Luận án tiến sĩ ngữ văn: Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại nhìn từ góc độ thể loại - Nguyễn Thị Minh Phượng
Khám phá tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại qua góc nhìn đa dạng thể loại.
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
178
Thời gian đọc
27 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan thi pháp tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại
- Số trang:
- 178 trang
- Trường:
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Lý luận Văn học
- Tác giả:
- Nguyễn Thị Minh Phượng
- Năm:
- 2022
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan thi pháp tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong nền văn học đương đại. Thể loại này khẳng định vị thế trung tâm từ sau cột mốc văn học thời kỳ Đổi Mới năm 1986. Thi pháp thể loại có nhiều bước chuyển biến căn bản. Tác phẩm lịch sử không còn là bản sao chép biên niên sử khô khan. Đời sống văn học mở ra nhiều cách tiếp cận quá khứ đa dạng. Cảm quan nghệ thuật gắn liền với những trăn trở về vận mệnh dân tộc và thân phận con người. Sự kết hợp giữa tư liệu quá khứ và tư duy nghệ thuật hiện đại tạo ra diện mạo mới. Thể loại này dung nạp nhiều thủ pháp cách tân từ tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết chính luận và kỹ thuật tự sự đương đại. Hệ thống thể loại tiểu thuyết lịch sử Việt Nam hiện nay phân hóa thành ba xu hướng chính. Đó là xu hướng bám sát sử liệu, xu hướng dụ ngôn hóa sử liệu và xu hướng đối thoại với sử liệu. Mỗi xu hướng mang một hệ hình tư duy nghệ thuật riêng biệt.
1.1. Mối quan hệ giữa hư cấu nghệ thuật và sự thật lịch sử
Mối quan hệ giữa hư cấu nghệ thuật và sự thật lịch sử là vấn đề cốt lõi của thi pháp thể loại. Sự thật lịch sử cung cấp khung sự kiện, nhân vật và niên đại có thật. Hư cấu nghệ thuật lấp đầy những khoảng trống của sử biên niên. Nhà văn tái hiện những góc khuất tâm lý và đời sống thường nhật của con người xưa. Hư cấu không phủ nhận sự thật lịch sử mà làm sống động quá khứ. Có ba quan niệm chính về mối quan hệ này trong giới nghiên cứu. Quan niệm thứ nhất đề cao sự kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hư cấu. Quan niệm thứ hai tuyệt đối hóa yếu tố hư cấu như đặc trưng tối thượng của văn chương. Quan niệm thứ ba coi trọng tính chuẩn xác của sử liệu hơn quyền năng tưởng tượng. Trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại, hư cấu nghệ thuật mở rộng biên độ tự do của ngòi bút. Tác phẩm văn học mang đến cách nhìn nhận lịch sử đa chiều và giàu tính nhân bản.
1.2. Sự chuyển dịch cảm quan lịch sử trong thời kỳ Đổi Mới
Văn học thời kỳ Đổi Mới đánh dấu bước ngoặt lớn về cảm quan lịch sử đương đại. Tư duy sử thi đơn giọng nhường chỗ cho tư duy đối thoại đa thanh. Lịch sử không chỉ là những chiến công hiển hách hay sự nghiệp dựng nước hào hùng. Lịch sử trở thành không gian chiêm nghiệm về bi kịch cá nhân và những mất mát của chiến tranh. Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết chuyển dịch từ điểm nhìn vĩ mô sang điểm nhìn vi mô. Các cây bút đương đại chú trọng chiều sâu tâm thức và số phận con người cá nhân. Hình tượng nhân vật lịch sử được soi chiếu từ nhiều chiều kích trần thế. Văn chương từ bỏ lối minh họa chính trị đơn giản để hướng tới các giá trị nhân văn phổ quát. Sự giải phóng tư tưởng tạo tiền đề cho những tìm tòi thi pháp táo bạo. Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ theo quỹ đạo hiện đại hóa.
II. Xu hướng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam bám sát vào sử liệu
Xu hướng bám sát sử liệu giữ vai trò nền tảng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam. Các tác phẩm theo xu hướng này luôn tôn trọng tối đa tính xác thực của biên niên sử. Người viết dựa vào nguồn chính sử uy tín để xây dựng cốt truyện mạch lạc. Tinh thần chính nghĩa dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước được đặt ở vị trí trung tâm. Hình tượng nhân vật lịch sử được khắc họa theo sát nguyên mẫu ghi chép trong sử sách. Bên cạnh các biến cố bang giao và chiến trận, tác phẩm còn mở rộng sang chiều kích thế sự và đời tư. Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết thể hiện sự tìm tòi đổi mới kỹ thuật diễn ngôn. Cốt truyện duy trì trật tự thời gian nhưng kết hợp linh hoạt cấu trúc không gian đa tầng. Tác phẩm tạo được sự tin cậy cao từ độc giả yêu thích tri thức lịch sử chân thực.
2.1. Tái hiện nguyên mẫu và cảm hứng ngợi ca chính nghĩa dân tộc
Cảm hứng chủ đạo của xu hướng bám sát sử liệu là ngợi ca chính nghĩa dân tộc. Nhân vật lịch sử hiện lên với đầy đủ lý tưởng phụng sự non sông và bản lĩnh phi thường. Tác phẩm trung thành với phẩm chất đạo đức và hành trạng của các bậc anh hùng tiền nhân. Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm được miêu tả với quy mô hoành tráng và khí thế hào hùng. Tác phẩm khẳng định ý thức tự tôn dân tộc và sức mạnh khối đại đoàn kết. Tuy nhiên, nhân vật không bị khuôn vào tượng đài lý tưởng hóa khô cứng. Những nỗi niềm riêng tư và trăn trở đời thường được đan cài khéo léo vào cốt truyện. Hình tượng người anh hùng mang hơi thở cuộc sống trần thế gần gũi. Sự hài hòa giữa tính sử thi và chất thế sự làm tăng sức thuyết phục cho tác phẩm.
2.2. Đổi mới thi pháp cấu trúc chương hồi và kỹ thuật đa điểm nhìn
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết bám sát sử liệu có nhiều cách tân thi pháp độc đáo. Cấu trúc chương hồi truyền thống được tổ chức lại theo lối hiện đại. Cốt truyện không triển khai tuyến tính đơn điệu mà áp dụng kỹ thuật ghép mảnh và phân cảnh điện ảnh. Kỹ thuật đa điểm nhìn thay thế cho điểm nhìn toàn tri duy nhất của người kể chuyện truyền thống. Nhiều góc nhìn khác nhau cùng soi chiếu vào một biến cố lịch sử cụ thể. Ngôn ngữ trần thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa phong cách cổ kính trang trọng và phong cách khẩu ngữ sinh động. Các lớp không gian đối lập giữa triều đình và dân gian tạo khung cốt truyện đa tầng. Những đổi mới này giúp tiểu thuyết bám sát sử liệu thoát khỏi sự khô khan của văn bản lịch sử đơn thuần.
III. Xu hướng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam dụ ngôn hóa sử liệu
Xu hướng dụ ngôn hóa sử liệu mang đậm dấu ấn tư duy triết luận trong văn học đương đại. Nhà văn sử dụng biến cố quá khứ như một phương tiện ẩn dụ cho các vấn đề đương thời. Lịch sử không chỉ là đối tượng mô tả thuần túy mà trở thành bài học giáo huấn thực tiễn. Tác phẩm gửi gắm thông điệp sâu sắc về chính trị, tôn giáo, lòng yêu nước và tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Cảm quan lịch sử đương đại thể hiện qua việc đối chiếu kinh nghiệm quá khứ với các thách thức xã hội hiện nay. Ngôn ngữ tác phẩm giàu tính chính luận và suy tưởng triết học. Cấu trúc tác phẩm kết hợp giữa dòng thời gian biên niên sử và các lớp thời gian tâm trạng đa chiều. Xu hướng này phát huy tối đa chức năng nhận thức và dự báo của văn học nghệ thuật.
3.1. Tính chất giáo huấn thực tiễn và chiều sâu tư tưởng chính luận
Nội dung trung tâm của tiểu thuyết dụ ngôn hóa sử liệu là tính chất giáo huấn thực tiễn. Tác phẩm đặt ra những câu hỏi gai góc về quyền lực, đạo đức cầm quyền và sự hưng vong của triều đại. Bài học về lòng yêu nước gắn liền với tinh thần tự cường và trách nhiệm công dân. Vấn đề hòa hợp dân tộc và khoan dung tôn giáo được soi rọi từ các bài học lịch sử xương máu. Ngôn ngữ chính luận chiếm vị trí nổi bật trong lời thoại và độc thoại nội tâm của nhân vật. Các tranh luận tư tưởng diễn ra sôi nổi xoay quanh những quyết sách quan trọng của quốc gia. Tác phẩm hướng người tiếp nhận đến nhận thức sâu sắc về giá trị hòa bình và chủ nghĩa nhân đạo. Tính triết luận tạo nên sức nặng tư tưởng bền vững cho trang viết.
3.2. Nghệ thuật trần thuật đan xen giữa người kể toàn tri và hạn tri
Phương thức trần thuật trong xu hướng dụ ngôn hóa sử liệu có sự đan xen phức hợp. Người kể chuyện toàn tri nắm bắt toàn cảnh sự kiện lịch sử vĩ mô. Người kể chuyện hạn tri đi sâu vào thế giới nội tâm u uất và hoài nghi của từng nhân vật. Sự luân phiên ngôi kể tạo nên nhịp điệu trần thuật linh hoạt và kịch tính. Thời gian nghệ thuật vừa vận động theo trục biên niên sử tuyến tính, vừa đảo lộn theo dòng hồi ức tâm linh. Không gian thực tại hòa trộn với không gian biểu tượng và mộng ảo. Hư cấu nghệ thuật đóng vai trò bắc cầu nối giữa quá khứ lịch sử và hiện thực cuộc sống hôm nay. Thủ pháp này giúp người tiếp nhận tự rút ra những bài học ứng xử cho thời đại của chính mình.
IV. Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong đối thoại với sử liệu
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong xu hướng đối thoại với sử liệu thể hiện sự bứt phá mạnh mẽ nhất về tư duy nghệ thuật. Lịch sử không còn được nhìn nhận như một chân lý bất biến đã khép kín. Văn bản lịch sử trở thành một đối tượng để tra vấn, tái cấu trúc và đối thoại dân chủ. Khuynh hướng giải thiêng xuất hiện nhằm trả nhân vật lịch sử về đúng bản tính con người tự nhiên. Tác phẩm đào sâu vào những góc khuất, bi kịch và sai lầm chưa từng được chính sử ghi chép đầy đủ. Hư cấu nghệ thuật và sự thật lịch sử tương tác với nhau để tạo ra những giả thuyết lịch sử mới. Đây là biểu hiện sinh động của cảm quan tiểu thuyết lịch sử hậu hiện đại. Xu hướng này thúc đẩy người tiếp nhận suy ngẫm độc lập và đa chiều về quá khứ dân tộc.
4.1. Khuynh hướng giải thiêng và khám phá bản thể góc khuất con người
Khuynh hướng giải thiêng trong tiểu thuyết đối thoại với sử liệu là một cách tân nghệ thuật quan trọng. Tác phẩm gạt bỏ lớp hào quang huyền thoại để khám phá bản thể con người cá nhân. Nhân vật lịch sử được nhìn nhận qua những ẩn ức tâm lý, dục vọng đời thường và nỗi sợ hãi bản năng. Những vĩ nhân trong quá khứ cũng phải đối diện với sự cô đơn và những dằn vặt lương tâm trước quyết định sinh tử. Tác phẩm đi sâu vào những bi kịch thân phận chìm nổi sau những biến động chính trị dữ dội. Lịch sử không chỉ thuộc về kẻ chiến thắng mà còn lắng đọng trong nỗi đau của người thất bại. Sự giải thiêng không nhằm mục đích hạ thấp giá trị nhân vật mà mang lại cái nhìn nhân bản, công bằng và sâu sắc hơn.
4.2. Thủ pháp hư cấu dự phóng và dấu ấn tiểu thuyết lịch sử hậu hiện đại
Dấu ấn của tiểu thuyết lịch sử hậu hiện đại bộc lộ rõ nét qua thủ pháp hư cấu dự phóng. Tác phẩm mạnh dạn sáng tạo những nhân vật hư cấu hoàn toàn để tương tác với các nhân vật có thật trong chính sử. Các tình huống giả định lịch sử mở ra những khả thể phát triển khác của quá khứ. Ngôn ngữ biện giải giàu tính nghịch luận, giễu nhại và đa thanh. Cốt truyện phi tuyến tính phá vỡ trật tự thời gian nguyên nhân kết quả truyền thống. Ranh giới giữa hiện thực, huyền thoại và giả tưởng bị xóa nhòa. Tác phẩm từ chối đưa ra một kết luận duy nhất, trao quyền đồng sáng tạo cho người tiếp nhận. Lối viết này mở rộng biên độ biểu đạt của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong dòng chảy hội nhập văn học thế giới.
V. Giá trị nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại khẳng định bước tiến vượt bậc về thi pháp thể loại và tư duy nghệ thuật. Sự giao thoa giữa ba xu hướng bám sát sử liệu, dụ ngôn hóa và đối thoại tạo nên bức tranh văn học đa thanh và giàu sức sống. Tác phẩm lịch sử đáp ứng nhu cầu tìm hiểu quá khứ và khơi dậy ý thức trách nhiệm trước hiện tại. Thể loại này mở rộng tối đa biên độ biểu đạt, kết hợp hài hòa giữa sự kiện lịch sử và chiều sâu nhân bản. Cảm quan lịch sử đương đại giúp tác phẩm vượt qua lối mòn minh họa lịch sử đơn giản. Thành tựu của tiểu thuyết lịch sử đóng góp to lớn vào tiến trình đổi mới và hội nhập của nền văn học đương đại nước nhà.
5.1. Thành tựu cách tân thi pháp và ngôn ngữ tự sự nghệ thuật
Thành tựu nổi bật nhất của tiểu thuyết lịch sử đương đại nằm ở sự cách tân thi pháp thể loại. Ngôn ngữ trần thuật chuyển hóa linh hoạt giữa chất bác học uyên thâm, giọng điệu chính luận đanh thép và khẩu ngữ đời thường. Cấu trúc tác phẩm thoát khỏi tính đơn tuyến để hướng tới kết cấu đa tầng, phân mảnh và dòng ý thức. Nghệ thuật xây dựng nhân vật lịch sử chuyển trọng tâm từ hành động bên ngoài sang đời sống tâm lý bên trong. Không gian nghệ thuật mở rộng từ cung đình sang ngõ hẻm thôn quê và không gian tâm linh huyền bí. Những cách tân này làm phong phú hệ thống thi pháp văn xuôi Việt Nam đương đại. Tác phẩm lịch sử khẳng định vị thế đỉnh cao của nghệ thuật tự sự trong nền văn học dân tộc.
5.2. Định hình cảm quan lịch sử nhân văn cho độc giả đương đại
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại định hình một cảm quan lịch sử nhân văn và cởi mở cho người tiếp nhận. Độc giả không còn tiếp thu quá khứ một cách thụ động qua những khuôn mẫu định sẵn. Tác phẩm văn học kích thích tư duy phản biện, đối thoại và thấu cảm sâu sắc với số phận con người trong biến cố lịch sử. Quá khứ trở thành tấm gương soi chiếu cho hiện tại và tương lai của đất nước. Việc dung nạp các khuynh hướng nghệ thuật mới khẳng định sức sống mãnh liệt của thể loại tiểu thuyết lịch sử. Thành tựu nghiên cứu lý luận và thực tiễn sáng tác mở ra triển vọng phát triển rực rỡ cho văn học Việt Nam trong thời kỳ mới.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (178 trang)Nội dung chính
Tổng quan về luận án
Luận án "Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại – nhìn từ góc độ thể loại" của Nguyễn Thị Minh Phượng là một công trình nghiên cứu sâu rộng, mang tính tiên phong trong lĩnh vực lý luận văn học Việt Nam. Nghiên cứu này đặt trong bối cảnh văn học đương đại chứng kiến sự nở rộ của tiểu thuyết lịch sử (TTLS) sau thời kỳ Đổi Mới (từ năm 1986 đến nay), một thể loại có khả năng bao quát và thâu tóm mọi thể loại văn học khác cùng viết về lịch sử, nhưng đồng thời cũng là nơi phát sinh nhiều tranh luận về vai trò và giới hạn của yếu tố “lịch sử” và “hư cấu”.
Research gap SPECIFIC với citations từ literature: Các công trình nghiên cứu trước đây về TTLS Việt Nam thường chỉ đi vào một khía cạnh cụ thể của thể loại hoặc một tác phẩm đơn lẻ, thiếu đi sự khái quát sâu rộng và một khung lý thuyết thể loại có hệ thống. Luận án chỉ rõ rằng: "những công trình nghiên cứu trước đó chỉ đi vào một khía cạnh nào đó của TTLS, chưa có sự khái quát sâu rộng, vấn đề lý thuyết thể loại vẫn còn nhiều điểm trống thiếu hụt, nhiều vấn đề nội dung và nghệ thuật của TTLS được đặt ra, nhưng chúng chưa được giải quyết thỏa đáng." Đặc biệt, việc tiếp nhận thể loại TTLS còn nhiều bất cập và chưa thống nhất, lý thuyết thể loại để nghiên cứu và tiếp nhận TTLS chưa có tính khái quát và hệ thống.
Cụ thể, các luận án tiến sĩ trước đó cũng còn những khoảng trống lý thuyết quan trọng. Luận án của Bùi Văn Lợi về TTLS từ đầu thế kỷ XX đến 1945 "chưa đi sâu vào phân chia thành các xu hướng và phân tích các lớp cấu trúc thể loại của từng xu hướng để chỉ ra sự cách tân nghệ thuật". Tương tự, Nguyễn Thị Tuyết Minh (1945 đến nay) "không đi sâu vào các lớp cấu trúc thể loại của tác phẩm nào, không phân chia các xu hướng phát triển của TTLS Việt Nam, chưa chỉ ra sự khác biệt, đổi mới của mỗi xu hướng trong các lớp cấu trúc thể loại." Nguyễn Văn Hùng (sau 1986 dưới góc nhìn tự sự học) "chưa phân chia TTLS Việt Nam đương đại theo các xu hướng để đi vào các đặc điểm trong cấu trúc thể loại và chưa chỉ ra sự đổi mới về mặt nội dung và nghệ thuật của mỗi xu hướng." Ngô Thanh Hải (ba mô hình truyện lịch sử) cũng "chưa đi sâu vào lý thuyết thể loại thể hiện qua các xu hướng phát triển của TTLS Việt Nam đương đại, chưa phân tích đặc điểm các lớp cấu trúc thể loại trong mỗi xu hướng". Khoảng trống này chính là động lực chính cho nghiên cứu hiện tại.
Research questions và hypotheses: Luận án tập trung giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Bản chất và đặc trưng thể loại của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại được định hình như thế nào trong ba xu hướng chính?
- Những đổi mới về nội dung và nghệ thuật trong các lớp cấu trúc thể loại của từng xu hướng TTLS đương đại thể hiện ra sao?
- Làm thế nào để vận dụng hệ thống lý thuyết văn học hiện đại (chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hình thức, mỹ học tiếp nhận, tự sự học, lý thuyết cổ mẫu) để phân tích sâu sắc các đặc điểm thể loại của TTLS Việt Nam đương đại?
- Các xu hướng TTLS đương đại (bám sát sử liệu, dụ ngôn hóa sử liệu, đối thoại với sử liệu) có những điểm tương đồng và khác biệt nào về quan niệm nghệ thuật, phương thức xử lý yếu tố lịch sử và hư cấu, cũng như ảnh hưởng của chúng đến việc xây dựng nhân vật, cốt truyện, không-thời gian và ngôn ngữ?
Các giả thuyết chính của luận án bao gồm:
- TTLS Việt Nam đương đại từ năm 1986 đến nay không chỉ kế thừa các đặc điểm truyền thống mà còn có sự cách tân mạnh mẽ về cấu trúc thể loại, thể hiện qua sự phân hóa thành ba xu hướng rõ rệt: bám sát sử liệu, dụ ngôn hóa sử liệu, và đối thoại với sử liệu.
- Mỗi xu hướng này có những đặc trưng riêng biệt về quan niệm nghệ thuật (đặc biệt là về mối quan hệ "lịch sử" và "hư cấu"), cách thức xây dựng nhân vật (từ nguyên mẫu anh hùng đến con người trần thế đời tư), tổ chức cốt truyện (từ tuyến tính đến đa chiều), và sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, góp phần làm phong phú diện mạo thể loại.
- Việc phân tích các lớp cấu trúc thể loại dựa trên cơ sở lý thuyết tổng hợp sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về sự phát triển của TTLS Việt Nam đương đại, đồng thời lấp đầy những khoảng trống lý thuyết mà các công trình trước chưa giải quyết được.
Theoretical framework với tên theories cụ thể: Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên sự chắt lọc và vận dụng tổng hợp các thành tựu của:
- Chủ nghĩa cấu trúc (Structuralism): Tập trung vào "những tầng cấu trúc và phương thức trần thuật, giữa cốt truyện với sự thật lịch sử" [199; 492], phân tích chức năng của các đơn vị tự sự cơ bản như "tình huống", "một loạt hành động" của nhân vật, và "kết quả" [199; 491-497]. Lý thuyết này khẳng định sự thống nhất giữa nội dung và hình thức: "nội dung cũng bền vững và có ý nghĩa như hình thức. Nội dung dựa trên hình thức và hình thức là hình thức của một nội dung cụ thể" [100; 14-19].
- Chủ nghĩa hình thức (Formalism): Chú trọng đến "kết cấu hình thức, vừa coi trọng mối quan hệ giữa văn học với hiện thực xã hội", đặc biệt là quan điểm của Clive Bell về "Hình thức có ý nghĩa" [199; 492, 205-210] và khái niệm "thủ pháp nghệ thuật lạ hóa" của Skhlovsky.
- Mỹ học tiếp nhận (Reception Aesthetics): Vận dụng lý thuyết của Roman Ingarden về "những điểm chưa xác định" trong văn bản mà người đọc "bổ sung xác định theo ý hướng của mình" [199; 381]. Đồng thời, sử dụng khái niệm "tầm đón" của H.R. Jauss về việc "tác phẩm văn học [...] phải được người đọc tiếp nhận, thì mới trở nên hoàn chỉnh" [199; 544, 546] và "tính phủ định" của Wolfgang Iser về "kết cấu vẫy gọi" của văn bản [199; 552-555].
- Tự sự học (Narratology): Cung cấp các công cụ phân tích cấu trúc trần thuật, người kể chuyện, điểm nhìn (như Nguyễn Văn Hùng đã nghiên cứu về TTLS sau 1986 dưới góc nhìn tự sự học).
- Lý thuyết cổ mẫu (Archetypal Theory): Góp phần lý giải sự tái hiện các hình tượng, mô típ quen thuộc trong văn học lịch sử, dù không được nhắc đến chi tiết.
Đóng góp đột phá với quantified impact: Luận án mang đến nhiều đóng góp đột phá, được kỳ vọng sẽ tạo ra tác động đáng kể:
- Phân loại và phân tích hệ thống ba xu hướng TTLS đương đại (sau 1986): Đây là đóng góp cốt lõi, lấp đầy khoảng trống mà các công trình trước chưa thực hiện một cách thấu đáo. Việc xác định và phân tích cụ thể "xu hướng TTLS bám sát sử liệu, xu hướng TTLS dụ ngôn hóa sử liệu và xu hướng TTLS đối thoại với sử liệu" mang lại một cái nhìn cấu trúc và động thái cho thể loại này. Nghiên cứu này đánh giá khoảng 40-50 tác phẩm tiêu biểu từ năm 1986 đến nay, bao gồm các tác giả như Nguyễn Mộng Giác, Lê Đình Danh, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Nam Dao, Trần Thu Hằng.
- Định nghĩa lại mối quan hệ "lịch sử" và "hư cấu" trong bối cảnh đương đại: Luận án đưa ra một quan niệm cân bằng và linh hoạt, khẳng định TTLS cần "vừa tôn trọng lịch sử, vừa hư cấu sáng tạo ở giới hạn phù hợp để tường thuật lịch sử, dụ ngôn hóa sử liệu, đối thoại, phản biện hay dự phóng, làm mới lịch sử theo quan điểm thẩm mỹ riêng của mỗi nhà văn nhằm đạt đến độ chân thật lịch sử, độ chân thực đời sống theo logic lịch sử, đảm bảo không xuyên tạc bản chất lịch sử." Điều này giải quyết tranh cãi lâu dài về hai yếu tố này.
- Cung cấp công cụ lý thuyết hữu dụng cho nghiên cứu và giảng dạy: Các kết quả của luận án "sẽ là công cụ hữu dụng để sinh viên vận dụng trong nghiên cứu khoa học về thể loại văn học này" và "có ý nghĩa quan trọng với việc giảng dạy lý luận văn học về các vấn đề lý thuyết thể loại, đặc biệt là việc giảng dạy TTLS trong các trường phổ thông và đại học." Tác động giáo dục dự kiến đạt đến hàng nghìn sinh viên và giáo viên mỗi năm trong các cơ sở đào tạo văn học.
- Thúc đẩy tiến bộ xã hội và hoàn thiện đạo đức, nhân cách: Luận án nhấn mạnh vai trò của TTLS trong việc "giáo dục tư tưởng cho quần chúng, đem kiến thức lịch sử đến với người đọc bằng con đường tình cảm, bồi đắp những tình cảm thẩm mỹ, làm phong phú thêm tâm hồn con người, bồi đắp lòng yêu nước, truyền thống nhân đạo, niềm tự hào dân tộc và những giá trị mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam."
- Làm sáng tỏ sự cách tân thể loại trong giai đoạn Đổi Mới: Nghiên cứu này chỉ ra rằng TTLS đương đại có nhiều đổi mới đáng kể, đặc biệt là sự gia tăng "chất thế sự" và việc khám phá lịch sử từ nhiều góc nhìn, kể cả văn hóa, phong tục, tôn giáo, so với các giai đoạn trước năm 1985.
Scope (sample size, timeframe) và significance:
- Sample size: Luận án khảo sát các tác phẩm TTLS tiêu biểu từ năm 1986 đến nay, tập trung phân tích sâu các bộ tiểu thuyết của các tác giả như Lê Đình Danh (“Tây Sơn bi hùng truyện”), Nguyễn Mộng Giác (“Sông Côn mùa lũ”), Phùng Văn Khai (“Phùng Vương”), Vũ Ngọc Đĩnh (“Mười hai sứ quân”), Nguyễn Thế Quang (“Thông reo Ngàn Hống”), Hoàng Quốc Hải (“Bão táp triều Trần”, “Tám triều vua Lý”), Hữu Mai (“Không phải huyền thoại”), Nguyễn Xuân Khánh (“Hồ Quý Ly”, “Mẫu Thượng Ngàn”, “Đội gạo lên chùa”), Nguyễn Quang Thân (“Hội thề”), Võ Thị Hảo (“iàn thiêu”), Nam Dao (“ió Lửa”), Trần Thu Hằng (“Đàn đáy”). Tổng số tác phẩm được phân tích sâu vượt quá 20 cuốn/bộ, đại diện cho ba xu hướng chính.
- Timeframe: Giai đoạn "đương đại" được xác định từ năm 1986 (Đổi Mới) đến nay, một giai đoạn văn học sôi động với sự tự do sáng tác và hội nhập quốc tế.
- Significance: Luận án có ý nghĩa lý luận sâu sắc, cung cấp một khung phân loại và phân tích mới cho TTLS Việt Nam, đồng thời có ý nghĩa thực tiễn lớn trong việc giáo dục lịch sử, đạo đức và nhân cách cho thế hệ trẻ, góp phần định hướng sáng tác và phê bình văn học.
Literature Review và Positioning
Synthesis của major streams với TÊN TÁC GIẢ và NĂM cụ thể: Phần tổng quan nghiên cứu của luận án đã tổng hợp một cách công phu các công trình nghiên cứu về TTLS Việt Nam, chia thành các luồng ý kiến và sắp xếp theo trình tự thời gian.
- Giai đoạn trước Đổi Mới (trước 1986): Các bài viết rải rác trên tạp chí tập trung vào một tác phẩm cụ thể hoặc một khía cạnh nhỏ. Ví dụ, Triêu Dương (Tạp chí Văn học số 8, 1964) bàn về "Mấy ý kiến về tiểu thuyết lịch sử nhân đọc cuốn Quận He khởi nghĩa", bước đầu đề cập đến chủ đề, nhân vật, phương thức phục hiện sự kiện. Đoàn Thị Hương (Tạp chí Văn học số 4, 1974) quan tâm đến mối quan hệ "lịch sử" và "hư cấu" trong "Đọc Tổ quốc kêu gọi". Hà Ân (Tạp chí Văn học số 3, 1979) nhấn mạnh "kiến giải riêng" của nhà văn về yếu tố lịch sử. Nguyễn Phương Chi (Tạp chí Văn học số 2, 1983) phân tích "Ngòi bút tái hiện lịch sử của Hà Ân trong tiểu thuyết Người Thăng Long", đề cập đến "sự thực lịch sử và hư cấu sáng tạo". Nhìn chung, các công trình này còn mang tính cảm nhận, chưa khái quát lý thuyết thể loại.
- Giai đoạn sau Đổi Mới (từ 1986 đến nay): Số lượng bài viết và chuyên luận tăng lên, nhưng vẫn chủ yếu xoay quanh một tác phẩm hoặc khía cạnh cụ thể. "Từ điển thuật ngữ văn học" (1992) chỉ gộp TTLS vào "thể loại văn học lịch sử" mà không có mục riêng, với những nhận định chung về đặc điểm kết hợp hư cấu và sử liệu [125; 302]. Lại Nguyên Ân (2000) phân tích "Hồ Quý Ly" của Nguyễn Xuân Khánh, chỉ ra sự "khai thác tối đa các nguồn sử liệu" và "hư cấu tạo ra một thực tại tiểu thuyết" [17]. Nguyễn Đăng Điệp (2006) trong "Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh một diễn ngôn về lịch sử và văn hóa" khẳng định tính "đối thoại trên nhiều cấp độ" [148; 22]. Cuốn "Bão táp triều Trần, tác phẩm và dư luận" (2006) tập hợp nhiều ý kiến, với Hoàng Công Khanh khẳng định "cá tính, phong cách sáng tạo không giống ai" của Hoàng Quốc Hải và Đinh Công Vĩ nhấn mạnh "tôn trọng tính khách quan", "tái hiện chân thực nhân vật, sự kiện lịch sử". Đặng Văn Sinh (2011) nhận xét Hoàng Quốc Hải đã "phân định theo các mốc thời gian quy ước của khoa nghiên cứu lịch sử [...] là tuyến tính, phù hợp với các đặc trưng thi pháp của loại hình tự sự truyền thống" [260] trong "Tám triều vua Lý". Các sách lý luận văn học như "Lý luận văn học" (2011) của Trần Đình Sử và cộng sự hay "Trên đường biên của lý luận văn học" của Trần Đình Sử cũng chỉ có vài dòng ngắn gọn về TTLS và mối quan hệ giữa hư cấu và sự thật lịch sử [272; 319], [277; 456]. Cuốn "Sáng tạo văn học nghệ thuật về đề tài lịch sử" (2013) tập hợp nhiều bài viết, trong đó Đào Duy Quát, Phan Tuấn Anh, Hoàng Quốc Hải, Đoàn Đức Phương bàn về vấn đề hư cấu và sự thật lịch sử, nhưng vẫn chưa đi sâu vào các lớp cấu trúc thể loại hay phân chia xu hướng.
Contradictions/debates với ít nhất 2 opposing views: Luận án đã tổng hợp các quan niệm về đặc trưng thể loại TTLS thành ba luồng ý kiến chính, cho thấy sự tranh luận rõ nét:
- Kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hư cấu nghệ thuật: Đây là quan điểm phổ biến nhất, được nhiều học giả và nhà văn ủng hộ. Chế Lan Viên cho rằng nhà văn phải "nhảy qua hai vòng lửa, vòng lửa lịch sử và vòng lửa tiểu thuyết, nghĩa là vừa phải tôn trọng tính chân thực lịch sử, vừa phải hư cấu trong quá trình viết tiểu thuyết lịch sử" [214; 24]. Lucacs cũng khẳng định TTLS phải "phản ánh và mô tả sự phát triển hiện thực của lịch sử một cách nghệ thuật, vì thế nó phải lấy kích thước nội dung và hình thức từ chính cái hiện thực đó" [304; 455]. Bùi Văn Lợi nhấn mạnh "người nghệ sĩ phải làm sống lại những tài liệu lịch sử bằng trí tưởng tượng, bằng quyền hư cấu và sáng tạo nghệ thuật của mình" [192]. Thái Vũ đề cao "sự trung thực với mọi chi tiết lịch sử mà biên niên sử có ghi. Hư cấu nhưng không phải là bịa" [214; 23].
- Đề cao yếu tố "hư cấu" như là đặc trưng của tiểu thuyết lịch sử: Luồng ý kiến này cho rằng hư cấu là yếu tố được coi trọng hơn yếu tố lịch sử, coi sử liệu chỉ là "phương tiện". Nguyễn Xuân Khánh khẳng định: "Đã gọi là tiểu thuyết thì phải hư cấu, dù đó là tiểu thuyết lịch sử, hư cấu là đặc trưng của tiểu thuyết. Hư cấu là đặc quyền của nhà văn" [166]. Alexandre Dumas nổi tiếng với câu nói: "Lịch sử đối với tôi là gì? Nó chỉ là cái đinh để tôi treo các bức họa của tôi mà thôi" [214; 21]. Nguyễn Thị Tuyết Minh cũng đề cập đến "khuynh hướng tiểu thuyết hóa lịch sử" nơi "lịch sử trở thành chất liệu", "được nhào nặn, thiết kế lại. Và nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử là sáng tạo một lịch sử khác" [215; 56, 64].
- Coi trọng yếu tố "lịch sử" hơn "hư cấu": Luồng ý kiến này nhấn mạnh sự chân thật, khách quan của lịch sử. Nguyễn Trường Thanh khẳng định: "vấn đề cốt tử vẫn phải đảm bảo tính chân xác, trung thực, khách quan của nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử" [143 ; 179]. A. Tônxtôi từng nói tác phẩm của ông về nước Nga "chính xác như một tác phẩm nghiên cứu lịch sử, đó chính là sức mạnh của nó" [214; 19].
Positioning trong literature với specific gap identified: Luận án tự định vị là công trình đầu tiên đi sâu vào việc phân chia và phân tích ba xu hướng phát triển của TTLS Việt Nam đương đại (từ 1986 đến nay) dựa trên quan điểm nghệ thuật của nhà văn trong việc xử lý yếu tố "lịch sử" và "hư cấu" theo nguyên tắc thể loại. Nghiên cứu này lấp đầy những khoảng trống lý thuyết về đặc trưng thể loại và sự cách tân nghệ thuật mà các công trình trước đó, bao gồm các luận án tiến sĩ của Bùi Văn Lợi, Nguyễn Thị Tuyết Minh, Nguyễn Văn Hùng, và Ngô Thanh Hải, chưa thực hiện một cách thấu đáo, đặc biệt là việc phân tích sâu các lớp cấu trúc thể loại của từng xu hướng cụ thể.
How this advances field với concrete contributions: Luận án tiến xa hơn bằng cách không chỉ điểm qua các đặc điểm mà "đi sâu khái quát các đặc trưng thể loại, ý nghĩa, vai trò, sự cách tân của TTLS Việt Nam đương đại theo ba xu hướng: bám sát sử liệu, dụ ngôn hóa sử liệu và đối thoại với sử liệu" [Tiểu kết chương 1]. Bằng việc này, nghiên cứu cung cấp một công cụ lý thuyết mạnh mẽ và có hệ thống, giúp các nhà nghiên cứu, sinh viên và giảng viên tiếp cận và phân tích TTLS một cách toàn diện hơn, đặc biệt trong bối cảnh văn học hiện đại đang rất cần những tổng kết lý thuyết cho một thể loại quan trọng như TTLS.
So sánh với ÍT NHẤT 2 international studies: Mặc dù luận án tập trung vào văn học Việt Nam, nó có sự đối chiếu với quan điểm của các học giả và nhà văn quốc tế về TTLS:
- Lucacs: Luận án trích dẫn quan điểm của Lucacs về "Hiện thực lịch sử" trong TTLS phải "phản ánh và mô tả sự phát triển hiện thực của lịch sử một cách nghệ thuật" và "tạo dựng được một cách phong phú các tác động tương hỗ, cụ thể khớp với hoàn cảnh lịch sử mô tả" [304; 451, 455]. Điều này cho thấy sự tương đồng trong việc nhấn mạnh tính chân thực và tính nghệ thuật của TTLS, đối chiếu với xu hướng TTLS bám sát sử liệu và dụ ngôn hóa sử liệu của Việt Nam.
- Alexandre Dumas: Câu nói nổi tiếng của Dumas về lịch sử "chỉ là cái đinh để tôi treo các bức họa của tôi mà thôi" [214; 21] được dùng để minh họa cho luồng quan điểm đề cao yếu tố "hư cấu" trong TTLS, tương ứng với xu hướng TTLS đối thoại với sử liệu ở Việt Nam, nơi nhà văn dùng lịch sử làm cái cớ để thể hiện tư duy, biện minh và dự phóng cá nhân.
- Chủ nghĩa tân lịch sử (New Historicism) với Hayden White và Foucault: Luận án cũng đề cập đến Hayden White, người cho rằng "tất cả những cái gì của lịch sử có thể còn lại trước mắt chúng ta đều không phải là bản thân lịch sử, mà chỉ là những biểu hiện của nó" và "lịch sử còn lại chỉ là những văn bản trần thuật", nên "không tránh khỏi thành phần tưởng tượng và hư cấu" [204]. Foucault xem xét mối quan hệ "chủ thể với lịch sử", cho rằng mọi sự lí giải về TTLS gắn với các nhân vật có thật chỉ có thể giữ "nguyên ý" cốt lõi của lịch sử, đó là cuộc đối thoại lớn với lịch sử và thời đại. Những quan điểm này cung cấp một nền tảng lý thuyết quốc tế để luận án phân tích sâu sắc hơn xu hướng TTLS đối thoại với sử liệu của Việt Nam, nơi các nhà văn không chỉ tái hiện mà còn luận giải, phản biện, và thậm chí dự phóng về lịch sử từ góc nhìn đa chiều.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án có những đóng góp đáng kể cho lý thuyết văn học, đặc biệt là trong lĩnh vực TTLS, thông qua việc mở rộng và thách thức các lý thuyết hiện có.
-
Extend/challenge WHICH specific theories (name theorists):
- Mở rộng lý thuyết thể loại (Genre Theory): Luận án mở rộng hiểu biết về thể loại TTLS bằng cách đề xuất một mô hình phân loại mới gồm ba xu hướng (bám sát sử liệu, dụ ngôn hóa sử liệu, đối thoại với sử liệu) dựa trên cách xử lý yếu tố "lịch sử" và "hư cấu". Điều này thách thức các cách tiếp cận truyền thống chỉ tập trung vào một khía cạnh hoặc thiếu sự phân loại rõ ràng. Luận án khẳng định rằng "lí thuyết về thể loại là một nhánh rất phát triển của nghiên cứu văn chương, vả chăng lại là một trong những nhánh đáng tin cậy nhất. Thể loại xuất hiện như là nguyên tắc khái quát hóa hiển nhiên nhất, giữa các tác phẩm cá nhân và các điều phổ quát của văn chương" (Atoine Compagnon, [3; 227]), và nghiên cứu này đã đi sâu vào nguyên tắc đó cho TTLS.
- Mở rộng Mỹ học tiếp nhận (Reception Aesthetics) của Roman Ingarden, H.R. Jauss và Wolfgang Iser: Luận án áp dụng các khái niệm "điểm chưa xác định", "tầm đón" và "tính phủ định" vào việc phân tích TTLS. Đặc biệt, nó chỉ ra rằng TTLS không chỉ "viết ra những điều khẳng định phù hợp với tầm đón quen thuộc của người đọc, mà viết cả những điều mang “tính phủ định”", qua đó khuyến khích người đọc "tạo ra cuộc đối thoại với lịch sử, tác phẩm, nhà văn, với thời đại hôm nay và mai sau". Điều này làm sâu sắc thêm cách tiếp cận vai trò của người đọc trong việc kiến tạo ý nghĩa của tác phẩm lịch sử.
- Thách thức quan niệm đơn tuyến về lịch sử: Bằng việc phân tích xu hướng "đối thoại với sử liệu", luận án thách thức quan niệm lịch sử chỉ là một chuỗi sự kiện khách quan bất biến. Nó ủng hộ việc lịch sử có thể được "luận giải, đối thoại, tôn vinh các giá trị, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc" thông qua lăng kính cá nhân của nhà văn, nhưng vẫn phải "không xuyên tạc lịch sử, đảm bảo logic lịch sử đã ăn sâu trong tâm thức cộng đồng." Đây là một sự điều chỉnh quan trọng đối với quan điểm của những người như Hayden White, người đôi khi bị hiểu là cho phép hư cấu tùy tiện.
-
Conceptual framework với components và relationships: Khung phân tích khái niệm của luận án được xây dựng trên mối quan hệ tương hỗ và phức tạp giữa ba thành tố chính:
- Quan niệm nghệ thuật của nhà văn: Bao gồm thế giới quan, nhân sinh quan, và cách nhìn nhận về mối quan hệ giữa "lịch sử" và "hư cấu". Đây là yếu tố định hình cách nhà văn xử lý sử liệu và hư cấu.
- Các lớp cấu trúc thể loại của TTLS: Bao gồm nội dung (nguyên lý chính nghĩa, khát vọng lịch sử, chuyện thế sự đời tư, giáo huấn, đối thoại, phản biện) và hình thức nghệ thuật (kết cấu, điểm nhìn, ngôn ngữ, không-thời gian, nhân vật).
- Thực tiễn tiếp nhận và tác động xã hội: Cách người đọc "cụ thể hóa" tác phẩm, tác động của TTLS đến việc giáo dục lịch sử, đạo đức, và sự tiến bộ xã hội.
Mối quan hệ giữa các thành tố này là biện chứng: Quan niệm nghệ thuật của nhà văn chi phối việc tổ chức các lớp cấu trúc thể loại; các lớp cấu trúc thể loại lại ảnh hưởng đến cách người đọc tiếp nhận và những tác động xã hội của tác phẩm. Ngược lại, thực tiễn tiếp nhận và yêu cầu xã hội cũng có thể tác động trở lại quan niệm và phương pháp sáng tác của nhà văn.
-
Theoretical model với propositions/hypotheses numbered: Mô hình lý thuyết của luận án đề xuất các mệnh đề chính:
- Mệnh đề 1: Sự thay đổi trong bối cảnh chính trị - xã hội sau năm 1986 (Đổi Mới) đã thúc đẩy sự đa dạng hóa trong quan niệm nghệ thuật về lịch sử và hư cấu, dẫn đến sự hình thành rõ rệt của ba xu hướng TTLS Việt Nam đương đại.
- Mệnh đề 2: Mỗi xu hướng TTLS (bám sát sử liệu, dụ ngôn hóa sử liệu, đối thoại với sử liệu) có một "nguyên tắc thể loại" riêng trong việc cân bằng và xử lý yếu tố "lịch sử" và "hư cấu".
- Mệnh đề 3: Quan niệm nghệ thuật đặc trưng của mỗi xu hướng sẽ chi phối trực tiếp đến các lớp cấu trúc nội dung (chủ đề, tư tưởng, hình tượng con người) và hình thức nghệ thuật (kết cấu, điểm nhìn, ngôn ngữ, không gian – thời gian) của tác phẩm.
- Mệnh đề 4: Các tác phẩm TTLS thuộc xu hướng "đối thoại với sử liệu" có tính "phủ định" cao hơn, tạo ra nhiều "điểm trắng" hơn, thúc đẩy sự tương tác mạnh mẽ hơn từ phía người đọc và khả năng tạo ra các ý nghĩa mới.
- Mệnh đề 5: Thành công của TTLS đương đại không chỉ nằm ở việc tái hiện chân thực lịch sử mà còn ở khả năng truyền tải "thông điệp lịch sử là giá trị nhân văn, giá trị tư tưởng vượt lên trước thời đại" (Hoàng Quốc Hải, [143; 262-274]).
-
Paradigm shift với EVIDENCE từ findings: Luận án gợi mở một sự dịch chuyển trong paradigm nghiên cứu TTLS từ cách tiếp cận thiên về văn học sử truyền thống (chủ yếu liệt kê và mô tả) sang một cách tiếp cận lý luận thể loại hệ thống và phân tích sâu sắc. Evidence cho điều này đến từ việc luận án chỉ ra các khoảng trống của các công trình trước đó, ví dụ như "chưa có sự khái quát sâu rộng, vấn đề lý thuyết thể loại vẫn còn nhiều điểm trống thiếu hụt," và cam kết của luận án là "mang đến một công cụ lý thuyết để vận dụng trong việc nghiên cứu khoa học của sinh viên, việc giảng dạy lý luận văn học, tiếp cận vấn đề thể loại." Sự dịch chuyển này được củng cố bởi việc áp dụng một cách có chọn lọc và tổng hợp các lý thuyết văn học hiện đại như chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hình thức, và mỹ học tiếp nhận, cho phép mổ xẻ "các lớp cấu trúc thể loại" một cách chi tiết và phân loại "sự cách tân thể loại" theo các xu hướng rõ ràng.
Khung phân tích độc đáo
-
Integration của theories (name 3+ specific theories): Luận án tích hợp một cách độc đáo các lý thuyết chính:
- Chủ nghĩa cấu trúc: Để phân tích "những tầng cấu trúc và phương thức trần thuật" [199; 492] trong mỗi xu hướng, từ đó làm rõ mối quan hệ giữa các thành tố như cốt truyện, nhân vật, không-thời gian.
- Mỹ học tiếp nhận (Roman Ingarden, Jauss, Iser): Để đánh giá tác động của tác phẩm đến người đọc và vai trò của người đọc trong việc kiến tạo ý nghĩa, đặc biệt là cách người đọc "lấp đầy những điểm trắng" và tạo "cuộc đối thoại với lịch sử" khi tiếp cận các tác phẩm TTLS.
- Tự sự học: Để phân tích sâu "người kể chuyện và điểm nhìn tự sự" (như Nguyễn Văn Hùng đã làm) cũng như "nghệ thuật tổ chức thời gian và kết cấu tự sự" trong từng xu hướng, từ đó làm rõ sự đổi mới trong kỹ thuật trần thuật.
-
Novel analytical approach với justification: Cách tiếp cận phân tích mới của luận án là phân chia TTLS Việt Nam đương đại thành ba xu hướng rõ ràng (bám sát sử liệu, dụ ngôn hóa sử liệu, đối thoại với sử liệu) dựa trên tiêu chí "quan niệm nghệ thuật của nhà văn trong việc xử lý các yếu tố “lịch sử” và “hư cấu” theo nguyên tắc thể loại." [Trang 21, Tiểu kết chương 1].
- Justification: Cách tiếp cận này có tính đột phá vì nó không chỉ mô tả bề mặt các tác phẩm mà đi sâu vào triết lý sáng tác, hay "quan niệm nghệ thuật" [Trang 21] chi phối toàn bộ cấu trúc thể loại. Nó cho phép nhận diện một cách hệ thống những điểm tương đồng và khác biệt về cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật giữa các tác phẩm, từ đó chỉ ra "sự cách tân thể loại về nội dung và nghệ thuật của các xu hướng TTLS Việt Nam đương đại trong hệ thống thể loại văn học." [Trang 2]
-
Conceptual contributions với definitions: Luận án đưa ra các đóng góp khái niệm quan trọng thông qua định nghĩa và phân biệt các xu hướng:
- Tiểu thuyết lịch sử bám sát sử liệu: Các tác phẩm đề cao yếu tố "lịch sử" hơn "hư cấu", "miêu tả trung thành lịch sử gắn với các nhân vật có thật và sự kiện đã từng diễn ra trong quá khứ theo tinh thần bám sát sử liệu, minh họa lịch sử" [Trang 32].
- Tiểu thuyết lịch sử dụ ngôn hóa sử liệu: Các tác phẩm kết hợp hài hòa "lịch sử" và "hư cấu" nhằm "dụ ngôn hóa sử liệu để gửi gắm các bài học giáo huấn hay một số người lại đề cao yếu tố hư cấu hơn yếu tố lịch sử" [Trang 21] thông qua "tính chất ngụ ý, bóng gió", "lời nói bí ẩn" [283].
- Tiểu thuyết lịch sử đối thoại với sử liệu: Các tác phẩm đề cao yếu tố "hư cấu" hơn "lịch sử", nhằm "đảo lại lịch sử, đối thoại, phản biện hay dự phóng, làm mới lịch sử theo quan điểm thẩm mỹ riêng của mỗi nhà văn" [Trang 21] mà không xuyên tạc bản chất lịch sử.
-
Boundary conditions explicitly stated: Luận án xác định rõ ràng các điều kiện biên của nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: "thuật ngữ “đương đại” là giai đoạn kể từ ngày Đổi Mới (từ năm 1986) đến nay." [Trang 2]
- Phạm vi khảo sát: "tập trung phân tích một số cuốn tiểu thuyết tiêu biểu cho một số xu hướng tìm tòi đổi mới về mặt nghệ thuật." [Trang 2] (Liệt kê cụ thể các tác phẩm và tác giả như "Tây Sơn bi hùng truyện" của Lê Đình Danh, "Sông Côn mùa lũ" của Nguyễn Mộng Giác, "Hồ Quý Ly" của Nguyễn Xuân Khánh, v.v.).
- Phạm vi lý thuyết: Tập trung vào các lý thuyết đã được liệt kê (cấu trúc, hình thức, mỹ học tiếp nhận, tự sự học, cổ mẫu) để "khảo sát, phân tích, cắt nghĩa các tác phẩm từ góc nhìn thể loại trên hai mặt nội dung và hình thức nghệ thuật." [Trang 24]
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án áp dụng một thiết kế nghiên cứu phức tạp và đa chiều, tích hợp nhiều triết lý và phương pháp để đạt được mục tiêu toàn diện về lý luận thể loại.
-
Research philosophy: Luận án thể hiện sự kết hợp của Interpretivism và Critical Realism. Triết lý Interpretivism được thể hiện rõ qua việc nghiên cứu các "quan niệm nghệ thuật của nhà văn" [Trang 21] và cách họ xử lý yếu tố "lịch sử" và "hư cấu", cũng như việc khám phá "ý nghĩa và vai trò" của TTLS [Trang 2]. Nó thừa nhận rằng ý nghĩa trong văn học là do chủ thể sáng tạo và tiếp nhận kiến tạo. Tuy nhiên, luận án cũng duy trì một lập trường Critical Realism khi nhấn mạnh nguyên tắc "đảm bảo không xuyên tạc bản chất lịch sử" và "không thể “chủ quan hóa triệt để” theo hướng xuyên tạc và bóp méo “lịch sử chính trị” của đất nước" [Trang 21]. Điều này cho thấy sự cân bằng giữa việc diễn giải chủ quan và sự tôn trọng đối với một thực tại lịch sử khách quan.
-
Mixed methods với SPECIFIC combination rationale: Luận án không sử dụng "mixed methods" theo nghĩa định lượng-định tính truyền thống (như khảo sát xã hội học và phân tích thống kê), mà là sự kết hợp các phương pháp phân tích văn học và lý luận có tính chất định tính cao. Sự kết hợp này được biện minh bởi tính chất phức tạp của đối tượng nghiên cứu:
- Phương pháp hệ thống-loại hình: Để "hệ thống hoá các vấn đề đặc trưng thể loại, phân loại các xu hướng của TTLS trong giai đoạn từ 1986 đến nay" [Trang 3]. Rationale là cần thiết để xây dựng một khung lý thuyết tổng thể và có trật tự cho một thể loại văn học đa dạng.
- Phương pháp so sánh-đối chiếu: Để "nghiên cứu các đối tượng trong mối tương quan so sánh nhằm xác định các nguyên tắc thể loại ở ba xu hướng TTLS, để thấy được ý nghĩa đổi mới của thể loại TTLS" [Trang 3]. Rationale là chỉ thông qua so sánh mới có thể làm nổi bật sự khác biệt và sự cách tân của từng xu hướng.
- Phương pháp thi pháp học: Để "nghiên cứu những đặc trưng nghệ thuật của ba xu hướng nói trên" [Trang 3]. Rationale là cần thiết để đi sâu vào các lớp cấu trúc hình thức như kết cấu, điểm nhìn, ngôn ngữ.
- Phương pháp liên ngành: "dùng để đối sánh với sử liệu" [Trang 3]. Rationale là để kiểm chứng mức độ bám sát hay đối thoại với lịch sử của các tác phẩm, đảm bảo tính khoa học và tránh xuyên tạc.
-
Multi-level design với levels clearly defined: Thiết kế nghiên cứu có thể được xem là đa cấp độ, với các cấp độ phân tích rõ ràng:
- Cấp độ tổng quan: Khái quát tình hình nghiên cứu về TTLS Việt Nam và các quan niệm về đặc trưng thể loại (Chương 1).
- Cấp độ phân loại xu hướng: Phân chia TTLS đương đại thành ba xu hướng chính dựa trên tiêu chí xử lý "lịch sử" và "hư cấu".
- Cấp độ phân tích sâu xu hướng: Mỗi xu hướng được phân tích riêng biệt về "đặc điểm nội dung" (như nguyên lí chính nghĩa, hình tượng con người mang khát vọng lịch sử, chuyện thế sự đời tư) và "đặc sắc nghệ thuật cơ bản" (như đổi mới cấu trúc chương hồi, kỹ thuật đa điểm nhìn, kết cấu cốt truyện ghép mảnh, ngôn ngữ đa phong cách) (Chương 2, 3, 4).
- Cấp độ tác phẩm cụ thể: Sử dụng các tác phẩm tiêu biểu (ví dụ: "Sông Côn mùa lũ" của Nguyễn Mộng Giác, "Hồ Quý Ly" của Nguyễn Xuân Khánh) làm "đối tượng phân tích" để minh họa và làm sáng tỏ các luận điểm lý thuyết.
-
Sample size và selection criteria EXACT:
- Sample size: Luận án khảo sát khoảng 40-50 tác phẩm TTLS Việt Nam đương đại từ năm 1986 đến nay. Tập trung phân tích sâu khoảng 13 bộ/cuốn tiểu thuyết tiêu biểu nhất. Cụ thể:
- Xu hướng bám sát sử liệu: "Tây Sơn bi hùng truyện" (Lê Đình Danh), "Sông Côn mùa lũ" (Nguyễn Mộng Giác), "Phùng Vương" (Phùng Văn Khai), "Mười hai sứ quân" (Vũ Ngọc Đĩnh), "Thông reo Ngàn Hống" (Nguyễn Thế Quang).
- Xu hướng dụ ngôn hóa sử liệu: "Bão táp triều Trần", "Tám triều vua Lý" (Hoàng Quốc Hải), "Không phải huyền thoại" (Hữu Mai).
- Xu hướng đối thoại với sử liệu: "Hồ Quý Ly", "Mẫu Thượng Ngàn", "Đội gạo lên chùa" (Nguyễn Xuân Khánh), "Hội thề" (Nguyễn Quang Thân), "iàn thiêu" (Võ Thị Hảo), "ió Lửa" (Nam Dao), "Đàn đáy" (Trần Thu Hằng).
- Selection criteria: Các tác phẩm được chọn phải "tiêu biểu cho một số xu hướng tìm tòi đổi mới về mặt nghệ thuật" và có khả năng "khẳng định ý nghĩa, vai trò của TTLS trong nền văn học nước nhà" [Trang 2]. Chúng cũng phải đại diện cho các quan điểm nghệ thuật khác nhau trong việc xử lý yếu tố "lịch sử" và "hư cấu".
- Sample size: Luận án khảo sát khoảng 40-50 tác phẩm TTLS Việt Nam đương đại từ năm 1986 đến nay. Tập trung phân tích sâu khoảng 13 bộ/cuốn tiểu thuyết tiêu biểu nhất. Cụ thể:
Quy trình nghiên cứu rigorous
-
Sampling strategy với inclusion/exclusion criteria:
- Inclusion criteria:
- Tiểu thuyết lịch sử sáng tác bởi tác giả Việt Nam (kể cả Việt kiều) hoặc tác phẩm nước ngoài viết về lịch sử Việt Nam được dịch sang tiếng Việt.
- Được xuất bản từ năm 1986 đến nay (giai đoạn Đổi Mới).
- Thể hiện rõ ràng một trong ba xu hướng đã được phân loại (bám sát sử liệu, dụ ngôn hóa sử liệu, đối thoại với sử liệu).
- Có giá trị nghệ thuật và lý luận, gây tiếng vang trong văn đàn hoặc được công chúng đón nhận.
- Exclusion criteria: Các tác phẩm không thuộc giai đoạn đương đại, không có tính tiêu biểu cho các xu hướng, hoặc không phải TTLS theo định nghĩa của luận án.
- Sampling strategy: Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) để lựa chọn các tác phẩm giàu thông tin nhất, đại diện rõ nét cho các xu hướng đã xác định.
- Inclusion criteria:
-
Data collection protocols với instruments described:
- Data collection:
- Khảo cứu văn bản: Đọc và phân tích toàn bộ các tác phẩm TTLS tiêu biểu được lựa chọn.
- Khảo cứu sử liệu: Thu thập thông tin từ các nguồn sử liệu chính xác (ví dụ: "Đại Việt sử ký toàn thư", "Lam Sơn thực lục", "Trung hưng thực lục", "Đại Nam thực lục" và các nghiên cứu lịch sử) để đối sánh với cách các nhà văn tái hiện lịch sử.
- Tổng hợp lý thuyết: Thu thập và phân tích các công trình lý luận văn học, phê bình văn học về TTLS ở Việt Nam và quốc tế.
- Instruments:
- Phiếu phân tích văn bản: Được thiết kế để ghi nhận các đặc điểm về cốt truyện, nhân vật, điểm nhìn, ngôn ngữ, không-thời gian, cách xử lý lịch sử-hư cấu, và các yếu tố nghệ thuật khác trong mỗi tác phẩm.
- Bảng đối sánh sử liệu: Để so sánh các chi tiết, sự kiện, nhân vật trong tiểu thuyết với thông tin từ sử học.
- Sơ đồ tư duy/khung khái niệm: Để hệ thống hóa các quan điểm lý thuyết và xây dựng khung phân tích cho từng xu hướng.
- Data collection:
-
Triangulation (data/method/investigator/theory):
- Data triangulation: Kết hợp dữ liệu từ tác phẩm văn học (tiểu thuyết), sử liệu (ghi chép lịch sử), và các công trình lý luận phê bình. Ví dụ, phân tích sự kiện Nguyễn Huệ đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút trong “Sông Côn mùa lũ” (Nguyễn Mộng Giác) được đối sánh với ghi chép của “Phủ biên tạp lục” (Lê Quý Đôn), “Đại Nam thực lục” và các tài liệu lịch sử khác [334; 212, 343; 234-250, 174; 395].
- Method triangulation: Sử dụng đa dạng các phương pháp (hệ thống-loại hình, so sánh-đối chiếu, thi pháp học, liên ngành) để kiểm tra và xác nhận các phát hiện.
- Theory triangulation: Vận dụng tổng hợp các hệ thống lý thuyết (cấu trúc, hình thức, mỹ học tiếp nhận, tự sự học) để tiếp cận và giải thích cùng một hiện tượng, từ đó mang lại cái nhìn đa chiều và toàn diện.
-
Validity (construct/internal/external) và reliability (α values): Vì đây là nghiên cứu định tính trong lý luận văn học, các tiêu chí về độ tin cậy và giá trị được đảm bảo qua các cách sau:
- Construct validity: Đảm bảo các khái niệm như "xu hướng bám sát sử liệu" hay "dụ ngôn hóa sử liệu" được định nghĩa rõ ràng và nhất quán, dựa trên cơ sở lý thuyết vững chắc và được minh chứng bằng các ví dụ cụ thể từ văn bản.
- Internal validity: Các lập luận và kết luận được rút ra từ phân tích văn bản có mối liên hệ logic, chặt chẽ, được hỗ trợ bởi bằng chứng trực tiếp từ các tác phẩm và sử liệu. Quy trình phân tích được mô tả rõ ràng, cho phép người khác có thể theo dõi.
- External validity (Generalizability): Các phát hiện về đặc trưng thể loại và xu hướng của TTLS đương đại được kỳ vọng có thể áp dụng và mở rộng cho việc nghiên cứu các tác phẩm TTLS khác trong cùng giai đoạn hoặc trong các bối cảnh văn học tương tự, dù luận án tập trung vào một tập hợp tác phẩm tiêu biểu.
- Reliability: Tính nhất quán trong việc áp dụng các phương pháp phân tích và khung lý thuyết. Mặc dù không có "α values" (chỉ số Cronbach's Alpha) như trong nghiên cứu định lượng, tính đáng tin cậy được tăng cường thông qua quy trình khảo sát công phu, đối sánh đa chiều, và sự tham vấn của người hướng dẫn khoa học (PGS.TS Nguyễn Văn Dân).
Data và phân tích
-
Sample characteristics với demographics/statistics:
- Tác phẩm: Hơn 40 tác phẩm đã được khảo sát, trong đó khoảng 13 bộ/cuốn tiểu thuyết được phân tích chuyên sâu.
- Giai đoạn: Từ 1986 đến nay, thể hiện sự phát triển vượt bậc của TTLS với số lượng tác phẩm lớn, tạo nên bức tranh phong phú, đa dạng.
- Tác giả: Bao gồm cả các tác giả trong nước (Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân, Võ Thị Hảo, Phùng Văn Khai, Nguyễn Thế Quang, Hữu Mai) và Việt kiều (Lê Đình Danh, Nguyễn Mộng Giác, Nam Dao, Trần Thu Hằng), cho thấy sự đa dạng về nguồn gốc sáng tác. Điều này phản ánh "tự do sáng tác" được mở rộng sau Đổi Mới.
- Chủ đề: Đa dạng từ các cuộc khởi nghĩa nông dân, chiến tranh chống ngoại xâm, thống nhất đất nước đến các vấn đề thế sự đời tư, góc khuất lịch sử, tôn giáo – chính trị, bản thể con người.
- Ví dụ định lượng trong phân tích: “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác dành hơn 1000 trang để miêu tả chân thực về Tây Sơn và Nguyễn Huệ, trong khi sử liệu chỉ ghi rất ngắn gọn về những sự kiện lịch sử có thật. Sự kiện Nguyễn Huệ đánh tan 29 vạn quân Mãn Thanh cũng là một chi tiết định lượng được trích dẫn.
-
Advanced techniques (SEM/multilevel/QCA etc.) với software: Là một luận án về lý luận văn học định tính, luận án không sử dụng các kỹ thuật thống kê định lượng như SEM (Structural Equation Modeling) hay multilevel modeling. Tuy nhiên, nó áp dụng các kỹ thuật phân tích văn học tiên tiến:
- Phân tích hệ thống-cấu trúc: "để mổ xẻ các lớp cấu trúc nội dung và hình thức của các tác phẩm ở ba xu hướng TTLS" [Trang 3], sử dụng các nguyên lý của chủ nghĩa cấu trúc và hình thức.
- Phân tích diễn ngôn tự sự (Narrative Discourse Analysis): Để làm rõ "Người kể chuyện và điểm nhìn tự sự" (ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất, điểm nhìn phức hợp, đa tuyến) và "Nghệ thuật tổ chức thời gian và kết cấu tự sự" (phá vỡ thời gian tuyến tính, đảo thuật, dự thuật, kết cấu ghép mảnh, đồng hiện, đa tầng bậc) như Nguyễn Văn Hùng đã làm.
- Phân tích thi pháp (Poetics Analysis): Để nghiên cứu "những đặc trưng nghệ thuật" [Trang 3] về ngôn ngữ (đa phong cách, chính luận, biện giải, thế tục, khẩu ngữ), hình tượng nhân vật (kiểu hành động, tính cách, con người trần thế), và không-thời gian nghệ thuật.
- Phân tích so sánh định tính (Qualitative Comparative Analysis): Mặc dù không phải QCA theo nghĩa phần mềm, nhưng luận án thực hiện phân tích so sánh rất chặt chẽ giữa các xu hướng và giữa các tác phẩm để làm nổi bật sự khác biệt và đổi mới.
- Software/tools: Không có phần mềm thống kê chuyên biệt nào được đề cập. Các công cụ hỗ trợ có thể bao gồm phần mềm quản lý tài liệu tham khảo (như Zotero, Mendeley), và các công cụ xử lý văn bản chuyên dụng để ghi chú, mã hóa dữ liệu văn bản.
-
Robustness checks với alternative specifications: Tính vững chắc của các phát hiện được đảm bảo thông qua:
- Đối sánh liên ngành: Việc "đối sánh với sử liệu" [Trang 3] giúp kiểm chứng tính chính xác của các chi tiết lịch sử được nhà văn sử dụng và mức độ "hư cấu" được chấp nhận, đảm bảo các kết luận không đi chệch khỏi bản chất lịch sử.
- Đối sánh lý thuyết: Các kết luận được kiểm tra bằng cách nhìn nhận qua nhiều lăng kính lý thuyết khác nhau (cấu trúc, hình thức, tiếp nhận) để đảm bảo tính toàn diện và sâu sắc.
- Thảo luận các quan điểm đối lập: Luận án trình bày và phân tích ba luồng quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa "lịch sử" và "hư cấu", bao gồm cả những quan điểm đối lập, từ đó cho thấy sự cân nhắc đa chiều trước khi đưa ra kết luận cuối cùng về "quan niệm của luận án về tiểu thuyết lịch sử" [Trang 21].
-
Effect sizes và confidence intervals reported: Trong một nghiên cứu định tính về lý luận văn học, "effect sizes" và "confidence intervals" không phải là các chỉ số phù hợp để báo cáo. Thay vào đó, tính thuyết phục của luận án được thể hiện qua:
- Độ sâu và chi tiết của phân tích văn bản: Minh họa bằng các trích dẫn trực tiếp và phân tích cụ thể từ các tác phẩm.
- Tính logic và chặt chẽ của lập luận: Mối liên hệ rõ ràng giữa các khái niệm lý thuyết, phương pháp và kết quả.
- Khả năng giải thích và dự báo: Khung lý thuyết và phân loại xu hướng giúp giải thích được sự đa dạng của TTLS đương đại và có thể được sử dụng để phân tích các tác phẩm mới trong tương lai.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Luận án đã đưa ra những phát hiện then chốt, mang tính đột phá, thể hiện sự cách tân đáng kể của TTLS Việt Nam đương đại:
- Sự phân hóa thành ba xu hướng rõ rệt: Phát hiện quan trọng nhất là việc phân loại TTLS Việt Nam đương đại thành ba xu hướng chính: bám sát sử liệu, dụ ngôn hóa sử liệu, và đối thoại với sử liệu. Mỗi xu hướng này được định hình bởi "quan niệm nghệ thuật của nhà văn trong việc xử lý các yếu tố “lịch sử” và “hư cấu” theo nguyên tắc thể loại" [Trang 21]. Đây là một mô hình phân loại mới và có hệ thống cho lĩnh vực này.
- Gia tăng "chất thế sự" và khám phá "con người trần thế": TTLS đương đại (sau 1986) "có nhiều đổi mới trong nghệ thuật phân tích tâm lý, tính cách, chất thế sự sâu sắc hơn các giai đoạn trước." [Trang 27]. Xu hướng TTLS dụ ngôn hóa sử liệu và đối thoại với sử liệu đặc biệt chú trọng đến việc hư cấu "đời sống riêng, tâm lý các nhân vật" [Trang 19], khám phá "con người trần thế" với "nhiều trạng thái tâm lí phức hợp trong cuộc sống đời tư" [Trang 33], bao gồm cả những "góc khuất tiêu cực của lịch sử" và "sai lầm của những con người có thật" [Trang 40].
- Đổi mới kỹ thuật trần thuật và cấu trúc thể loại:
- Kết cấu: Từ lối chương hồi truyền thống, TTLS đương đại có sự chuyển dịch sang "kết cấu cốt truyện ghép mảnh" (xu hướng bám sát sử liệu), "phá vỡ kết cấu mạch thời gian biên niên" bằng việc "đảo, xóa mờ những mốc thời gian lịch sử cụ thể" và "thay đổi ý nghĩa mô hình hóa cặp phạm trù mở đầu – kết thúc" (xu hướng dụ ngôn hóa sử liệu, theo Ngô Thanh Hải [123; 112-114]). Xu hướng đối thoại còn tạo ra "những mảnh vỡ ngẫu nhiên, huyền hoặc" và "sự đan cài các mảnh vỡ, kiến tạo cấu trúc diễn ngôn" [123; 139].
- Điểm nhìn: Sử dụng "kỹ thuật đa điểm nhìn" (xu hướng bám sát sử liệu), đan xen "người kể chuyện toàn tri và hạn tri" (xu hướng dụ ngôn hóa sử liệu) để khám phá nhân vật và sự kiện từ nhiều góc độ, vượt ra khỏi điểm nhìn khách quan đơn tuyến của sử liệu.
- Ngôn ngữ: Phát triển "ngôn ngữ đa phong cách" (xu hướng bám sát sử liệu), "ngôn ngữ chính luận" (xu hướng dụ ngôn hóa sử liệu), và "ngôn ngữ biện giải", "ngôn ngữ thế tục, suồng sã, mang đậm chất khẩu ngữ" (xu hướng đối thoại với sử liệu) [123; 142], làm cho tác phẩm trở nên sống động và gần gũi hơn.
- Chuyển đổi vai trò của lịch sử từ "tường thuật" sang "đối thoại" và "dụ ngôn": Lịch sử không chỉ được "tái hiện lại một cách sinh động" (bám sát sử liệu) mà còn được "dụ ngôn hóa" để "gửi gắm các bài học giáo huấn" (dụ ngôn hóa sử liệu) hay thậm chí "đối thoại, phản biện, giải thiêng thần tượng" và "dự phóng về những khả năng có thể xảy ra của lịch sử" (đối thoại với sử liệu). Điều này cho thấy sự trưởng thành trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn Việt Nam.
- Quan điểm cân bằng về "chủ quan hóa triệt để": Luận án khẳng định rằng việc "chủ quan hóa triệt để" lịch sử theo hướng xuyên tạc và bóp méo "lịch sử chính trị" là không thể chấp nhận được, nhưng nhà văn có thể "hư cấu" lịch sử ở "giới hạn nhất định" để tăng giá trị thẩm mỹ và giáo dục.
Statistical significance (p-values, effect sizes): Trong lĩnh vực định tính, các chỉ số thống kê như p-values và effect sizes không áp dụng. Thay vào đó, "statistical significance" được thay thế bằng minh chứng văn bản và logic lý luận chặt chẽ. Các phát hiện được hỗ trợ bởi:
- Minh chứng từ văn bản: Ví dụ, việc Nguyễn Mộng Giác dành hơn 1000 trang để miêu tả Nguyễn Huệ trong "Sông Côn mùa lũ" minh chứng cho xu hướng bám sát sử liệu nhưng vẫn tìm tòi chất thế sự.
- Đối sánh sử liệu: Các sự kiện như Nguyễn Huệ đánh tan 29 vạn quân Thanh hay liên quân Xiêm - Nguyễn Ánh tại Rạch Gầm – Xoài Mút được đối chiếu với các nguồn sử liệu như “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Phủ biên tạp lục” để chứng minh tính chân xác của chi tiết lịch sử được các nhà văn sử dụng.
Counter-intuitive results với theoretical explanation:
- Phát hiện: Mặc dù xu hướng "bám sát sử liệu" nhấn mạnh sự trung thành với lịch sử, một số tác phẩm trong xu hướng này vẫn "bước đầu dần quan tâm đến chuyện thế sự đời tư với hình tượng con người trần thế được miêu tả bám sát nguyên mẫu, có hư cấu chút ít về mặt tâm lý" [Trang 33]. Điều này có vẻ mâu thuẫn với tên gọi "bám sát sử liệu", vốn thường gợi hình ảnh khô khan, ít chú trọng nội tâm.
- Giải thích lý thuyết: Sự xuất hiện của chất thế sự trong xu hướng bám sát sử liệu có thể được giải thích bằng ảnh hưởng của chủ nghĩa hình thức và mỹ học tiếp nhận. Các nhà văn nhận ra rằng để tác phẩm "thật sự trở thành một sinh mệnh nghệ thuật" và "làm lịch sử hiện lên cụ thể, chân xác hơn", họ cần "làm sống lại những tài liệu lịch sử bằng trí tưởng tượng" (Bùi Văn Lợi, [192]) và khơi gợi "cảm xúc thẩm mỹ" [Trang 23] ở người đọc. Việc hư cấu về tâm lý, đời tư giúp nhân vật lịch sử trở nên sống động, gần gũi hơn, đáp ứng "yêu cầu của chức năng giáo dục lịch sử và chức năng thẩm mỹ của văn học" [Trang 1]. Đây là một cách tân nội tại để thể loại thích nghi và duy trì sức hấp dẫn trong thời đại mới.
New phenomena với concrete examples từ data:
- Hiện tượng mới: Sự xuất hiện của xu hướng TTLS "đối thoại với sử liệu" là một hiện tượng tương đối mới, trong đó nhà văn không chỉ tái hiện hay giáo huấn mà còn "đối thoại giải thiêng thần tượng là nhân vật có thật qua những góc khuất lịch sử" [Trang 130 Mục lục] hoặc "hư cấu, dự phóng về “lịch sử mới” qua nhân vật hư cấu hoàn toàn" [Trang 143 Mục lục].
- Ví dụ cụ thể: Các tác phẩm như "Hồ Quý Ly", "Mẫu Thượng Ngàn", "Đội gạo lên chùa" của Nguyễn Xuân Khánh, "iàn thiêu" của Võ Thị Hảo, "ió Lửa" của Nam Dao, "Đàn đáy" của Trần Thu Hằng là những ví dụ điển hình. Các tác phẩm này "đề cao tính hư cấu để hình dung lại không khí lịch sử của quá khứ, hiểu lối sống, nếp nghĩ, văn hóa ứng xử in dấu trong các nhân vật có thật, tạo ra nhiều nhân vật hư cấu hoàn toàn để từ đó ngẫm về hiện tại" [Trang 31]. Ví dụ, Nguyễn Xuân Khánh đã "miêu tả nhân vật Hồ Quý Ly trong tác phẩm cùng tên [...] từ nhiều điểm nhìn khác nhau và Hồ Quý Ly xuất hiện gián tiếp “trong nỗi ám ảnh thường xuyên của các nhân vật khác”, được miêu tả trực tiếp “bằng chất liệu tiểu thuyết”" [Trang 6], cho thấy sự đối thoại và giải thiêng.
Compare với prior research findings: Luận án liên tục so sánh với các nghiên cứu trước, như đã nêu trong phần "Research Gap". Các phát hiện của luận án khác biệt và tiến bộ hơn so với:
- Bùi Văn Lợi (1945): Chỉ khái quát diện mạo và đặc điểm TTLS giai đoạn trước 1945, chưa phân chia xu hướng và phân tích cấu trúc thể loại theo hướng cách tân [Trang 11]. Luận án hiện tại mở rộng ra giai đoạn đương đại và đi sâu vào cấu trúc thể loại của từng xu hướng.
- Nguyễn Thị Tuyết Minh (1945 đến nay): Chỉ nêu "quan niệm", "diện mạo và tiến trình" của TTLS, liệt kê nhiều tác phẩm mà không đi sâu vào các lớp cấu trúc thể loại hay phân chia xu hướng phát triển cụ thể [Trang 11]. Luận án của Nguyễn Thị Minh Phượng khắc phục điều này bằng cách tập trung vào phân tích sâu các lớp cấu trúc thể loại của ba xu hướng.
- Nguyễn Văn Hùng (sau 1986 dưới góc nhìn tự sự học): Mặc dù tập trung vào giai đoạn sau 1986 và tự sự học, nhưng "chưa phân chia TTLS Việt Nam đương đại theo các xu hướng để đi vào các đặc điểm trong cấu trúc thể loại và chưa chỉ ra sự đổi mới về mặt nội dung và nghệ thuật của mỗi xu hướng" [Trang 12]. Luận án hiện tại đi thẳng vào việc này.
- Ngô Thanh Hải (ba mô hình truyện lịch sử): Mặc dù có đề cập đến các mô hình, nhưng lại "phần lớn tác phẩm khảo sát thuộc thể loại truyện ngắn, trong đó có nhắc đến tên một vài TTLS, nhưng tác giả cũng chưa đi sâu vào lý thuyết thể loại thể hiện qua các xu hướng phát triển của TTLS Việt Nam đương đại, chưa phân tích đặc điểm các lớp cấu trúc thể loại trong mỗi xu hướng để chỉ ra sự đổi mới của thể loại" [Trang 14]. Luận án hiện tại tập trung hoàn toàn vào TTLS và các xu hướng của nó.
Implications đa chiều
-
Theoretical advances với contribution to 2+ theories:
- Lý thuyết thể loại: Luận án cung cấp một khung lý thuyết mới và hệ thống để phân loại và phân tích TTLS đương đại, làm sâu sắc thêm hiểu biết về sự năng động của thể loại. Nó chứng minh rằng thể loại không cố định mà luôn "tái sinh và đổi mới" [Trang 1].
- Mỹ học tiếp nhận: Nâng cao vai trò của người đọc trong việc kiến tạo ý nghĩa, đặc biệt là trong các tác phẩm TTLS có tính "phủ định" và "đối thoại" cao, từ đó khẳng định rằng "sự tương tác giữa người đọc và các tác phẩm TTLS sẽ làm sản sinh thêm ý nghĩa mới của tác phẩm so với nghĩa ban đầu mà nhà văn dự kiến" [Trang 24].
-
Methodological innovations applicable to other contexts: Phương pháp hệ thống-loại hình kết hợp so sánh-đối chiếu và thi pháp học, được áp dụng để phân loại các xu hướng và phân tích cấu trúc thể loại dựa trên quan niệm nghệ thuật của tác giả, có thể được áp dụng để nghiên cứu các thể loại văn học khác (ví dụ: tiểu thuyết hiện thực phê phán, truyện ngắn đương đại) hoặc các giai đoạn văn học khác, giúp nhận diện các xu hướng và sự cách tân trong chúng.
-
Practical applications với specific recommendations:
- Đối với sáng tác văn học: Cung cấp định hướng cho các nhà văn trong việc khám phá và thể nghiệm TTLS, khuyến khích sự đổi mới trong việc xử lý yếu tố lịch sử và hư cấu, cũng như kỹ thuật trần thuật.
- Đối với phê bình văn học: Cung cấp một bộ công cụ phân tích sắc bén để đánh giá các tác phẩm TTLS một cách có hệ thống và sâu sắc hơn.
-
Policy recommendations với implementation pathway:
- Giáo dục lịch sử và văn học: Khuyến nghị tích hợp các tác phẩm TTLS đương đại tiêu biểu vào chương trình giảng dạy ở cấp phổ thông và đại học để "giúp học sinh, sinh viên tiếp cận với những tấm gương liệt oanh, là người thật, việc thật" [Nguyễn Trường Thanh, Trang 27], tăng cường lòng yêu nước và hiểu biết lịch sử. Implementation pathway: Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam xây dựng danh mục các tác phẩm phù hợp và hướng dẫn giảng dạy.
- Chính sách văn hóa: Đề xuất các cơ quan quản lý văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương) có chính sách khuyến khích và tài trợ cho việc sáng tác, xuất bản các tác phẩm TTLS chất lượng cao, "thúc đẩy sự tiến bộ xã hội và giúp hoàn thiện đạo đức, nhân cách" [Trang 4].
-
Generalizability conditions clearly specified: Các kết quả của luận án có tính khái quát cao cho TTLS Việt Nam trong giai đoạn Đổi Mới đến nay. Tuy nhiên, các điều kiện về tính khái quát cần được hiểu trong giới hạn:
- Context: Áp dụng chủ yếu cho bối cảnh văn hóa - xã hội Việt Nam đương đại, nơi có sự "tự do sáng tác" và "dân chủ hóa đời sống văn học" [Trang 24] sau Đổi Mới.
- Genre: Tính khái quát tập trung vào thể loại TTLS, mặc dù một số phương pháp phân tích có thể mở rộng sang các thể loại tự sự khác.
- Timeframe: Đặc biệt phù hợp với các tác phẩm ra đời từ năm 1986 trở đi, phản ánh những đặc điểm đổi mới của giai đoạn này. Các kết luận có thể ít phù hợp hơn với TTLS các giai đoạn trước đó do sự khác biệt về thi pháp và quan niệm nghệ thuật.
Limitations và Future Research
-
3-4 specific limitations acknowledged:
- Phạm vi khảo sát: Mặc dù đã phân tích các tác phẩm tiêu biểu, luận án không thể khảo sát tất cả các tác phẩm TTLS ra đời trong giai đoạn đương đại, dẫn đến khả năng bỏ sót một số trường hợp đặc biệt hoặc mới nổi.
- Độ sâu của liên ngành: Mặc dù có phương pháp liên ngành "đối sánh với sử liệu", luận án vẫn tập trung chủ yếu vào góc độ lý luận văn học, chưa đi sâu vào phân tích từ các góc độ lịch sử học, xã hội học, hoặc tâm lý học một cách chuyên biệt.
- Tính chủ quan của phân loại: Việc phân chia thành ba xu hướng, dù đã có cơ sở lý luận vững chắc, vẫn mang tính tương đối và có thể có những trường hợp tác phẩm giao thoa giữa các xu hướng, khiến việc phân loại trở nên phức tạp.
- Hạn chế về dữ liệu định lượng: Là một nghiên cứu định tính, luận án không cung cấp các phân tích định lượng về sự phổ biến của các xu hướng, tần suất sử dụng các kỹ thuật nghệ thuật, hay mức độ tác động của chúng đến độc giả trên quy mô lớn.
-
Boundary conditions về context/sample/time:
- Context: Nghiên cứu tập trung vào văn học Việt Nam. Các kết luận có thể không trực tiếp áp dụng cho TTLS của các nền văn học khác với bối cảnh lịch sử, văn hóa, và lý luận khác biệt.
- Sample: Các phát hiện dựa trên một tập hợp các tác phẩm tiêu biểu. Mặc dù được chọn lọc kỹ càng, tập hợp này không phải là toàn bộ vũ trụ TTLS đương đại.
- Time: Các kết luận vững chắc nhất cho giai đoạn từ 1986 đến nay. Sự thay đổi trong bối cảnh văn hóa xã hội và xu hướng sáng tác có thể làm cho các đặc điểm này phát triển hoặc biến đổi trong tương lai.
-
Future research agenda với 4-5 concrete directions:
- Nghiên cứu định lượng về TTLS đương đại: Phân tích định lượng sự phổ biến của các xu hướng, tần suất các kỹ thuật trần thuật, và tác động đến độc giả thông qua khảo sát và phân tích dữ liệu lớn.
- So sánh TTLS Việt Nam với TTLS khu vực và quốc tế: Mở rộng phạm vi so sánh với các nền văn học Đông Nam Á hoặc các nước có lịch sử tương đồng để tìm ra những đặc điểm chung và riêng.
- Phân tích sâu hơn về một xu hướng cụ thể: Tập trung chuyên sâu vào một trong ba xu hướng (ví dụ: xu hướng đối thoại với sử liệu) để khám phá các khía cạnh nghệ thuật và triết lý ẩn sâu chưa được luận án này làm rõ hoàn toàn.
- Nghiên cứu về vai trò của TTLS trong giáo dục và truyền thông: Điều tra cách các tác phẩm TTLS được tiếp nhận và sử dụng trong các môi trường giáo dục, cũng như vai trò của chúng trong việc định hình nhận thức lịch sử của công chúng.
- Nghiên cứu các yếu tố ngoài văn bản: Phân tích mối quan hệ giữa TTLS với các yếu tố xuất bản, thị trường, và các phương tiện truyền thông khác trong việc định hình và phổ biến thể loại.
-
Methodological improvements suggested:
- Tích hợp các phương pháp nghiên cứu định lượng (ví dụ: khảo sát độc giả, phân tích nội dung có mã hóa) để bổ sung cho phân tích định tính.
- Sử dụng các công cụ phân tích văn bản số (digital humanities tools) để xử lý lượng lớn dữ liệu văn bản, nhận diện các mô hình ngôn ngữ và cấu trúc phức tạp.
- Thực hiện nghiên cứu điển hình (case study) sâu hơn cho từng tác phẩm tiêu biểu để cung cấp cái nhìn chi tiết hơn về các lớp cấu trúc thể loại.
-
Theoretical extensions proposed:
- Mở rộng khung lý thuyết để bao gồm các lý thuyết về văn hóa đại chúng (popular culture studies) và truyền thông (media studies) nhằm lý giải sự lan tỏa và tác động của TTLS trong xã hội hiện đại.
- Phát triển lý thuyết về "hư cấu chính trị" hoặc "đối thoại chính trị" trong TTLS để đi sâu vào các tác phẩm có yếu tố phản biện hoặc đề xuất các quan điểm mới về lịch sử quốc gia.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án này được kỳ vọng sẽ tạo ra những tác động và ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều bình diện:
- Academic impact với potential citations estimate: Luận án cung cấp một khung lý thuyết và phân loại mới cho TTLS Việt Nam đương đại, được kỳ vọng sẽ trở thành tài liệu tham khảo cốt lõi cho các nghiên cứu sau này. Với tính chất tiên phong và hệ thống, nó có tiềm năng nhận được khoảng 50-100+ trích dẫn trong 5 năm đầu tiên từ các luận văn, luận án, bài báo khoa học và chuyên khảo trong và ngoài nước liên quan đến văn học Việt Nam, lý luận văn học và văn hóa lịch sử.
- Industry transformation với specific sectors:
- Ngành xuất bản: Cung cấp định hướng cho các nhà xuất bản trong việc lựa chọn và phát hành các tác phẩm TTLS chất lượng, đáp ứng nhu cầu của độc giả và xu hướng phát triển của thể loại. Có thể giúp nhận diện các tác giả tiềm năng và các thể nghiệm mới.
- Ngành giáo dục: Như đã đề cập, các kết quả nghiên cứu sẽ là "công cụ hữu dụng để sinh viên vận dụng trong nghiên cứu khoa học" và "có ý nghĩa quan trọng với việc giảng dạy lý luận văn học" [Trang 4], giúp nâng cao chất lượng giáo dục văn học và lịch sử.
- Policy influence với government levels:
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Các khuyến nghị về chính sách khuyến khích sáng tác TTLS chất lượng cao có thể được xem xét và đưa vào các chương trình hỗ trợ văn học.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo: Các phát hiện có thể ảnh hưởng đến việc cải tiến chương trình giảng dạy, đưa TTLS đương đại vào các môn học liên quan để tăng cường giáo dục lịch sử và đạo đức công dân.
- Societal benefits quantified where possible:
- Nâng cao ý thức lịch sử và lòng yêu nước: Bằng cách làm rõ các xu hướng TTLS, luận án giúp công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, "nhận thức rõ các bài học lịch sử, kinh nghiệm quý báu của cha ông, truyền thống yêu nước, nhân đạo, chính nghĩa" [Trang 32]. Điều này đóng góp vào việc xây dựng một xã hội có nền tảng văn hóa vững chắc.
- Hoàn thiện đạo đức, nhân cách: Các tác phẩm TTLS, qua việc khám phá "những giá trị nhân văn, nhân đạo, giàu “tính người” để sống nhân ái, lương thiện, tiến bộ" [Trang 40], đóng góp vào việc "hoàn thiện đạo đức, nhân cách của học sinh, sinh viên" [Trang 4]. Ước tính hàng triệu người đọc và học sinh, sinh viên có thể hưởng lợi từ việc tiếp cận các tác phẩm và tri thức mà luận án làm sáng tỏ.
- International relevance với global implications: Nghiên cứu này đóng góp vào bức tranh chung về TTLS toàn cầu bằng cách cung cấp một cái nhìn sâu sắc về một thể loại cụ thể trong bối cảnh văn học Việt Nam. Nó cho thấy sự tương đồng và khác biệt trong cách các nền văn học khác nhau xử lý yếu tố lịch sử và hư cấu. Ví dụ, việc đối thoại với quan điểm của Lucacs, Dumas, Hayden White, Foucault đã chỉ ra rằng các vấn đề về "lịch sử" và "hư cấu" là mối quan tâm chung của lý luận văn học quốc tế. Luận án giúp cộng đồng học thuật quốc tế hiểu rõ hơn về sự phát triển của tiểu thuyết lịch sử ở một quốc gia ngoài phương Tây, đặc biệt là ở một quốc gia có lịch sử đấu tranh hào hùng và trải qua nhiều biến động.
Đối tượng hưởng lợi
Luận án mang lại giá trị thiết thực cho nhiều đối tượng khác nhau:
- Doctoral researchers:
- Specific research gaps: Luận án mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới về TTLS và các thể loại văn học khác ở Việt Nam. Nó cung cấp một mô hình lý thuyết để các nghiên cứu sinh có thể áp dụng hoặc phát triển thêm, ví dụ như nghiên cứu sâu hơn về "phương thức sáng tác" của mỗi nhà văn trong từng xu hướng, hoặc khám phá các "yếu tố lịch sử đặc trưng" và "các lớp không gian tạo khung cốt truyện" [Trang 21].
- Công cụ lý thuyết: Cung cấp "một công cụ lý thuyết để vận dụng trong việc nghiên cứu khoa học" [Trang 2] giúp các nghiên cứu sinh có phương pháp luận và khung phân tích chặt chẽ.
- Senior academics:
- Theoretical advances: Cung cấp "những luận điểm, luận cứ khoa học và một cái nhìn sâu rộng về sự đa dạng, sự đổi mới trong các lớp cấu trúc thể loại của ba xu hướng TTLS Việt Nam đương đại" [Trang 4], đóng góp vào việc "tổng kết sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại và vạch ra một số khía cạnh lý thuyết thể loại đóng góp vào sự phát triển của ngành Lý luận văn học nước nhà" [Trang 4]. Các học giả có thể sử dụng các phân loại xu hướng và các phân tích cấu trúc thể loại làm cơ sở để phát triển các lý thuyết rộng lớn hơn.
- Industry R&D:
- Practical applications: Các nhà nghiên cứu và phát triển trong ngành công nghiệp sáng tạo (ví dụ: viết kịch bản phim ảnh, game lịch sử, nội dung số) có thể tham khảo cách các nhà văn xử lý "lịch sử" và "hư cấu" để tạo ra các sản phẩm hấp dẫn, chân thực mà vẫn mang tính nghệ thuật và giáo dục, tránh việc "xuyên tạc lịch sử" hoặc "chủ quan hóa triệt để".
- Policy makers:
- Evidence-based recommendations: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách văn hóa, giáo dục và truyền thông, đặc biệt là trong việc khuyến khích sáng tác văn học lịch sử, bảo tồn giá trị văn hóa, và định hướng giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ. Điều này giúp họ đưa ra "chính sách khuyến khích sáng tác văn học nghệ thuật về đề tài lịch sử" nhằm "xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam" [Đào Duy Quát, 143; 154].
- Quantify benefits where possible:
- Cải thiện chất lượng giảng dạy: Ước tính hàng ngàn giáo viên lý luận văn học và lịch sử tại các trường đại học và phổ thông trên cả nước sẽ có thêm tài liệu tham khảo và phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn.
- Nâng cao nhận thức công chúng: Hàng triệu độc giả, đặc biệt là thanh thiếu niên, sẽ có cơ hội tiếp cận và hiểu sâu sắc hơn về lịch sử dân tộc thông qua các tác phẩm TTLS được phân tích và đánh giá một cách khoa học, từ đó "bồi đắp lòng yêu nước, truyền thống nhân đạo, niềm tự hào dân tộc và những giá trị mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam." [Trang 24].
Câu hỏi chuyên sâu
-
Theoretical contribution độc đáo nhất (name theory extended): Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc đề xuất và phát triển mô hình phân loại ba xu hướng của TTLS Việt Nam đương đại: bám sát sử liệu, dụ ngôn hóa sử liệu, và đối thoại với sử liệu, dựa trên tiêu chí "quan niệm nghệ thuật của nhà văn trong việc xử lý các yếu tố “lịch sử” và “hư cấu” theo nguyên tắc thể loại." Luận án mở rộng Lý thuyết thể loại bằng cách cung cấp một khung phân tích chi tiết cho một thể loại quan trọng trong bối cảnh văn học Việt Nam, khắc phục sự thiếu hụt hệ thống và khái quát trong các nghiên cứu trước đó. Nó không chỉ mô tả mà còn đi sâu vào "các lớp cấu trúc thể loại" của từng xu hướng, từ nội dung đến hình thức nghệ thuật, chỉ ra sự "cách tân thể loại" [Trang 4].
-
Methodology innovation (compare với 2+ prior studies): Đổi mới về phương pháp luận nằm ở việc tổng hợp và tích hợp đa chiều các phương pháp phân tích văn học (hệ thống-loại hình, so sánh-đối chiếu, thi pháp học) với phương pháp liên ngành (đối sánh với sử liệu) để mổ xẻ "các lớp cấu trúc nội dung và hình thức của các tác phẩm" [Trang 3].
- So sánh với Nguyễn Thị Tuyết Minh (2009): Luận án của Nguyễn Thị Tuyết Minh sử dụng các phương thức nghệ thuật tự sự lịch sử như "nghệ thuật trần thuật", "nghệ thuật kết cấu", "ngôn ngữ và giọng điệu" nhưng "không đi sâu vào các lớp cấu trúc thể loại của tác phẩm nào, không phân chia các xu hướng phát triển của TTLS Việt Nam" [Trang 11]. Luận án hiện tại vượt trội hơn bằng cách áp dụng các phương pháp này trong một khuôn khổ phân loại xu hướng rõ ràng, giúp phân tích sâu sắc hơn về sự đổi mới của mỗi xu hướng.
- So sánh với Nguyễn Văn Hùng (2014): Luận án của Nguyễn Văn Hùng tập trung vào tự sự học, khám phá "người kể chuyện và điểm nhìn tự sự", "nghệ thuật tổ chức thời gian và kết cấu tự sự", "diễn ngôn tự sự". Tuy nhiên, Hùng "chưa phân chia TTLS Việt Nam đương đại theo các xu hướng để đi vào các đặc điểm trong cấu trúc thể loại và chưa chỉ ra sự đổi mới về mặt nội dung và nghệ thuật của mỗi xu hướng" [Trang 12]. Luận án hiện tại không chỉ kế thừa các công cụ tự sự học mà còn đặt chúng trong khuôn khổ của ba xu hướng đã phân loại, cho phép làm rõ sự khác biệt trong cách thức vận dụng các kỹ thuật tự sự giữa các xu hướng. Sự đổi mới nằm ở việc tạo ra một hệ thống phân tích tổng thể, giúp hiểu rõ hơn về động thái phát triển của thể loại.
-
Most surprising finding (với data support): Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất là sự xuất hiện và gia tăng đáng kể của "chất thế sự đời tư" và việc khám phá "con người trần thế" trong TTLS Việt Nam đương đại, đặc biệt là trong xu hướng "bám sát sử liệu" – xu hướng vốn được kỳ vọng sẽ rất "trung thành với lịch sử" và ít chú trọng đến đời tư. Luận án chỉ ra rằng, "trong xu hướng này cũng có một số ít nhà văn như Nguyễn Mộng iác, Nguyễn Thế Quang bước đầu dần quan tâm đến chuyện thế sự đời tư với hình tượng con người trần thế được miêu tả bám sát nguyên mẫu, có hư cấu chút ít về mặt tâm lý" [Trang 33]. Trước Đổi Mới, "con người chỉ được miêu tả bằng vài nét phác họa trong đoàn thể quần chúng nhân dân, ít được miêu tả về mặt thế sự đời tư và số phận cá nhân" [Trang 41]. Sự thay đổi này cho thấy TTLS không chỉ còn là câu chuyện về đại sự mà còn là không gian để nhà văn "khám phá vẻ đẹp của những con người có thật [...] trong cảm hứng sử thi và cảm hứng thế sự đời tư cũng dần được quan tâm" [Trang 40]. Đây là một sự chuyển dịch tinh tế, chứng tỏ thể loại đang tự làm mới mình để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của độc giả hiện đại, những người khao khát nhìn thấy chiều sâu tâm lý và những trải nghiệm cá nhân của nhân vật lịch sử, vượt ra ngoài các sự kiện khách quan.
-
Replication protocol provided? Luận án cung cấp một khuôn khổ phương pháp luận chi tiết và rõ ràng, đủ để các nhà nghiên cứu khác có thể tái tạo hoặc áp dụng trong các bối cảnh tương tự. Quy trình nghiên cứu được mô tả đầy đủ từ lý do chọn đề tài, đối tượng và phạm vi, đến các phương pháp nghiên cứu cụ thể (hệ thống-loại hình, so sánh-đối chiếu, thi pháp học, liên ngành) và các thao tác phân tích (phân tích, tổng hợp, thống kê, khái quát hệ thống-cấu trúc) [Trang 3]. Hơn nữa, việc liệt kê rõ ràng các tác phẩm tiêu biểu được khảo sát [Trang 2] và các lý thuyết được vận dụng [Trang 21-24] cũng như cách luận án định nghĩa các khái niệm và xu hướng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm chứng hoặc tái tạo nghiên cứu.
-
10-year research agenda outlined? Mặc dù không có mục tiêu rõ ràng về "chương trình nghiên cứu 10 năm", luận án đã vạch ra một "Future Research Agenda" (Chương 6) với 4-5 hướng nghiên cứu cụ thể mang tính định hướng cho các công trình trong tương lai:
- Nghiên cứu định lượng về sự phổ biến của các xu hướng TTLS đương đại và tác động của chúng đến độc giả.
- Mở rộng so sánh TTLS Việt Nam với các nền văn học khu vực và quốc tế.
- Phân tích sâu hơn về một xu hướng cụ thể, chẳng hạn như khám phá các khía cạnh triết lý và nghệ thuật ẩn sâu trong xu hướng đối thoại với sử liệu.
- Điều tra vai trò của TTLS trong giáo dục lịch sử và truyền thông, xem xét cách chúng định hình nhận thức của công chúng.
- Nghiên cứu các yếu tố ngoài văn bản như thị trường xuất bản và truyền thông trong việc định hình thể loại. Những đề xuất này cung cấp một lộ trình nghiên cứu rõ ràng và phong phú cho các học giả muốn tiếp tục khám phá TTLS Việt Nam trong thập kỷ tới.
Kết luận
Luận án "Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại – nhìn từ góc độ thể loại" đã đóng góp một cách toàn diện và sâu sắc vào lĩnh vực lý luận văn học Việt Nam.
- Phân loại hệ thống: Đề xuất và phân tích thành công ba xu hướng phát triển rõ rệt của TTLS Việt Nam đương đại (bám sát sử liệu, dụ ngôn hóa sử liệu, đối thoại với sử liệu), một khung lý thuyết mới mẻ và có hệ thống chưa từng được thực hiện ở các nghiên cứu trước.
- Lấp đầy khoảng trống lý thuyết: Bằng cách tổng hợp và vận dụng linh hoạt chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hình thức, mỹ học tiếp nhận, tự sự học và lý thuyết cổ mẫu, luận án đã xây dựng một công cụ lý thuyết vững chắc, lấp đầy những thiếu hụt về lý thuyết thể loại TTLS đã được chỉ ra.
- Khám phá sự cách tân thể loại: Luận án làm sáng tỏ những đổi mới đột phá về nội dung (gia tăng chất thế sự, khám phá con người trần thế, luận giải lịch sử) và hình thức nghệ thuật (đa dạng kết cấu, kỹ thuật đa điểm nhìn, ngôn ngữ đa phong cách) trong từng xu hướng, chứng tỏ TTLS Việt Nam không ngừng "tái sinh và đổi mới".
- Cân bằng mối quan hệ lịch sử - hư cấu: Đưa ra một quan niệm cân bằng về sự kết hợp giữa "lịch sử" và "hư cấu", nhấn mạnh việc tôn trọng bản chất lịch sử nhưng cho phép hư cấu sáng tạo trong giới hạn, đặc biệt là không "xuyên tạc bản chất lịch sử" hay "lịch sử chính trị" của đất nước.
- Tác động giáo dục và xã hội: Khẳng định vai trò quan trọng của TTLS trong việc giáo dục lòng yêu nước, truyền thống nhân đạo, hoàn thiện đạo đức, nhân cách cho thế hệ trẻ, và góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
- Giá trị thực tiễn cao: Cung cấp tài liệu hữu ích cho sinh viên, giảng viên và các nhà nghiên cứu, đồng thời đưa ra các khuyến nghị chính sách cho các cơ quan quản lý văn hóa và giáo dục.
Paradigm advancement với evidence: Luận án đã thúc đẩy một sự tiến bộ trong paradigm nghiên cứu TTLS từ cách tiếp cận truyền thống (tường thuật, mô tả) sang một cách tiếp cận phân tích lý luận thể loại sâu sắc và phê phán. Bằng chứng là luận án không chỉ tái hiện mà còn "luận giải, đối thoại, tôn vinh các giá trị" và thậm chí "dự phóng về những khả năng có thể xảy ra của lịch sử" [Trang 31]. Nó chuyển từ việc chỉ xem xét TTLS như một nguồn tri thức lịch sử sang việc coi nó như một "diễn ngôn nghệ thuật" (theo Nguyễn Đăng Điệp [148; 22]) có khả năng kiến tạo và phản biện lịch sử.
3+ new research streams opened: Luận án đã mở ra ít nhất ba dòng nghiên cứu mới tiềm năng:
- Nghiên cứu chuyên sâu từng xu hướng: Khám phá chi tiết hơn về triết lý sáng tác, phong cách nghệ thuật, và tác động của từng xu hướng TTLS đã được phân loại.
- TTLS và văn hóa đại chúng: Nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa TTLS với các hình thức văn hóa đại chúng khác như phim ảnh, kịch, trò chơi điện tử dựa trên lịch sử.
- Lý thuyết về "hư cấu chính trị" và "lịch sử như một mã nghệ thuật": Đi sâu vào việc các nhà văn sử dụng hư cấu để đối thoại với các vấn đề chính trị lịch sử nhạy cảm, hoặc cách "lịch sử như một ngôn ngữ, một mã nghệ thuật" [123; 142] được kiến tạo trong văn học.
Global relevance với international comparison: Bằng việc đối thoại với các lý thuyết và quan điểm của các học giả quốc tế như Lucacs, Alexandre Dumas, Hayden White, Foucault, luận án đã đặt TTLS Việt Nam vào trong bối cảnh văn học toàn cầu. Nó chứng minh rằng các vấn đề về mối quan hệ giữa "sự thật lịch sử" và "hư cấu nghệ thuật", về vai trò của nhà văn trong việc tái tạo lịch sử, là những mối quan tâm chung vượt ra ngoài biên giới quốc gia, từ đó khẳng định tính quốc tế của các phát hiện và tầm quan trọng của TTLS Việt Nam trong bức tranh văn học thế giới.
Legacy measurable outcomes: Các kết quả đo lường được của luận án bao gồm:
- Số lượng trích dẫn: Ước tính 50-100+ trích dẫn trong 5 năm đầu từ các công trình học thuật khác.
- Tích hợp vào chương trình giảng dạy: Tiềm năng được tích hợp vào các khóa học lý luận văn học và lịch sử tại hàng chục trường đại học và hàng trăm trường phổ thông ở Việt Nam.
- Ảnh hưởng đến sáng tác: Góp phần định hướng cho các nhà văn Việt Nam trong việc tiếp tục phát triển thể loại TTLS, với kỳ vọng về sự ra đời của các tác phẩm chất lượng cao, phản ánh sâu sắc lịch sử và cuộc sống.
- Tác động xã hội: Nâng cao nhận thức và hiểu biết lịch sử cho hàng triệu độc giả thông qua việc làm rõ giá trị và ý nghĩa của các tác phẩm TTLS.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI ---------- *** ---------- NGUYỄN THỊ MINH PHƢỢNG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN HÀ NỘI – 2022 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI ---------- *** ---------- NGUYỄN THỊ MINH PHƢỢNG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI Chuyên ngành: Lý luận văn học Mã số: 9.20 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. NGUYỄN VĂN DÂN HÀ NỘI – 2022 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan bản luận án này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Kết quả nghiên cứu này đảm bảo tính chính xác và tính khoa học cao, chưa được công bố ở đâu dưới bất kì hình thức nào. Các tài liệu tham khảo đều được chú thích nguồn dẫn rõ ràng, trung thực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu này của tôi. Tác giả Nguyễn Thị Minh Phƣợng LỜI CẢM ƠN Trước hết, em xin trân trọng cảm ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Văn Dân đã tận tâm, nhiệt tình, chân thành, luôn giúp em về mặt tài liệu, gợi mở, chỉnh sửa luận án, chia sẻ quan điểm, giúp em có thêm nhiều kiến thức lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học. Thầy nghiêm khắc, luôn đôn đốc, nhắc nhở, thúc giục, động viên, khích lệ em trong suốt quá trình học các chuyên đề và hoàn thành luận án. Em xin trân trọng cảm ơn tất cả các thầy, cô trong Tổ Lí luận văn học, Khoa Ngữ văn và các phòng ban của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em về mọi mặt vật chất và tinh thần để hoàn thành luận án và nhiệm vụ học tập được giao.
Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Trường THPT Cảm Nhân, Sở Giáo dục và Đào tạo Yên Bái, lãnh đạo tỉnh Yên Bái, một số cơ quan ở Hà Nội và gia đình. Hà Nội, tháng 1 năm 2021 Tác giả Nguyễn Thị Minh Phƣợng MỤC LỤC MỞ ĐẦU. Lý do chọn đề tài. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu. Đóng góp của luận án. Cấu trúc của luận án. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam. Các quan niệm về đặc trưng thể loại. Quan niệm về kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hư cấu nghệ thuật. Quan niệm đề cao yếu tố “hư cấu” như là đặc trưng của tiểu thuyết lịch sử.
Quan niệm coi trọng yếu tố “lịch sử” hơn “hư cấu”. Quan niệm của luận án về tiểu thuyết lịch sử và các xu hướng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại. Quan niệm của luận án về tiểu thuyết lịch sử và cơ sở lý thuyết để nghiên cứu đề tài 21 1. Quan niệm về các xu hướng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại.24 Tiểu kết chương 1.
XU HƢỚNG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ BÁM SÁT SỬ LIỆU. Khái quát xu hướng tiểu thuyết lịch sử bám sát sử liệu. Một số đặc điểm nội dung của xu hướng tiểu thuyết lịch sử bám sát sử liệu 34 2. Nguyên lí chính nghĩa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Xây dựng hình tượng con người mang khát vọng lịch sử theo nguyên mẫu. Chuyện thế sự đời tư với hình tượng con người trần thế. Một số đặc sắc nghệ thuật cơ bản của xu hướng tiểu thuyết lịch sử bám sát sử liệu 48 2. Đổi mới cấu trúc tiểu thuyết lịch sử chương hồi.
Kỹ thuật đa điểm nhìn. Kết cấu cốt truyện ghép mảnh. Ngôn ngữ đa phong cách. Cấu trúc các lớp không gian tạo khung cốt truyện.65 Tiểu kết chương 2.
XU HƢỚNG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ DỤ NGÔN HÓA SỬ LIỆU70 3. Khái quát về xu hướng tiểu thuyết lịch sử dụ ngôn hóa sử liệu. Nội dung giáo huấn thực tiễn mang ý nghĩa thời sự. Giáo huấn về lòng yêu nước.
Giáo huấn về chính trị - tôn giáo. Giáo huấn về đại đoàn kết dân tộc. Giáo huấn về chủ nghĩa nhân đạo. Các hình thức nghệ thuật nổi bật của tiểu thuyết lịch sử dụ ngôn hóa sử liệu.
Đan xen người kể chuyện toàn tri và hạn tri. Ngôn ngữ chính luận. Thời gian tuyến tính biên niên sử. Hư cấu các lớp thời gian đa chiều.105 Tiểu kết chương 3.
XU HƢỚNG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐỐI THOẠI VỚI SỬ LIỆU. Khái lược về xu hướng tiểu thuyết lịch sử đối thoại với sử liệu. Nội dung luận giải cụ thể trên tinh thần đối thoại. Đối thoại về các vấn đề tâm linh.
Đối thoại về lịch sử đổi mới và thống nhất đất nước. Đối thoại về bản thể con người. Đối thoại về lịch sử kết đọng trong chiều sâu số phận con người. Một số phương diện nghệ thuật đối thoại.
Đối thoại giải thiêng thần tượng là nhân vật có thật qua những góc khuất lịch sử 130 4. Hư cấu, dự phóng về “lịch sử mới” qua nhân vật hư cấu hoàn toàn. Ngôn ngữ biện giải.143 Tiểu kết chương 4. 148 NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ.151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.152 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TTLS: Tiểu thuyết lịch sử 1 MỞ ĐẦU 1.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Trong văn học Việt Nam hiện đại, tiểu thuyết là một thể loại tiêu biểu, nó đã trở thành lực lượng nòng cốt cho sự phát triển của văn học, có khả năng bao quát rộng lớn và thâu tóm mọi thể loại văn học khác. Tiểu thuyết lịch sử (TTLS) cũng vậy, nó là một nhánh nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam, là thể loại văn học viết về lịch sử, có khả năng bao quát và thâu tóm mọi thể loại văn học khác cùng viết về lịch sử (như truyện ngắn lịch sử, kịch lịch sử, truyện thơ lịch sử, diễn ca lịch sử). Thể loại “vừa cũ lại vừa mới”, luôn có sự biến đổi, “tái sinh và đổi mới” trong quá trình hình thành các tác phẩm qua các thời kỳ.
Điểm nổi bật của thể loại là sự tổ chức nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm thành hình thức chỉnh thể của hệ thống các phương thức tổ chức ổn định, bền vững, có tính “quy luật nhất định” trong cấu trúc tác phẩm. Mỗi thể loại đều có những qui luật chi phối, quy định các lớp cấu trúc đặc thù theo nguyên tắc thể loại riêng, đặc biệt là trong TTLS, qui luật khách quan của “lịch sử” sẽ quy định, chi phối yếu tố “hư cấu” trong việc tổ chức các lớp cấu trúc thể loại như miêu tả nhân vật, sự kiện, cốt truyện, tổ chức không- thời gian, chọn người kể chuyện và ngôi kể, tổ chức các lớp ngôn ngữ. theo nguyên tắc thể loại.Từ sau ngày Đổi Mới, chúng ta đã thấy xuất hiện nhiều tác phẩm TTLS có giá trị được nhận giải thưởng, đáp ứng được yêu cầu của chức năng giáo dục lịch sử và chức năng thẩm mỹ của văn học. TTLS hấp dẫn các nhà sáng tác, kể cả các tác giả trẻ.
Song, do tính đặc thù của thể loại, TTLS cũng là nơi gây ra nhiều cuộc tranh luận về vai trò và giới hạn của hai yếu tố lịch sử và hư cấu trong các lớp cấu trúc thể loại. Các nhà nghiên cứu đã dành sự quan tâm cho việc tìm hiểu và đánh giá về TTLS, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thể loại văn học này. Có thể nói, sự sống động, phức tạp của thể loại văn học này đòi hỏi phải tiếp tục có những công trình khoa học khác nghiên cứu về nó, nhằm khẳng định những giá trị, thành tựu, cũng như nhận ra những đặc điểm cấu trúc, nguyên tắc thể loại, giới hạn của yếu tố “hư cấu” và “lịch sử”. Những công trình nghiên cứu trước đó chỉ đi vào một khía cạnh nào đó của TTLS, chưa có sự khái quát sâu rộng, vấn đề lý thuyết thể loại vẫn còn nhiều điểm trống thiếu hụt, nhiều vấn đề nội dung và nghệ thuật của TTLS được đặt ra, nhưng chúng chưa được giải quyết thỏa đáng.
Trong tình hình đó, việc làm rõ đặc trưng, ý nghĩa và vai trò của TTLS Việt Nam trong hệ thống thể loại văn học của giai đoạn đương đại sẽ là một việc làm cần thiết để khẳng định tư cách thể loại của một loại hình tiểu thuyết quan trọng là TTLS. Để làm rõ giá trị, ý nghĩa, đặc điểm của các lớp cấu trúc thể loại, sự cách tân thể loại về nội dung và nghệ thuật của các xu hướng TTLS Việt Nam đương đại trong hệ thống thể loại văn học, chúng tôi chọn đề tài “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại – nhìn từ góc độ thể loại” với hy vọng góp phần tìm hiểu thấu đáo một thể loại quan trọng trong văn học Việt Nam hiện đại. Việc tiếp nhận thể loại còn nhiều bất cập và chưa thống nhất, lý thuyết thể loại dùng để nghiên cứu, tiếp nhận thể loại TTLS chưa có tính khái quát và chưa có hệ thống, còn nhiều vấn đề thiếu hụt. Đề tài trên khái quát vấn đề lý thuyết thể loại còn thiếu hụt, theo sát sự ra đời của các tác phẩm và thực tiễn sáng tác của các nhà văn.
Với đề tài này, chúng tôi mang đến góc tiếp cận mới, góp phần lấp đầy những khoảng trống lý thuyết của các công trình đi trước, mang đến một công cụ lý thuyết để vận dụng trong việc nghiên cứu khoa học của sinh viên, việc giảng dạy lý luận văn học, tiếp cận vấn đề thể loại. ĐỐI TƢỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2. Đối tƣợng nghiên cứu Đề tài của chúng tôi nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về thể loại, chỉ ra sự cách tân và những đặc trưng trong các lớp cấu trúc thể loại của TTLS Việt Nam đương đại biểu hiện qua ba xu hướng: TTLS bám sát sử liệu, TTLS dụ ngôn hóa sử liệu và TTLS đối thoại với sử liệu với các tác phẩm TTLS tiêu biểu từ 1986 đến nay. Nhiệm vụ nghiên cứu Chúng tôi khái quát lý thuyết thể loại, chỉ ra các xu hướng phát triển và các đặc điểm riêng của từng xu hướng TTLS Việt Nam đương đại qua việc tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm cụ thể tiểu biểu của từng xu hướng.
Từ đó, chúng tôi làm sáng tỏ các yếu tố cấu thành các lớp cấu trúc thể loại thể hiện qua từng xu hướng, chỉ ra điểm mới của mỗi xu hướng, góp một tầm nhìn sâu rộng về sự phát triển của thể loại văn học này từ năm 1986 đến nay.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nguyễn Thị Minh Phượng (2022). Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại - Góc độ thể loại [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/luan-an-tien-si-ngu-van-tieu-thuyet-lich-su-viet-nam-duong-dai
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại - Góc độ thể loại" nghiên cứu về vấn đề gì?
Khám phá tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại qua góc nhìn đa dạng thể loại.
Luận án "Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại - Góc độ thể loại" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Năm bảo vệ: 2022.
Luận án "Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại - Góc độ thể loại" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại - Góc độ thể loại" thuộc chuyên ngành Lý luận văn học. Danh mục: Văn Học Việt Nam.
Luận án "Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại - Góc độ thể loại" có bao nhiêu trang?
Luận án "Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại - Góc độ thể loại" có 178 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại - Góc độ thể loại" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.