Luận án tiến sĩ: Phân loại truyện kể trong văn xuôi Việt Nam 1930-1945

Nghiên cứu chuyên sâu về các thể loại truyện kể trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945, phản ánh đặc trưng lịch sử và xã hội đương thời.

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ

Năm xuất bản

Số trang

176

Thời gian đọc

27 phút

Lượt xem

1

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Nghiên cứu loại hình truyện kể văn xuôi Việt Nam 1930-1945
Số trang:
176 trang
Trường:
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành:
Lý luận Văn học
Tác giả:
Năm:

Tóm tắt nội dung luận án

I.Nghiên cứu loại hình truyện kể văn xuôi Việt Nam 1930 1945

Luận án tiến sĩ này phân tích các loại hình truyện kể. Đối tượng là văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Nghiên cứu xác định nhu cầu phân loại tác phẩm văn học. Nhu cầu này có chiều sâu lịch sử, từ thời Aristote đến Hegel. Các mô hình lí thuyết khác nhau đã được phát triển. Bakhtin nghiên cứu tiểu thuyết và sử thi. Propp khám phá truyện cổ tích thần kỳ. Luận án vận dụng di sản khoa học của Iu. Lotman. Trường phái cấu trúc-ký hiệu học Tartu là cơ sở. Mục tiêu là xây dựng mô hình lí thuyết hiệu quả. Mô hình này giúp nghiên cứu các loại hình truyện kể trong nền văn học Việt Nam. Đây là ý nghĩa lí thuyết quan trọng của công trình. Chất liệu khảo sát chính là văn xuôi Việt Nam giai đoạn tiền chiến.

1.1. Lý do nghiên cứu và cơ sở lí thuyết

Công trình có ý nghĩa lí thuyết sâu sắc. Việc phân loại sáng tác văn học là nhu cầu lịch sử. Các mô hình lí thuyết nổi tiếng đã được biết đến. Aristote và Hegel đều phân loại văn học thành tự sự, kịch, trữ tình. Mô hình của Bakhtin về không-thời gian nghệ thuật. Mô hình của Propp về chức năng nhân vật. Luận án áp dụng lí thuyết của Iu. Lotman. Trường phái cấu trúc-ký hiệu học Tartu là nền tảng. Mục đích là xây dựng mô hình lí thuyết mới. Mô hình này dùng để nghiên cứu các loại hình truyện kể Việt Nam. Đây là đóng góp chính về mặt lí thuyết văn học.

1.2. Tổng quan tình hình và các vấn đề liên quan

Nghiên cứu tổng quan khái niệm loại hình truyện kể. Lịch sử nghiên cứu vấn đề này được điểm lại kỹ lưỡng. Lí thuyết truyện kể được xem xét. Nó là tổ chức không gian kí hiệu học. Phương pháp này giúp hiểu sâu hơn các tác phẩm văn xuôi Việt Nam. Giai đoạn 1930-1945 là trọng tâm khảo sát. Văn học tiền chiến được phân tích từ góc độ loại hình. Điều này cung cấp cái nhìn mới mẻ về cấu trúc. Nó làm rõ ý nghĩa của truyện kể Việt Nam.

II.Loại hình truyện kể lãng mạn trong văn học 1930 1945

Loại hình truyện kể lãng mạn là một phần quan trọng của văn xuôi Việt Nam 1930-1945. Khái niệm này được xác định rõ ràng. Không gian của truyện kể lãng mạn thường là không gian 'khởi cuộc'. Đây là nơi các nhân vật bắt đầu hành trình. Câu chuyện về người chiến thắng là đặc trưng. Các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn thường thể hiện rõ điều này. Nhiều tiểu thuyết Việt Nam và truyện ngắn Việt Nam giai đoạn này thuộc loại hình này. Bức tranh thế giới lãng mạn thường mang tính lưỡng phân. Giá trị nhân sinh là điểm tựa định hướng chính. Nhân vật được xem như một hệ thống chức năng truyện kể. Trục nhân vật chính gồm người chinh phục và kẻ cản trở. Nhân vật phụ hỗ trợ cho câu chuyện chính.

2.1. Khái niệm và không gian khởi cuộc

Truyện kể lãng mạn có khái niệm riêng biệt. Không gian của loại hình này được gọi là 'khởi cuộc'. Đây là bối cảnh cho những câu chuyện về sự khởi đầu. Nhân vật thường dấn thân vào những cuộc phiêu lưu. Họ đối mặt thử thách và đạt được thành công. Câu chuyện về người chiến thắng là cốt lõi. Văn học lãng mạn 1930-1945 chứa nhiều tác phẩm như vậy. Các nhà văn Tự Lực Văn Đoàn đóng vai trò lớn. Họ định hình thể loại tiểu thuyết Việt Nam và truyện ngắn Việt Nam lãng mạn.

2.2. Bức tranh thế giới và nhân vật chính diện

Bức tranh thế giới trong truyện kể lãng mạn thường lưỡng phân. Tốt và xấu, thiện và ác đối lập rõ rệt. Nhân sinh là điểm tựa định hướng giá trị. Giá trị con người được đề cao. Nhân vật hoạt động như một hệ thống chức năng. Trục nhân vật chính gồm người chinh phục và kẻ cản trở. Người chinh phục là nhân vật anh hùng. Kẻ cản trở là thế lực đối lập. Các nhân vật phụ đóng vai trò hỗ trợ. Họ giúp làm nổi bật hành trình của nhân vật chính.

III.Truyện kể bi kịch Hiện thực phê phán văn xuôi 1930 1945

Truyện kể bi kịch là loại hình quan trọng trong văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Khái niệm này gắn liền với sự thảm bại. Không gian truyện kể bi kịch là không gian 'chung cục'. Nó mô tả những kết cục đau khổ. Câu chuyện về sự thảm bại phổ biến. Các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng và Nam Cao là ví dụ điển hình. Nhiều tiểu thuyết Việt Nam và truyện ngắn Việt Nam giai đoạn này phản ánh bi kịch xã hội. Bức tranh thế giới thường nhị phân. Dân sinh là điểm tựa định hướng giá trị chính. Nhân vật cũng là một hệ thống chức năng. Trục nhân vật chính gồm ác bá và nạn nhân. Nhân vật phụ góp phần vào bi kịch chung.

3.1. Khái niệm và không gian chung cục

Truyện kể bi kịch có khái niệm đặc trưng. Không gian của nó là 'chung cục'. Không gian này miêu tả sự kết thúc bi thảm. Câu chuyện thường xoay quanh sự thảm bại. Các nhân vật phải đối mặt với số phận nghiệt ngã. Văn học hiện thực phê phán Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Nhiều tiểu thuyết Việt Nam và truyện ngắn Việt Nam thể hiện bi kịch này. Các tác giả như Vũ Trọng Phụng và Nam Cao là những đại diện tiêu biểu. Họ khắc họa nỗi đau và sự bế tắc của con người thời tiền chiến.

3.2. Thế giới nhị phân và điểm tựa dân sinh

Bức tranh thế giới trong truyện kể bi kịch thường nhị phân. Xã hội chia thành kẻ thống trị và người bị áp bức. Dân sinh là điểm tựa định hướng giá trị. Cuộc sống của người dân lao động được chú trọng. Nhân vật được tổ chức theo hệ thống chức năng. Trục nhân vật chính gồm ác bá và nạn nhân. Ác bá là những kẻ gây ra tội ác. Nạn nhân là người chịu đựng đau khổ. Các nhân vật phụ tô đậm thêm mâu thuẫn xã hội. Đây là đặc điểm của văn học tiền chiến phê phán.

IV.Phân tích loại hình truyện kể trào phúng văn xuôi 1930 1945

Loại hình truyện kể trào phúng mang tính phê phán sâu sắc. Khái niệm này xoay quanh sự chế giễu. Không gian của truyện kể trào phúng là không gian 'đương đại đang tiếp diễn'. Nó phản ánh thực tại xã hội. Câu chuyện về cái nực cười là chủ đạo. Văn học tiền chiến có nhiều tác phẩm trào phúng. Phóng sự Việt Nam và bút ký văn học thường mang màu sắc này. Bức tranh thế giới như một sân khấu hài đời. Trạng thái phong hóa là điểm tựa định hướng giá trị. Nhân vật có chức năng truyện kể riêng. Những chân dung biếm họa phổ biến. Nhân vật con rối trên sân khấu hài và nhân vật tư tưởng trong sân khấu nội tâm cũng xuất hiện. Vũ Trọng Phụng là bậc thầy của thể loại này.

4.1. Khái niệm và không gian đương đại

Truyện kể trào phúng có khái niệm riêng biệt. Nó tập trung vào việc gây cười và châm biếm. Không gian của loại hình này là 'đương đại đang tiếp diễn'. Các tác phẩm phản ánh trực tiếp xã hội thời bấy giờ. Câu chuyện về cái nực cười là trung tâm. Những thói hư tật xấu bị phơi bày. Phóng sự Việt Nam và bút ký văn học là các hình thức phổ biến. Chúng thường sử dụng giọng điệu trào phúng để phê phán. Văn học tiền chiến đầy rẫy những tiếng cười mỉa mai.

4.2. Thế giới sân khấu hài và nhân vật biếm họa

Bức tranh thế giới được xây dựng như một sân khấu hài đời. Mọi sự kiện, con người đều là đối tượng châm biếm. Trạng thái phong hóa là điểm tựa định hướng giá trị. Sự xuống cấp đạo đức xã hội bị lên án. Nhân vật có các chức năng cụ thể. Những chân dung biếm họa nổi bật. Nhân vật con rối trên sân khấu hài tượng trưng cho sự phụ thuộc. Nhân vật tư tưởng trong sân khấu nội tâm thể hiện đấu tranh tư tưởng. Vũ Trọng Phụng là ví dụ điển hình với phong cách này.

Mục lục chi tiết luận án

MỞ ĐẦU
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ
1.1. Khái niệm loại hình truyện kể
1.2. Lịch sử nghiên cứu loại hình truyện kể
1.2.1. Ở nước ngoài
1.3. Lí thuyết truyện kể như là tổ chức không gian kí hiệu học của Iu.Lotman
2. CHƯƠNG 2: LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ LÃNG MẠN
2.1. Khái niệm truyện kể lãng mạn
2.2. Không gian của cái “khởi cuộc” và câu chuyện về người chiến thắng
2.2.1. Khung: truyện kể về cái “khởi cuộc”
2.2.2. Câu chuyện về người chiến thắng
2.3. Bức tranh thế giới và điểm tựa định hướng giá trị
2.3.1. Bức tranh thế giới lưỡng phân
2.3.2. Nhân sinh như là điểm tựa định hướng giá trị
2.4. Nhân vật như một hệ thống chức năng truyện kể
2.4.1. Trục nhân vật chính: Người chinh phục và kẻ cản trở
2.4.2. Trục nhân vật phụ
3. CHƯƠNG 3: LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ BI KỊCH
3.1. Khái niệm truyện kể bi kịch
3.2. Không gian của cái “chung cục” và câu chuyện về sự thảm bại
3.2.1. Khung: truyện kể về cái “chung cục”
3.2.2. Câu chuyện về sự thảm bại
3.3. Bức tranh thế giới và điểm tựa định hướng giá trị
3.3.1. Bức tranh thế giới nhị phân
3.3.2. Dân sinh như là điểm tựa định hướng giá trị
3.4. Nhân vật như một hệ thống chức năng truyện kể
3.4.1. Trục nhân vật chính: Ác bá và nạn nhân
3.4.2. Trục nhân vật phụ
4. CHƯƠNG 4: LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ TRÀO PHÚNG
4.1. Khái niệm truyện kể trào phúng
4.2. Không gian của cái “đương đại” và câu chuyện về cái nực cười
4.2.1. Khung: truyện kể về cái “đương đại đang tiếp diễn”
4.2.2. Câu chuyện về cái nực cười
4.3. Bức tranh thế giới và điểm tựa định hướng giá trị
4.3.1. Bức tranh thế giới - sân khấu hài đời
4.3.2. Trạng thái phong hoá như là điểm tựa định hướng giá trị
4.4. Nhân vật và chức năng truyện kể
4.4.1. Những chân dung biếm họa
4.4.2. Những nhân vật con rối trên sân khấu hài
4.4.3. Nhân vật tư tưởng trong sân khấu nội tâm
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI CAM ĐOAN
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Loại hình truyện kể qua văn xuôi việt nam 1930 1945

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (176 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI ------  ------ PHÙNG QUÝ SƠN LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ (QUA VĂN XUÔI VIỆT NAM 1930 - 1945) LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN HÀ NỘI, NĂM 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI ------  ------ PHÙNG QUÝ SƠN LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ (QUA VĂN XUÔI VIỆT NAM 1930 - 1945) Chuyên ngành: Lí luận văn học Mã số: 62.20 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LA KHẮC HÒA HÀ NỘI, NĂM 2013 MỤC LỤC MỞ ĐẦU. Lý do chọn đề tài. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu.

Đóng góp của luận án. Cấu trúc của luận án. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ 5 LIÊN QUAN ĐẾN LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ. Khái niệm loại hình truyện kể.

Lịch sử nghiên cứu loại hình truyện kể. Lí thuyết truyện kể như là tổ chức không gian kí hiệu học của 19 Iu. LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ LÃNG MẠN. Khái niệm truyện kể lãng mạn.

Không gian của cái “khởi cuộc” và câu chuyện về người chiến thắng. Khung: truyện kể về cái “khởi cuộc”. Câu chuyện về người chiến thắng. Bức tranh thế giới và điểm tựa định hướng giá trị.

Bức tranh thế giới lưỡng phân. Nhân sinh như là điểm tựa định hướng giá trị. Nhân vật như một hệ thống chức năng truyện kể. Trục nhân vật chính: Người chinh phục và kẻ cản trở.

Trục nhân vật phụ. LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ BI KỊCH. Khái niệm truyện kể bi kịch. Không gian của cái “chung cục” và câu chuyện về sự thảm bại.

Khung: truyện kể về cái “chung cục”. Câu chuyện về sự thảm bại. Bức tranh thế giới và điểm tựa định hướng giá trị. Bức tranh thế giới nhị phân.

Dân sinh như là điểm tựa định hướng giá trị. Nhân vật như một hệ thống chức năng truyện kể. Trục nhân vật chính: Ác bá và nạn nhân. Trục nhân vật phụ.

LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ TRÀO PHÚNG. Khái niệm truyện kể trào phúng. Không gian của cái “đương đại” và câu chuyện về cái nực cười. Khung: truyện kể về cái “đương đại đang tiếp diễn”.

Câu chuyện về cái nực cười. Bức tranh thế giới và điểm tựa định hướng giá trị. Bức tranh thế giới - sân khấu hài đời. Trạng thái phong hoá như là điểm tựa định hướng giá trị.

Nhân vật và chức năng truyện kể. Những chân dung biếm họa. Những nhân vật con rối trên sân khấu hài. Nhân vật tư tưởng trong sân khấu nội tâm.

148 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN. 152 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 155 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả được nêu trong Luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào.

Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2013 TÁC GIẢ LUẬN ÁN PHÙNG QUÝ SƠN 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1. Luận án Loại hình truyện kể (qua văn xuôi Việt Nam 1930 - 1945) của chúng tôi trước hết là một công trình nghiên cứu có ý nghĩa lí thuyết.

Hơn hai nghìn ba trăm năm trước, từ thời cổ đại, Aristote (384 - 322 Tr.CN) đã chia sáng tác văn học thành các loại tự sự, kịch và trữ tình. Nhắc lại như thế để thấy, nhu cầu phân loại sáng tác trong nghiên cứu văn học là nhu cầu có chiều sâu lịch sử. Hiển nhiên là muốn phân loại sáng tác văn học, cần xây dựng được mô hình lí thuyết phân loại. Hegel (1770 - 1831), nhà triết học cổ điển Đức cũng chia sáng tác văn học thành ba loại tự sự, kịch và trữ tình như Aristote, nhưng điểm tựa lí thuyết của Aristote là triết học bắt chước, còn mô hình lí thuyết của của Hegel là triết học duy tâm khách quan và phép tam đoạn luận.

Ý thức phân loại hoạt động lời nói cùng nghệ thuật ngôn từ cũng như tư duy loại hình đã xuất hiện trong thi pháp học và tu từ học từ thời cổ đại, nhưng phải đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, hướng tiếp cận loại hình học trong nghiên cứu văn học mới thực sự trở thành nguyên tắc phương pháp luận khoa học. Chúng ta từng biết tới những mô hình lí thuyết nổi tiếng, ví như mô hình cấu trúc ba thành phần (phong cách lời văn, toạ độ không - thời gian của hình tượng và khu vực tiếp giáp của thế giới nghệ thuật với cái đương đại đang tiếp diễn) được dựa vào để phân loại tiểu thuyết và sử thi của M.Bakhtin; mô hình chức năng và vai nhân vật được dựa vào để nghiên cứu cấu trúc truyện cổ tích thần kì của V.Propp; hay mô hình thể tài dựa vào bốn loại hình nội dung (thần thoại, dân tộc - lịch sử, phong tục - thế sự và đời tư) để nghiên cứu lịch sử văn học của G. Ở Việt Nam, mấy chục năm trở lại đây, giới nghiên cứu của chúng ta, nhất là nghiên cứu sinh, học viên cao học đã vận dụng khá thành công các mô hình lí thuyết ấy vào việc nghiên cứu văn học dân tộc. Bản thân chúng tôi từ lâu cũng ấp ủ ý đồ vận dụng di sản khoa học đồ sộ của Iu.

Lotman và trường phái cấu trúc - kí hiệu học Tartu để xây dựng một mô hình lí thuyết ngõ hầu nghiên cứu hiệu quả các loại hình truyện kể của nền văn học Việt Nam. Đây chính là ý nghĩa lí thuyết của đề tài luận án, nếu nó được thực hiện thành công trong công trình nghiên cứu này. Chất liệu mà luận án sẽ khảo sát, phân tích để xây dựng các mô hình truyện kể về mặt lí thuyết là văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945. Từ đầu thế kỉ XX, văn học Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại hóa và đến những năm 1930, nền văn học ấy đã tạo ra nhiều tác phẩm vươn tới giá trị cổ điển.

Nếu văn học 2 trung đại là văn học của cái điển mẫu, thi pháp văn học trung đại trước hết là thi pháp thể loại, thì văn học hiện đại là văn học của cá tính sáng tạo, thi pháp văn học hiện đại trước hết là thi pháp tác giả. Rõ ràng, so với văn học trung đại, văn học hiện đại thuộc hệ hình ý thức nghệ thuật cực kì phức tạp. Chọn văn xuôi 1930- 1945 làm chất liệu khái quát hóa lí thuyết, chúng tôi không thể không đứng trên quan điểm lịch sử để tiếp cận đối tượng phân tích. Nghĩa là, chúng tôi vừa phải khảo sát kĩ lưỡng, cụ thể văn xuôi 1930 - 1945, vừa tiến hành so sánh giai đoạn văn học này với sáng tác ở các giai đoạn khác như là so sánh các loại hình lịch sử văn học khác nhau.

Về phương diện này, ngoài ý nghĩa lí thuyết, đề tài luận án còn có cả ý nghĩa lịch sử văn học. Xây dựng mô hình lí thuyết để nghiên cứu và giảng dạy lịch sử văn học bao giờ cũng là yêu cầu bức thiết đối với bộ môn lí luận văn học. Đây là cơ sở để chúng tôi có thể nói tới tính thời sự và ý nghĩa sư phạm mà đề tài luận án có thể đem lại. Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: Loại hình truyện kể (qua văn xuôi Việt Nam 1930 - 1945).

Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 2. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Loại hình truyện kể qua khảo sát văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận án tập trung giải quyết hai nhiệm vụ khoa học cơ bản như sau: - Thứ nhất: vận dụng di sản khoa học đồ sộ của Iu. Lotman và trường phái cấu trúc - kí hiệu học Tartu để xây dựng một mô hình lí thuyết mà trước hết là xác định các hạt nhân cấu trúc tạo thành các loại hình truyện kể như là loại hình cấu trúc của các không gian kí hiệu học.

- Thứ hai: Dựa vào mô hình lí thuyết nói trên, luận án sẽ xây dựng mô hình cấu trúc của ba loại hình truyện kể tiêu biểu trong văn xuôi tự sự Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 là truyện kể lãng mạn, truyện kể bi kịch và truyện kể trào phúng. Phạm vi nghiên cứu - Về mặt lí thuyết: Bên cạnh việc khai thác lí thuyết truyện kể của Iu.Lotman và trường phái cấu trúc - kí hiệu học Tartu, đề tài còn vận dụng những quan điểm lí luận về thể loại, nguyên tắc và cách thức phân chia thể loại văn học, lí thuyết cấu 3 trúc - loại hình. của một số nhà nghiên cứu như V. ở những chừng mực nhất định.

- Phạm vi sáng tác văn học được khảo sát: Từ quan niệm về loại hình truyện kể, chúng tôi tập trung khảo sát những tác phẩm văn xuôi ở hai thể loại tiêu biểu là tiểu thuyết và truyện ngắn. Tác phẩm lựa chọn chủ yếu là của những nhà văn được giới thiệu trong chương trình giảng dạy các bậc học và được giới lí luận phê bình văn học đánh giá cao như: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Trần Tiêu, Lê Văn Trương, Lan Khai, Thế Lữ, Lý Văn Sâm, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài, Bùi Hiển, Mạnh Phú Tư, Nguyễn Đình Lạp. Phương pháp nghiên cứu Do đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sẽ vận dụng linh hoạt một số phương pháp nghiên cứu sau: 3. Phương pháp loại hình: Theo Từ điển bách khoa Xô viết do A.Prokhorov chủ biên thì: “Loại hình học là phương pháp khoa học được sử dụng nhằm mục đích nghiên cứu so sánh các thuộc tính bản chất, các dấu hiệu, các mối liên hệ, quan hệ, các chức năng, các cấp độ tổ chức của các đối tượng.

Cơ sở của phương pháp khoa học này là dựa vào các kiểu hoặc mô hình tổng quát của các đối tượng để chia tách thành các nhóm và các hệ thống của đối tượng ấy. Loại hình học sử dụng những hình thức logic cơ bản như kiểu, phân loại, phân cấp, hệ thống hoá”. Phương pháp hệ thống: nghiên cứu loại hình truyện kể cần một cái nhìn hệ thống. Bởi lẽ, mỗi tác phẩm, mỗi giai đoạn văn học đều có sự đan cài của các thể loại.

Hệ thống hóa sẽ giúp chúng tôi lí giải cấu trúc và sự vận động của các loại hình truyện kể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Phùng Quý Sơn (2013). Loại hình truyện kể qua văn xuôi Việt Nam 1930-1945 [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/loai-hinh-truyen-ke-van-xuoi-viet-nam-1930-1945

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Loại hình truyện kể qua văn xuôi Việt Nam 1930-1945" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu chuyên sâu về các thể loại truyện kể trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945, phản ánh đặc trưng lịch sử và xã hội đương thời.

Luận án "Loại hình truyện kể qua văn xuôi Việt Nam 1930-1945" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Năm bảo vệ: 2013.

Luận án "Loại hình truyện kể qua văn xuôi Việt Nam 1930-1945" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Loại hình truyện kể qua văn xuôi Việt Nam 1930-1945" thuộc chuyên ngành Lí luận văn học. Danh mục: Văn Học Việt Nam.

Luận án "Loại hình truyện kể qua văn xuôi Việt Nam 1930-1945" có bao nhiêu trang?

Luận án "Loại hình truyện kể qua văn xuôi Việt Nam 1930-1945" có 176 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Loại hình truyện kể qua văn xuôi Việt Nam 1930-1945" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter