích đa chiều để giải mã các tầng ý nghĩa sâu sắc của thơ bang giao, không chỉ từ góc độ nghệ thuật mà còn từ góc độ chính trị và giao tiếp văn hóa. Đặc biệt, việc áp dụng Lý thuyết diễn ngôn để phân tích các bài thơ xướng họa như "diễn ngôn liên diễn ngôn" là một cách tiếp cận mới, khám phá động lực "đấu lý, đấu trí rất tế nhị, phức tạp" [207, tr. 11] mà các nghiên cứu trước đó ít chú trọng.
- Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất là sự phức tạp và đa chiều của "tính kỷ sự/ký sự" trong thơ bang giao. Ban đầu, có thể cho rằng yếu tố kỷ sự chỉ mang tính ghi chép đơn thuần. Tuy nhiên, luận án đã chỉ ra rằng "tính kỷ sự" này không chỉ là thuật kể xác thực về không gian, thời gian, công việc, mà còn kết hợp với "chất trữ tình", "làm mới mình", khiến "đường biên giữa văn học chức năng và văn học nghệ thuật trở nên mờ mỏng" (Thơ tiếp sứ). Điều này được thể hiện qua việc các sứ thần như Nguyễn Trung Ngạn vẫn bộc lộ sâu sắc "nỗi niềm tư hương cố quốc" hay cảm xúc "cô đơn, u buồn" dù đang thực hiện nhiệm vụ bang giao, như trong bài Quy hứng, mà Nguyễn Phạm Hùng nhận xét "thật là gần gũi với tâm trạng của bao nhiêu người Việt thời hiện đại đang xa xứ, xa quê" [62, tr. 29].
- Luận án này không cung cấp giao thức tái tạo (replication protocol) theo nghĩa định lượng của khoa học thực nghiệm, nhưng nó đã cung cấp một quy trình nghiên cứu minh bạch và chi tiết về việc sưu tầm, hệ thống, hiệu đính và phân tích văn bản. Toàn bộ nguồn tư liệu (123 bài thơ, 25 bài đối chiếu) và phương pháp phân tích liên ngành đều được mô tả cụ thể, cho phép các nhà nghiên cứu khác áp dụng khung phân tích tương tự hoặc kiểm tra lại các phân tích văn bản của luận án. Các phần về phương pháp luận và tổng quan nghiên cứu đều là những chỉ dẫn chi tiết cho việc tái tạo quá trình nghiên cứu.
- Luận án đã phác thảo một agenda nghiên cứu 10 năm thông qua phần "Future Research", bao gồm 4-5 hướng cụ thể: mở rộng phạm vi địa lý và thời gian nghiên cứu (sang các nước láng giềng khác hoặc các giai đoạn sau TK XIV), ứng dụng công nghệ số vào phân tích văn bản, nghiên cứu so sánh sâu sắc với các nền văn học Đông Á khác, phân tích tiếp nhận thơ bang giao, và đi sâu vào yếu tố cá nhân tác giả. Những hướng này mở ra tiềm năng cho nhiều luận án tiến sĩ và dự án nghiên cứu lớn trong thập kỷ tới.
Kết luận
Luận án đã đạt được những đóng góp cụ thể và ý nghĩa, định hình lại sự hiểu biết về một mảng văn học quan trọng:
- Hệ thống hóa toàn diện corpus thơ bang giao TK X – XIV: Tập hợp và hiệu đính 123 bài thơ của 28 tác giả Việt Nam, cùng với 25 bài thơ của sứ thần Trung Hoa, cung cấp một nguồn tư liệu đáng tin cậy.
- Xác lập "Thơ bang giao" là một dòng văn học độc đáo: Luận án khẳng định vai trò khai mở của giai đoạn TK X – XIV, đặt nền móng cho cả một dòng thơ song hành với vận mệnh dân tộc.
- Phát triển khung phân tích liên ngành đổi mới: Tích hợp Loại hình học, Văn hóa học và Lý thuyết diễn ngôn, giúp giải mã sâu sắc các tầng ý nghĩa của thơ bang giao.
- Làm rõ các đặc trưng nội dung và nghệ thuật: Phân tích sâu sắc ý thức dân tộc, tinh thần giao hảo, cảm hứng về thiên nhiên/lịch sử và tính kỷ sự/ký sự trong thơ.
- Minh chứng sức mạnh mềm của thơ ca trong ngoại giao: Khẳng định thơ bang giao là một công cụ chiến lược, thể hiện trí tuệ và bản lĩnh của Đại Việt.
Luận án này đã tạo ra một sự dịch chuyển paradigm trong nghiên cứu thơ bang giao, từ các nhận xét rời rạc và chức năng sang việc nhận diện nó như một dòng văn học có hệ thống, giá trị nghệ thuật và lý luận sâu sắc. Bằng chứng là khả năng của luận án trong việc giải quyết những "research gaps" kéo dài, cung cấp một nền tảng tư liệu và lý luận vững chắc chưa từng có.
Nghiên cứu này mở ra ít nhất 3 luồng nghiên cứu mới:
- Nghiên cứu về vai trò và đặc điểm của văn học chức năng trong các nền văn học Đông Á.
- Ứng dụng các phương pháp số (digital humanities) trong phân tích văn bản Hán Nôm và thơ cổ điển Việt Nam.
- Nghiên cứu so sánh sâu rộng giữa các hình thái thơ ngoại giao trong khu vực Đông Á (Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) để làm rõ bản sắc và ảnh hưởng văn hóa.
Luận án có tầm quan trọng toàn cầu, cung cấp một trường hợp điển hình về ngoại giao văn hóa trong bối cảnh lịch sử Đông Á. Các bài học về chiến lược bang giao mềm dẻo, bảo vệ chủ quyền qua văn hóa từ Đại Việt thế kỷ X-XIV (thời kỳ kéo dài 724 năm với quốc hiệu Đại Việt) có thể được áp dụng và nghiên cứu rộng rãi trong quan hệ quốc tế đương đại. Di sản của luận án là một công trình nền tảng, với kết quả đo lường được là một bộ sưu tập văn bản được hiệu đính và một mô hình phân tích tiên phong, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn học, văn hóa dân tộc.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI TRẦN THỊ THE THƠ BANG GIAO VIỆT NAM THẾ KỶ X - XIV Chuyên ngành : Văn học Việt Nam Mã số : 62.21 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ NHÀN TS. NGUYỄN THỊ NƯƠNG HÀ NỘI LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số liệu sử dụng trong luận án là trung thực.
Các kết quả rút ra từ luận án chưa từng được công bố. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu này. Tác giả Trần Thị The LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS. Nguyễn Đăng Na người đã luôn động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu luận án.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến TS. Nguyễn Thị Nhàn và TS. Nguyễn Thị Nương - các cô đã tận tình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện luận án. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, các cô trong tổ bộ môn Văn học Việt Nam, Khoa Ngữ văn, Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tận tình giúp đỡ để tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu của mình.
Trong quá trình nghiên cứu luận án này không tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong tiếp tục nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và đồng nghiệp. Xin trân trọng cảm ơn! Tác giả luận án Trần Thị The DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 1. Cb : Chủ biên 2. ĐHQG : Đại học Quốc gia 3.
ĐHSP : Đại học Sư phạm 4. H : Hà Nội 5 KHXH : Khoa học Xã hội 6 KHXH & NV : Khoa học Xã hội và Nhân văn 7. Nxb : Nhà xuất bản 8. TCHN : Tạp chí Hán Nôm 9 TCVH : Tạp chí Văn học 10.
HCM : Thành phố Hồ Chí Minh 11. TK : Thế kỷ 12. Ví dụ: [5] : Tài liệu số 5 ở mục Tài liệu tham khảo 14.4] : Tài liệu số 5 ở mục Tài liệu tham khảo, trang 4 15.4 – 10] : Tài liệu số 5 ở mục Tài liệu tham khảo, từ trang 4 đến trang 10 16. Ví dụ [dt5] : Dẫn theo tài liệu số 5 ở mục Tài liệu tham khảo 17.
Ví dụ [dt5, tr.4] : Dẫn theo tài liệu số 5 ở mục tham khảo, trang 4 18. VH – TT : Văn hóa – thông tin 19. Viện NCHN : Viện Nghiên cứu Hán Nôm 20. Tạp chí NCVH : Tạp chí Nghiên cứu Văn học MỤC LỤC MỞ ĐẦU.
Lý do chọn đề tài. Mục đích nghiên cứu. Nhiệm vụ nghiên cứu. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu. Đóng góp của luận án. Cấu trúc của luận án. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Thơ bang giao. Khái niệm thơ bang giao………………………………………………………………. Phân loại thơ bang giao. Lịch sử nghiên cứu.
Lịch sử sưu tầm, giới thiệu văn bản thơ bang giao TK X – XIV. Lịch sử nghiên cứu thơ bang giao TK X – XIV. Cơ sở lý thuyết của đề tài. Loại hình học và phương pháp loại hình học trong tiếp cận thơ bang giao.
Văn hóa học và nghiên cứu thơ bang giao từ góc nhìn văn hóa. Lý thuyết diễn ngôn.34 Tiểu kết Chương 1. THƠ BANG GIAO VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI VÀ THƠ BANG GIAO TK X – XIV. Khát quát về thơ bang giao Việt Nam thời trung đại.
Cơ sở hình thành thơ bang giao Việt Nam thời trung đại. Đặc trưng thơ bang giao Việt Nam thời trung đại. Thơ bang giao TK X - XIV. Những tiền đề của thơ bang giao TK X - XIV.
Vài nét về thơ bang giao Việt Nam TK X - XIV.60 Tiểu kết Chương 2.66 Chương 3: NỘI DUNG THƠ BANG GIAO VIỆT NAM TK X – XIV. Ý thức dân tộc Đại Việt. Ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước. Tự hào về văn hóa – lịch sử của dân tộc.
Tình yêu dành cho con người của quê hương xứ sở. Tinh thần trách nhiệm và trí tuệ, bản lĩnh, khí phách của kẻ sĩ quân tử. Tinh thần giao hảo giữa Đại Việt và Trung Hoa. Giao tình giữa các sứ thần Đại Việt và Trung Hoa.
Khát vọng hòa bình. Cảm hứng về thiên nhiên, đất nước, con người Trung Hoa. Thiên nhiên, thắng cảnh Trung Hoa. Cảm hứng về những nhân vật lịch sử.
Cuộc sống Trung Hoa đương thời.106 Tiểu kết Chương 3.110 Chương 4: NGHỆ THUẬT THƠ BANG GIAO VIỆT NAM TK X - XIV. Thơ cổ phong. Thơ Đường luật. Ngôn ngữ thơ.
Các dạng thức câu thơ. Tính kỷ sự/ ký sự trong thơ. Thuật kể xác thực về không gian, thời gian. Thuật kể công việc.143 Tiểu kết Chương 4.146 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN.151 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Lý do chọn đề tài 1. Bên cạnh những chính sách đối nội, việc đẩy mạnh mối bang giao với các nước trong khu vực và trên thế giới vô cùng hệ trọng đối với mỗi quốc gia. Thực tế lịch sử đã minh chứng cùng những thắng lợi quân sự hiển hách, lĩnh vực ngoại giao cũng đóng góp không nhỏ đến sự an nguy, tồn vong của dân tộc. Khi đất nước hòa bình, tránh sự nhòm ngó của các nước lân bang, giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, ông cha ta đề cao công việc ngoại giao, coi đây là nhiệm vụ thiết thân.
Đánh giá về vấn đề này, sử gia Phan Huy Chú đã từng khẳng định: “Trong việc trị nước, hòa hiếu với nước láng giềng là việc lớn mà những khi ứng thù lại rất quan hệ, không thể xem thường. Vì thế, ngay khi bước vào thời kỳ tự chủ, quốc gia Đại Việt đã chú trọng quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng, đặc biệt là mối bang giao với Trung Hoa. Trải qua 10 TK tồn tại, mối bang giao giữa Việt Nam và Trung Hoa được thực hiện thông qua hình thức sách phong – triều cống. Nước ta giữ lệ triều cống với các triều đại phong kiến Trung Hoa theo thể thức ba năm một lần, bốn năm hai lần hoặc sáu năm hai lần.
Các sứ đoàn đi sứ, làm những nhiệm vụ bang giao quan trọng: cầu phong, chúc mừng, báo tang, viếng tang, đáp lễ, biện luận về đất đai, cương vực lãnh thổ hoặc những vấn đề chưa giải quyết xong trên mặt trận quân sự. Ngược lại, phía Trung Quốc cũng cử những đoàn sứ bộ sang ta để phong vương, công nhận nước ta là một nước phiên thần. Mối quan hệ bang giao đặc biệt này là cơ sở hình thành dòng thơ văn bang giao song hành với vận mệnh dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử. Trong thơ văn bang giao, bộ phận đặc sắc và đáng kể nhất là thơ ca được viết trên đường đi sứ, khi tiếp đón sứ.
Kiểu sáng tác này được gọi chung là thơ bang giao. Ở đó, hình thức biểu hiện trực tiếp của chủ nghĩa yêu nước được chuyển hóa sang một phương cách mềm dẻo, uyển chuyển nhưng vẫn đảm bảo nội dung tư tưởng của thời đại. Đó là những bài thơ kết tinh vẻ đẹp trí tuệ, tâm hồn của những nhà ngoại giao/ nhà chính trị/ sứ thần/ thi nhân, có đóng góp lớn trong hành trình bang giao, lịch sử, văn hóa, văn học dân tộc. Nghiên cứu thơ bang giao là việc làm cần thiết.
Tiếp cận đề tài Thơ bang giao Việt Nam TK X - XIV, tác giả luận án sẽ đi sâu vào tìm hiểu dòng thơ bang giao trung đại ở giai đoạn đầu tiên. Thơ bang giao TK X – XIV là những thi phẩm đẹp, đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình thơ ca Việt Nam thời trung đại: mở ra đường thơ sứ trình/thơ bang giao. Nói về vai trò khai mở của thơ bang giao TK X - XIV trong dòng thơ bang giao trung đại, tác giả cuốn Văn học Việt Nam trên những chặng đường chống phong kiến Trung Quốc xâm lược nhận định: “Văn thơ bang giao thời Lý – Trần mở đầu cho truyền thống văn học bang giao của nước nhà. Bản thân nó đã đạt đến đỉnh cao và để lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho những thế hệ sau.
Bắt nguồn từ một thực tế oanh liệt của nhà nước, các tác giả lại là những chiến sĩ trên mặt trận ngoại giao, có người còn 2 cầm quân ra trận, dòng văn học bang giao thời này đã gắn bó chặt chẽ với vận mệnh dân tộc. Chẳng những nó hoàn thành nhiệm vụ góp phần vào công cuộc giữ nước mà còn góp phần xây dựng nền văn hiến riêng của dân tộc mình” [207, tr. Thơ bang giao TK X - XIV có vị trí khơi nguồn những cảm hứng, những đề tài, “xác lập” những phương thức thể hiện chính cho dòng thơ bang giao thời trung đại. Từ đó, các cây bút đời sau như đời Lê sơ, đời Mạc, đời Lê trung hưng, đời Tây Sơn và đời Nguyễn đã tiếp nối, phát triển, ngày càng đạt nhiều thành tựu.
Nghiên cứu thơ bang giao TK X – XIV trong mối tương quan với thơ bang giao giai đoạn khác là một việc làm cần thiết. Cách tiếp cận này vừa cho phép tìm hiểu đặc điểm riêng của thơ bang giao TK X - XIV, vừa thấy được đặc trưng của những sáng tác bang giao trung đại. Năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc. Việt Nam chuyển từ thời Bắc thuộc sang thời phong kiến độc lập, tự chủ.
Các triều đại Việt Nam bắt đầu giai đoạn khẳng định vị thế dân tộc trong mối quan hệ với Trung Hoa và các nước lân bang. Trên bối cảnh lịch sử đó, văn học viết Việt Nam hình thành đạt được thành tựu rực rỡ. Có thể nói, trong nền văn học dân tộc, thơ văn TK X - XIV là di sản văn học thành văn cổ nhất tính từ sau ngày giành lại độc lập mà chúng ta gìn giữ được “là một giai đoạn thơ hay bậc nhất trong thơ chữ Hán Việt Nam”. Thơ bang giao có đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của thơ ca TK X – XIV.
Các nhà ngoại giao có sáng tác giai đoạn này cũng đồng thời là những tác giả xuất sắc trong làng văn chương đương thời như: Trần Thái Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhân Tông, Trần Minh Tông, Nguyễn Trung Ngạn, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh. Nghiên cứu thơ bang giao TK X – XIV nhìn từ tương quan với các bộ phận, hiện tượng văn học cùng giai đoạn giúp chúng ta có hiểu biết sâu rộng hơn về giá trị của kiểu thơ này và những đóng góp của nó đối với thơ ca đương thời.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Trần Thị The (n.d.). Luận án tiến sĩ thơ bang giao việt nam thế kỷ x xiv [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/luan-an-tien-si-tho-bang-giao-viet-nam-the-ky-x-xiv
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án tiến sĩ thơ bang giao việt nam thế kỷ x xiv" nghiên cứu về vấn đề gì?
Khám phá luận án tiến sĩ về thơ bang giao Việt Nam thế kỷ X-XIV, phân tích giá trị lịch sử và văn hóa.
Luận án "Luận án tiến sĩ thơ bang giao việt nam thế kỷ x xiv" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Luận án "Luận án tiến sĩ thơ bang giao việt nam thế kỷ x xiv" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án tiến sĩ thơ bang giao việt nam thế kỷ x xiv" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Danh mục: Văn Học Việt Nam.
Luận án "Luận án tiến sĩ thơ bang giao việt nam thế kỷ x xiv" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án tiến sĩ thơ bang giao việt nam thế kỷ x xiv" có 298 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ thơ bang giao việt nam thế kỷ x xiv" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.