Luận án Truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945 nhìn từ lý thuyết tự sự - Phạm Thị Lương

Luận án tiến sĩ phân tích truyện ngắn hiện thực Việt Nam giai đoạn 1932-1945 thông qua lăng kính lý thuyết tự sự, làm rõ đặc điểm cấu trúc và ngôn kể chuyện.

Chuyên ngành

Lý luận văn học

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ văn học

Năm xuất bản

Số trang

206

Thời gian đọc

31 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I. Tổng quan nghiên cứu tự sự học trong truyện ngắn hiện thực

Luận án này khái quát tình hình nghiên cứu. Nó tập trung vào sự phát triển của lý thuyết tự sự học. Nghiên cứu xem xét cách lý thuyết này được áp dụng cho truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945. Phân tích này đặt nền tảng cho việc khám phá sâu hơn các khía cạnh tự sự. Nó chỉ ra những khoảng trống trong nghiên cứu hiện có. Mục tiêu là cung cấp một góc nhìn mới mẻ.

1.1. Thành tựu tự sự học thế giới và Việt Nam

Tự sự học (narratology) nghiên cứu các vấn đề lý luận về truyện kể. Nó khám phá các kiểu người kể chuyện. Nó chỉ ra các yếu tố cấu trúc và phương thức kết hợp. Các thủ pháp tự sự và phân tích diễn ngôn cũng được đề cập. Lý thuyết tự sự đã có nhiều biến đổi. Công trình của Aristotle là khởi đầu. The Rhetoric of Fiction (1961) đánh dấu bước tiến hiện đại. Tại Việt Nam, tự sự học ngày càng được quan tâm. Các nhà nghiên cứu áp dụng nó để phân tích văn học Việt Nam.

1.2. Tình hình nghiên cứu truyện ngắn 1932 1945

Nghiên cứu về truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945 diễn ra qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn trước năm 1945 có những cách tiếp cận riêng. Từ 1945 đến 1986, quan điểm thay đổi. Giai đoạn 1986 đến 2000 mở ra nhiều hướng mới. Từ 2000 đến nay, các nghiên cứu sâu hơn. Tự sự học mang đến phương pháp luận mới. Nó giúp phân tích cấu trúc nội tại tác phẩm. Luận án này tổng kết và nhận định chung về tình hình nghiên cứu.

II. Dạng thức tổ chức tự sự truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932 1945

Chương này đi sâu vào các dạng thức tổ chức tự sự. Nó phân tích kết cấu tự sự, truyện kể nghệ thuật và tình huống truyện. Các yếu tố này định hình cách kể chuyện. Chúng ảnh hưởng đến trải nghiệm của độc giả. Việc tìm hiểu các dạng thức này giúp làm rõ giá trị nghệ thuật. Nó cũng cho thấy cách các nhà văn phản ánh hiện thực xã hội. Mỗi yếu tố đóng góp vào sự phức tạp của tác phẩm.

2.1. Kết cấu tự sự và nghệ thuật tổ chức

Kết cấu là cách sắp xếp các thành phần của tác phẩm. Nó quyết định hình thức tổng thể của truyện ngắn. Quan niệm về kết cấu trong tác phẩm tự sự rất đa dạng. Nghệ thuật tổ chức kết cấu trong truyện ngắn hiện thực 1932-1945 phong phú. Các nhà văn sử dụng nhiều thủ pháp. Họ tạo ra sự mạch lạc hoặc đứt đoạn. Kết cấu có thể tuyến tính hoặc phi tuyến tính. Sự sắp đặt này tạo ra hiệu ứng thẩm mỹ đặc biệt.

2.2. Các dạng thức truyện kể chính

Truyện kể là chuỗi sự kiện được trình bày. Lý thuyết về truyện kể giúp hiểu rõ bản chất. Nó khác với cốt truyện (plot). Các dạng thức truyện kể trong truyện ngắn hiện thực 1932-1945 đa dạng. Có truyện kể theo trình tự thời gian. Có truyện kể sử dụng hồi ức hoặc dự báo. Lựa chọn dạng thức truyện kể ảnh hưởng đến nhịp độ. Nó định hướng cách độc giả tiếp nhận thông tin.

2.3. Vai trò của tình huống truyện

Tình huống truyện là một sự kiện đặc biệt. Nó đẩy nhân vật vào hoàn cảnh thử thách. Quan niệm về tình huống truyện trong tự sự học rất quan trọng. Tình huống trong truyện ngắn hiện thực 1932-1945 thường gai góc. Nó phản ánh những mâu thuẫn xã hội. Tình huống giúp bộc lộ tính cách nhân vật. Nó cũng làm nổi bật chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Đây là yếu tố then chốt tạo kịch tính.

III. Người kể chuyện trong truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932 1945

Chương này tập trung vào vai trò của người kể chuyện. Nó xác định các đặc điểm và dạng thức. Người kể chuyện định hình cách câu chuyện được truyền tải. Nó tác động đến góc nhìn của độc giả. Phân tích này làm rõ các lựa chọn nghệ thuật của tác giả. Nó giải thích tại sao một câu chuyện lại có sức hút riêng. Sự hiện diện của người kể chuyện là yếu tố then chốt trong mọi tác phẩm tự sự.

3.1. Nhận diện người kể chuyện và yếu tố cơ bản

Người kể chuyện là giọng kể trong tác phẩm. Nó không đồng nhất với tác giả thực. Giới thuyết về người kể chuyện giúp phân biệt. Các yếu tố cơ bản giúp nhận diện. Đó là ngôi kể, điểm nhìn và phạm vi tri thức. Người kể chuyện có thể tham gia vào câu chuyện. Hoặc đứng ngoài quan sát. Sự lựa chọn này quyết định mức độ khách quan. Nó ảnh hưởng đến thông tin được cung cấp.

3.2. Các dạng thức người kể chuyện phổ biến

Truyện ngắn hiện thực 1932-1945 thể hiện nhiều dạng thức người kể chuyện. Người kể chuyện ngôi thứ ba rất phổ biến. Nó có thể mang điểm nhìn bên ngoài, bên trong hoặc phức hợp. Điểm nhìn bên ngoài tạo sự khách quan. Điểm nhìn bên trong đi sâu vào tâm lý. Người kể chuyện ngôi thứ nhất mang đến cái nhìn chủ quan. Nó có điểm nhìn đơn tuyến hoặc đa tuyến. Đôi khi có sự kết hợp ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba. Điều này tạo ra điểm nhìn dịch chuyển. Các dạng thức này làm phong phú lối kể.

IV. Diễn ngôn tự sự truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932 1945

Chương này phân tích diễn ngôn tự sự. Nó nghiên cứu lời người kể chuyện và lời nhân vật. Diễn ngôn là cách ngôn ngữ được sử dụng. Nó không chỉ là từ ngữ mà còn là giọng điệu và mục đích. Phân tích diễn ngôn làm sáng tỏ cách ý nghĩa được xây dựng. Nó cho thấy cách các tác phẩm phản ánh thực tế xã hội. Kỹ thuật tổ chức diễn ngôn là chìa khóa tạo nên sự hấp dẫn.

4.1. Khái niệm diễn ngôn và tiếp cận tự sự học

Diễn ngôn là một khái niệm phức tạp. Nó đề cập đến ngôn ngữ trong bối cảnh cụ thể. Tiếp cận diễn ngôn từ lý thuyết tự sự là một phương pháp hiệu quả. Nó giúp phân tích các lớp nghĩa trong văn bản. Diễn ngôn không chỉ là cái được nói. Nó bao gồm cả cách nói và mục đích giao tiếp. Nghiên cứu diễn ngôn làm sâu sắc sự hiểu biết. Nó mở ra những góc nhìn mới về cấu trúc văn bản.

4.2. Diễn ngôn người kể chuyện và nhân vật

Diễn ngôn người kể chuyện chi phối cấu trúc tác phẩm. Nó gồm thành phần trần thuật và thành phần miêu tả. Trần thuật kể lại sự kiện. Miêu tả khắc họa không gian và con người. Diễn ngôn của nhân vật bao gồm đối thoại và độc thoại. Diễn ngôn đối thoại thể hiện tương tác. Nó bộc lộ tính cách và xung đột. Diễn ngôn độc thoại đi sâu vào nội tâm. Nó thể hiện suy nghĩ và cảm xúc riêng của nhân vật.

4.3. Nghệ thuật tổ chức diễn ngôn tự sự

Các tác giả truyện ngắn hiện thực 1932-1945 có nghệ thuật tổ chức diễn ngôn tinh tế. Họ đan cài, lồng ghép lời người kể chuyện với lời của nhân vật. Kỹ thuật này tạo ra sự đa chiều cho văn bản. Nó làm mờ ranh giới giữa giọng kể và giọng nhân vật. Việc gia tăng kết hợp lời người kể chuyện và lời độc thoại rất phổ biến. Đặc biệt là dưới dạng nửa trực tiếp. Điều này giúp khắc họa tâm lý sâu sắc. Nó tăng cường tính hiện thực của truyện kể.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Truyện ngắn hiện thực việt nam 1932 1945 nhìn từ lý thuyết tự sự luận án tiến sĩ

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (206 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI PHẠM THỊ LƯƠNG TRUYỆN NGẮN HIỆN THỰC VIỆT NAM 1932- 1945 NHÌN TỪ LÝ THUYẾT TỰ SỰ Ngành: Lý luận văn học Mã số: 9.20 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. PHÙNG QUÝ NHÂM HÀ NỘI, 2018 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác. Các tài liệu tham khảo, trích dẫn trong luận án có xuất xứ rõ ràng.

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Phạm Thị Lương LỜI CẢM ƠN Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Phùng Quý Nhâm, người đã luôn ủng hộ, động viên, tận tình hướng dẫn và gợi mở những hướng nghiên cứu khoa học giúp tôi hoàn thành luận án. Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Khoa Sư phạm, lãnh đạo Trường Đại học Bạc Liêu, lãnh đạo Viện Văn học, lãnh đạo Khoa Văn học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án này. Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn khuyến khích, động viên, và toàn thể quý thầy cô, những người đã định hướng và chia sẻ những kiến thức quý báu trong suốt quá trình tôi học tập và thực hiện luận án tại Học viện Khoa học xã hội.

Tác giả luận án Phạm Thị Lương MỤC LỤC MỞ ĐẦU. 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHÊN CỨU. Khái quát thành tựu nghiên cứu tự sự học trên thế giới. Tự sự học trong nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam.

Tình hình nghiên cứu tự sự học trong truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945. Giai đoạn trước năm 1945. Giai đoạn từ 1945 đến 1986. Giai đoạn từ 1986 đến 2000.

Giai đoạn từ 2000 cho đến nay. Nhận định chung về tình hình nghiên cứu. 21 Chương 2: CÁC DẠNG THỨC TỔ CHỨC TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN HIỆN THỰC VIỆT NAM 1932-1945. Kết cấu tự sự.

Quan niệm về kết cấu trong tác phẩm tự sự. Nghệ thuật tổ chức kết cấu trong truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945. Truyện kể nghệ thuật. Lý thuyết về truyện kể trong loại hình tự sự.

Các dạng thức truyện kể trong truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945. Tình huống truyện. Quan niệm về tình huống truyện trong lý thuyết tự sự học. Tình huống trong truyện ngắn ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945.

66 Chương 3: NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN HIỆN THỰC VIỆT NAM 1932-1945. Người kể chuyện và nhận diện người kể chuyện trong tác phẩm tự sự. Giới thuyết đôi nét về người kể chuyện trong tác phẩm tự sự. Các yếu tố cơ bản nhận diện người kể chuyện trong tác phẩm tự sự.

Các dạng thức người kể chuyện trong truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945. Người kể chuyện ngôi thứ ba mang điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong và điểm nhìn phức hợp. Người kể chuyện ngôi thứ nhất mang điểm nhìn đơn tuyến và điểm nhìn đa tuyến. Người kể chuyện ngôi thứ nhất kết hợp ngôi thứ ba mang điểm nhìn dịch chuyển.

98 Chương 4: DIỄN NGÔN TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN HIỆN THỰC VIỆT NAM 1932-1945. Quan niệm về diễn ngôn và tiếp cận diễn ngôn từ lý thuyết tự sự. Khái niệm diễn ngôn. Tiếp cận diễn ngôn từ lý thuyết tự sự.

Diễn ngôn người kể chuyện trong truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945. Vai trò chi phối của diễn ngôn người kể chuyện đến toàn bộ cấu trúc tác phẩm. Thành phần trần thuật của người kể chuyện. Thành phần miêu tả của người kể chuyện.

Diễn ngôn của nhân vật trong truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945. Diễn ngôn đối thoại của nhân vật. Diễn ngôn độc thoại của nhân vật. Nghệ thuật tổ chức diễn ngôn tự sự trong truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945.

Đan cài, lồng ghép lời người kể chuyện với lời của nhân vật. Gia tăng kết hợp lời người kể chuyện và lời độc thoại dưới dạng nửa trực tiếp của nhân vật .145 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .151 TÀI LIỆU THAM KHẢO .166 DANH MỤC CÁC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁCH GHI TRÍCH DẪN ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN TNHT: Truyện ngắn hiện thực NKC: Người kể chuyện NV: Người viết Nxb: Nhà xuất bản Cách ghi trích dẫn trong luận án: - Ví dụ [19, tr.314]: trong đó 19 - chỉ số thứ tự của tài liệu, tr.314 - chỉ số trang của dẫn liệu được sử dụng.” là phần trích dẫn được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt của người viết, 29 - chỉ số thứ tự của dẫn liệu được dịch từ nguyên bản tiếng Anh người viết đã trích dẫn trong phụ lục 1. Tính cấp thiết của đề tài 1. Khám phá văn xuôi từ lí thuyết tự sự Tự sự học (narratology) là một ngành nghiên cứu đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn của truyện kể trong mọi hình thức văn học.

Đặc biệt nó đề cập đến những kiểu người kể chuyện, chỉ ra những yếu tố của cấu trúc và những phương thức kết hợp khác nhau, những thủ pháp tự sự, và sự phân tích những kiểu loại diễn ngôn, những ngôi kể rõ ràng hay ngụ ý,. Lí thuyết tự sự hiện nay có nhiều biến đổi phức tạp so với sự nghiên cứu truyền thống về truyện kể. Từ công trình Thi pháp học của Aristotle cho đến công trình Tu từ học tiểu thuyết (The Rhetoric of fiction, 1961) của Wayne Booth, lí thuyết Tự sự học đã manh nha, định hình và dần dần phát triển. Tuy nhiên, phải đến những năm 60 của thế kỉ XX, tự sự học mới thực sự trở thành một ngành nghiên cứu độc lập và có tên gọi chính thức.

Tự sự học được xác định xuất phát từ sự phát triển trong chủ nghĩa hình thức Nga và đặc biệt là trong chủ nghĩa cấu trúc Pháp. Theo đó, những nhà tự sự học không nghiên cứu truyện kể bằng các phương thức nghiên cứu truyền thống, mà nghiên cứu hệ thống các cấu trúc hình thức. Các nhà tự sự học cấu trúc nghiên cứu những cách thức tạo thành diễn ngôn truyện kể, đi vào cấu trúc được được sử dụng để xây dựng một cốt truyện. Todorov được xem là một đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa cấu trúc - người mở đường cho lĩnh vực nghiên cứu tự sự học.

Tự sự học nhanh chóng có sức lan tỏa đến ngành nghiên cứu văn học ở nhiều quốc gia trên thế giới bởi đây là một lĩnh vực nghiên cứu thực sự mở ra hướng tiếp cận mới đến tác phẩm văn chương. Khi mới trở thành một ngành nghiên cứu độc lập, không ít người hoài nghi về sự phát triển và tồn tại của nó trong bối cảnh có nhiều lí thuyết văn học liên tục chiếm ưu thế trên văn đàn. Tuy nhiên, tự sự học không hề "lép vế" mà từng bước khẳng định vị thế của mình. Nhiều nước đã có sự tiếp nhận lí thuyết tự sự và cải biên cho phù hợp với thực tiễn đời sống nghiên cứu văn học của nước mình.

Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định tên tuổi của mình trong lĩnh vực nghiên cứu tự sự học không chỉ trong văn học nghệ thuật mà còn trong nhiều ngành khoa học xã hội khác, chẳng hạn: những công trình nghiên cứu: Diễn ngôn tự sự: Bài luận về phương pháp (Narative discourse: an essay in method, 1972) của G. Genette, Thi pháp văn xuôi (The poetics of prose, 1977) của Tz. Todorov; Câu chuyện và diễn ngôn: Cấu trúc tự sự trong tiểu thuyết và điện ảnh (Story and discourse: narative structure in fiction and film, 1978) của Seymour Chatman; Tự sự học: Nhập môn lý thuyết tự sự (Naratology: introduction to the theory of narrative, 1985) của Miekal Bal; Từ điển tự sự học (Dictionary of narratology, 1987) của Gerald Prince;. Đó là những đại biểu xuất sắc đặt nền móng cho lĩnh vực tự sự học.

Các thế hệ nghiên cứu tự sự học sau này không ngừng tiếp thu và mở rộng nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau. Các vấn 1 đề liên quan đến truyện kể đều được khai thác như: điểm nhìn, ngôi kể, kết cấu, cốt truyện, nhân vật, thời gian, không gian, vấn đề người đọc, tác giả hàm ẩn, diễn ngôn tự sự,. Tất cả các phương diện nghiên cứu đó tạo thành hệ thống lí thuyết tự sự tương đối hoàn chỉnh. Cũng như bối cảnh chung trong nghiên cứu văn học ở nhiều nước, tự sự học được giới thiệu ở Việt Nam như một lẽ tất yếu.

Từ khi được giới thiệu vào Việt Nam, tự sự học được các nhà nghiên cứu, người đọc hưởng ứng và tiếp nhận rộng rãi. Có rất nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng ở mặt này, mặt khác của lí thuyết tự sự, bước đầu tạo nên diện mạo mới mẻ cho nghiên cứu văn học nước nhà. Người đọc biết đến những công cụ mới để giải mã tầng sâu ý nghĩa của tác phẩm. Các nhà nghiên cứu văn học đầu ngành cũng đã chú ý dịch và giới thiệu nhiều công trình nghiên cứu tự sự học của các học giả nổi tiếng ở Pháp, Nga, Anh,.

Điều đó đặc biệt có ý nghĩa trong tình hình nghiên cứu tự sự học ở Việt Nam. Nhìn lại tình hình nghiên cứu tự sự học ở Việt Nam, mặc dù đã có khá nhiều công trình ứng dụng lí thuyết tự sự học để nghiên cứu văn học trong và ngoài nước, nhưng vẫn chưa xứng với tiềm năng đáng có. Điều đó đặt ra yêu cầu bức thiết cho những nhà nghiên cứu đầu ngành, cũng như những ai thực sự quan tâm cần thúc đẩy hơn nữa khuynh hướng nghiên cứu văn học từ lí thuyết tự sự. Trong quá trình giới thiệu, tiếp nhận cũng cần có những biến cải để phù hợp với thực tiễn nghiên cứu văn học ở Việt Nam.

Thành tựu nghiên cứu truyện ngắn hiện thực 1932-1945 Văn học Việt Nam 1930-1945 là một mốc đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ trong dòng chảy của nền văn học dân tộc. Năm 1932 được xem là cột mốc cho sự đổi mới của nền văn học nước nhà, gắn liền với những sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn học. Đây cũng là giai đoạn có những biến động gay gắt trong lịch sử xã hội Việt Nam. Kéo theo đó là sự phát triển của các dòng văn học, trong đó có dòng văn xuôi hiện thực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945: Lý thuyết tự sự" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án tiến sĩ phân tích truyện ngắn hiện thực Việt Nam giai đoạn 1932-1945 thông qua lăng kính lý thuyết tự sự, làm rõ đặc điểm cấu trúc và ngôn kể chuyện.

Luận án "Truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945: Lý thuyết tự sự" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội. Năm bảo vệ: 2018.

Luận án "Truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945: Lý thuyết tự sự" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945: Lý thuyết tự sự" thuộc chuyên ngành Lý luận văn học. Danh mục: Lý Luận Văn Học.

Luận án "Truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945: Lý thuyết tự sự" có bao nhiêu trang?

Luận án "Truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945: Lý thuyết tự sự" có 206 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945: Lý thuyết tự sự" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter