Luận án TS Triết học: Lôgíc vận động khái niệm trong tư duy lý luận - Nguyễn Thanh Tân
Luận án tiến sĩ triết học phân tích lôgíc vận động của khái niệm trong tư duy lý luận. Khám phá sự hình thành, phát triển, tương tác của chúng.
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Luan An
Luận án
Năm xuất bản
Số trang
153
Thời gian đọc
23 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I. Lôgíc Vận Động Khái Niệm Trong Tư Duy Lý Luận
Tư duy lý luận là cấp độ cao nhất của tư duy, giúp con người nắm bắt bản chất và quy luật của hiện thực. Khái niệm đóng vai trò trung tâm trong tư duy này, thể hiện qua khả năng khái quát và hệ thống hóa tri thức. Lôgíc vận động của khái niệm liên quan đến sự phát triển, biến đổi của tư duy khi phản ánh hiện thực. Sự vận động này tuân theo các quy luật biện chứng, kết hợp giữa tư duy trừu tượng và thực tiễn. Trong triết học, khái niệm không chỉ phản ánh hiện thực mà còn là công cụ để dự báo và định hướng hành động. Lôgíc biện chứng và phép biện chứng duy vật là nền tảng để hiểu rõ cơ chế hoạt động của khái niệm trong tư duy lý luận.
1.1. Khái Niệm Và Tư Duy Trừu Tượng
Khái niệm là hình thức tư duy phản ánh bản chất và quy luật của đối tượng. Tư duy trừu tượng giúp khái quát đặc điểm chung, loại bỏ yếu tố ngẫu nhiên. Trong triết học, khái niệm được xây dựng thông qua quá trình phân tích, so sánh và trừu tượng hóa. Sự vận động của khái niệm thể hiện qua việc mở rộng, thu hẹp nội hàm và ngoại diên. Ví dụ, khái niệm 'vật chất' trong triết học Mác-Lênin không ngừng được phát triển theo yêu cầu của thực tiễn.
1.2. Vai Trò Của Khái Niệm Trong Tư Duy Lý Luận
Khái niệm là công cụ chính để tư duy lý luận phân tích và dự báo hiện thực. Qua khái niệm, con người xây dựng hệ thống tri thức có tính logic và hệ thống. Lôgíc vận động của khái niệm đảm bảo tính động lực cho tư duy, giúp cập nhật tri thức theo sự thay đổi của hiện thực. Phép biện chứng duy vật nhấn mạnh sự liên kết giữa khái niệm và thực tiễn, qua đó xác định vai trò của tư duy trong cải tạo thế giới.
II. Quy Luật Của Vận Động Khái Niệm Trong Lôgíc Biện Chứng
Sự vận động của khái niệm tuân theo các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Những quy luật này đảm bảo tính khoa học và hiệu quả của tư duy lý luận. Quy luật chuyển hóa lượng-chất và phủ định của phủ định là nền tảng cho sự phát triển khái niệm. Tư duy biện chứng nhấn mạnh tính động của khái niệm, tránh tư duy cứng nhắc và phiến diện.
2.1. Quy Luật Chuyển Hóa Lượng Chất
Khái niệm phát triển thông qua sự tích lũy thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất. Ví dụ, khái niệm 'chủ nghĩa tư bản' được điều chỉnh khi nhận thức về các mâu thuẫn kinh tế. Sự vận động này phản ánh tính lịch sử và hiện thực của tư duy lý luận.
2.2. Quy Luật Thống Nhất Và Đấu Tranh Của Các Mặt Đối Lập
Khái niệm mang tính mâu thuẫn nội tại, phản ánh sự thống nhất và đấu tranh của các yếu tố đối lập. Tư duy biện chứng yêu cầu phân tích toàn diện, tránh tuyệt đối hóa một khía cạnh. Ví dụ, khái niệm 'pháp luật' vừa mang tính công lý, vừa có yếu tố hạn chế trong thực tiễn.
2.3. Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định
Sự vận động của khái niệm tuân theo chu kỳ phủ định, từ cũ đến mới. Khái niệm mới ra đời thông qua phủ định khái niệm cũ, nhưng kế thừa những yếu tố tích cực. Quy luật này thể hiện tính kế thừa và phát triển trong tư duy lý luận.
III. Chiều Hướng Vận Động Khái Niệm Trong Tư Duy Biện Chứng
Sự vận động của khái niệm diễn ra theo các hướng chính: mở rộng nội hàm, tương tác sản sinh khái niệm mới, và cập nhật tri thức theo thực tiễn. Những chiều hướng này phản ánh tính linh hoạt và tính thời đại của tư duy lý luận. Lôgíc biện chứng là cơ sở để điều chỉnh khái niệm phù hợp với yêu cầu phát triển.
3.1. Mở Rộng Nội Hàm Và Ngoại Diên
Khái niệm phát triển thông qua việc bổ sung yếu tố mới vào nội hàm hoặc mở rộng ngoại diên. Ví dụ, khái niệm 'công nghệ' ngày càng được mở rộng để bao hàm các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo và blockchain.
3.2. Tương Tác Và Sản Sinh Khái Niệm Mới
Tương tác giữa các khái niệm tạo ra khái niệm mới, phản ánh sự phát triển của tri thức. Ví dụ, khái niệm 'bền vững' được hình thành từ sự kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
3.3. Bổ Sung Tri Thức Và Thực Tiễn Hóa
Khái niệm vận động để cập nhật tri thức mới và hiện thực hóa trong thực tiễn. Ví dụ, khái niệm 'chuyển đổi số' được áp dụng để xây dựng chính sách phát triển kinh tế số.
IV. Ứng Dụng Lôgíc Vận Động Trong Xây Dựng Xã Hội Việt Nam
Lôgíc vận động khái niệm có vai trò quan trọng trong xây dựng xã hội Việt Nam. Tư duy lý luận giúp Đảng và Nhà nước hoạch định chiến lược phát triển khoa học, dựa trên sự vận động của khái niệm. Ví dụ, khái niệm 'đổi mới' được điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa. Sự vận động này đảm bảo tính linh hoạt và hiệu quả của chính sách.
4.1. Vận Động Khái Niệm Trong Chính Sách Kinh Tế
Khái niệm 'tự do hóa thương mại' được điều chỉnh để cân bằng giữa hội nhập và bảo vệ nền kinh tế quốc gia. Sự vận động này phản ánh tư duy biện chứng trong hoạch định chính sách.
4.2. Ứng Dụng Trong Giáo Dục Và Khoa Học
Khái niệm 'giáo dục chất lượng cao' được phát triển để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong thời đại số. Sự vận động này thúc đẩy cải cách giáo dục và nghiên cứu khoa học.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (153 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THANH TÂN LÔGÍC VẬN ĐỘNG CỦA KHÁI NIỆM TRONG TƢ DUY LÝ LUẬN LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC Hà NộI - 2005 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THANH TÂN LÔGÍC VẬN ĐỘNG CỦA KHÁI NIỆM TRONG TƢ DUY LÝ LUẬN Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mã số: 5. 02 LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS. Bùi Thanh Quất Hà NộI - 2005 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU. 1 Chƣơng 1 TƢ DUY VÀ KHÁI NIỆM.
Tư duy và các cấp độ của tư duy. Khái niệm, các cấp độ và lôgíc của khái niệm. 29 Chƣơng 2: CÁC QUY LUẬT CƠ BẨN CỦA VẬN ĐỘNG KHÁI NIỆM TRONG TƢ DUY LÝ LUẬN. Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Quy luật phủ định của phủ định. Quy luật đi từ trừu tượng đến cụ thể. Quy luật thống nhất giữa lôgíc và lịch sử.
101 Chƣơng 3: CÁC CHIỀU HƢỚNG CƠ BẢN CỦA SỰ VẬN ĐỘNG KHÁI NIỆM TRONG TƢ DUY LÝ LUẬN. Sự vận động của khái niệm theo hướng sâu sắc thêm nội hàm và mở rộng thêm ngoại diên. Trong tương tác với nhau, các khái niệm vận động theo hướng sản sinh ra khái niệm mới. Sự vận động của khái niệm theo hướng bổ sung, đổi mới tri thức và hiện thực hóa, trong quan hệ với thực tiễn.
164 CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI. 167 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Tính cấp thiết của đề tài Lịch sử loài người cho thấy, mỗi bước tiến của các quốc gia và toàn thể cộng đồng nhân loại đều gắn bó chặt chẽ với trình độ đạt được của sản xuất vật chất, của tư duy và hệ các giá trị văn hóa nói chung. Trong một tương quan như thế, tư duy không chỉ phản ánh mà còn trở thành nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của thực tiễn xã hội và hiện thực lịch sử.
Mác nhận xét: Con nhện làm những động tác giống như động tác của người thợ dệt, và bằng việc xây dựng những ngăn tổ sáp của mình, con ong còn làm cho một số nhà kiến trúc phải hổ thẹn. Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà kiến trúc tồi nhất với con ong giỏi nhất là trước khi xây dựng những ngăn tổ ong bằng sáp, nhà kiến trúc đã xây dựng chúng ở trong đầu óc của mình rồi. Cuối quá trình lao động, người lao động thu được cái kết quả mà họ đã hình dung ngay từ đầu quá trình ấy, tức là đã có trong ý niệm rồi [76, 266- 267]. Trong thực tiễn, trước khi có những hành động vật chất làm thay đổi hoàn cảnh khách quan của mình, con người đã xây dựng “mô hình tinh thần” của những hành động ấy trong đầu óc và công việc đó là thuộc về tư duy của họ.
Cấp độ phát triển cao của tư duy con người là tư duy lý luận. ở cấp độ này, tư duy có khả năng đi sâu vô hạn vào các khách thể, nắm bắt tương đối chính xác và hệ thống về bản chất, quy luật của chúng. Trong mỗi thời đại khoa học, tư duy lý luận góp phần quan trọng đưa nhận thức của con người phát triển lên những trình độ cao nhất. Chính vì thế, Ăngghen nhấn mạnh: “Một dân tộc muốn đứng trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” [74, 489].
Với khả năng nắm bắt được bản chất và các quy luật của khách thể, tư duy lý luận chỉ đạo một cách có hiệu quả thực tiễn cải tạo thế giới của con người và làm nên tính tự giác cho những hành động của họ. Vậy sức mạnh cải tạo thế giới của con người sẽ được phát huy đầy đủ hơn nữa, khi tư duy của họ phát triển lên cấp độ lý luận. Tư duy lý luận đòi hỏi phải có các khái niệm. Những khái niệm trong tư duy lý luận, diễn tả một cách có hệ thống các quy luật và bản chất của khách thể, đồng thời là mô hình tương đối đầy đủ về đối tượng và hoạt 2 động thực tiễn của con người với đối tượng.
Các khái niệm, do đó cũng chứa đựng dưới dạng khái quát và cô đọng nội dung tri thức của tư duy lý luận. Nhưng tư duy lý luận chỉ thực sự tồn tại với hoạt động của các khái niệm. Không có hoạt động của các khái niệm thì tư duy lý luận không thể tồn tại được. ở đây, hoạt động của các khái niệm là nội dung chủ yếu nhất của tư duy lý luận.
Vai trò chỉ đạo thực tiễn của tư duy lý luận, vì thế được thể hiện tập trung trong hoạt động của các khái niệm. Thành công của thực tiễn chứng minh cho hiệu lực hoạt động của các khái niệm, và chính thực tiễn tự giác của con người vừa là cách thức vừa là hình thức hiện thực hóa các khái niệm của tư duy lý luận. Sự phát triển của tư duy lý luận có quan hệ chặt chẽ với số lượng và chất lượng của hệ thống các khái niệm phản ánh cuộc sống thực tế phong phú, phức tạp của con người và xã hội. Hệ thống các khái niệm hoạt động trong tư duy lý luận, giúp cho con người nhận thức bản chất, qui luật và có thể dự báo được sự phát triển tương lai của hiện thực và thực tiễn lịch sử.
Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, tư duy lý luận cùng hoạt động của các khái niệm là một trong những nhân tố đảm bảo và thúc đẩy quan trọng nhất sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã chủ trương đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết là đổi mới tư duy; trong đó đổi mới tư duy kinh tế là khâu đột phá. Đổi mới tư duy có nhiệm vụ khắc phục những gì đã trở nên lạc hậu, giáo điều xơ cứng, kinh nghiệm chủ nghĩa trong tư duy của cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân, song quan trọng hơn là nâng cao năng lực tư duy lý luận của Đảng nhằm tích cực đáp ứng yêu cầu chỉ đạo có hiệu quả thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước. Trong những năm qua, đổi mới tư duy, tư duy lý luận đã góp phần quan trọng vào những thành quả phát triển về kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa trên đất nước ta.
Tác động của kỹ thuật - công nghệ hiện đại, của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức đem lại nhiều cơ hội cho đổi mới tư duy nói chung và tư duy lý luận nói riêng, đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn trước các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Có thể thấy trong thời đại ngày nay, một quốc gia trên con đường phát triển của mình với điểm xuất phát thấp, nếu thiếu sự chỉ đạo của tư duy lý luận khoa 3 học thì hầu như không thể thoát khỏi tình trạng đói nghèo và lạc hậu. Tình hình phức tạp đòi hỏi chúng ta vừa có bản lĩnh chính trị để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa vừa có tư duy lý luận khoa học đúng đắn, đủ sắc bén để chủ động hội nhập quốc tế và chỉ đạo thành công sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Đổi mới tư duy, tư duy lý luận trở nên có tính thời sự và tính cấp bách hơn nữa, khi đất nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Việc định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ, nội dung và phương pháp, tìm kiếm điều kiện và phương tiện cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, nói chung trước hết là thuộc về chức năng của tư duy lý luận. Thực tiễn công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở đất nước ta do đó, hơn bao giờ hết, đòi hỏi sự chỉ đạo của tư duy lý luận khoa học. Vì vậy, nhiệm vụ chủ yếu hiện nay của đổi mới tư duy ở nước ta là, phát triển năng lực tư duy lý luận khoa học, trước hết trong đội ngũ cán bộ và đảng viên, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa, góp phần đưa đất nước nhanh chóng thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và trở thành một nước tiên tiến. Chính nhiệm vụ này đòi hỏi chúng ta chú trọng, đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu cơ bản về tư duy, tư duy lý luận.
Trong đó, nghiên cứu phương diện lôgíc của khái niệm và sự vận động của khái niệm trong tư duy lý luận là một yêu cầu trọng tâm, có tính cấp thiết. Làm như vậy, chúng ta có điều kiện rút ngắn được con đường phát triển năng lực tư duy lý luận của mình, xây dựng được một nền tư duy lý luận có trình độ khoa học tiên tiến để chỉ đạo, tổ chức thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa và hiện đại đất nước, trong bối cảnh nhân loại đang ở cao trào toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Từ nhận thức trên đây, chúng tôi chọn vấn đề “lôgíc vận động của khái niệm trong tư duy lý luận” làm đề tài luận án của mình. Tình hình nghiên cứu đề tài Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến những khía cạnh nhất định của đề tài.
Trước Mác, trong Khoa học lôgíc, Hêgen đã trình bày một cách tương đối có hệ thống biện chứng của khái niệm, qua đó đoán được một cách tài tình “những hình thức lôgíc và những quy luật lôgíc không phải là một cái vỏ trống rỗng, mà là phản ánh của thế giới khách quan” [42, 191]. Nhưng yếu tố hợp lý ấy lại được ông lồng vào trong lập trường duy tâm 4 khách quan tuyệt đối, mang nặng tính tư biện và thần bí. Đứng trên lập trường duy vật biện chứng, hẳn nhiên chúng ta chỉ có thể tiếp thu, cải tạo yếu tố hợp lý và đồng thời phải gạt bỏ đi lập trường duy tâm thần bí của lôgíc học Hêgen. Chính Lênin đã nhấn mạnh: “Người ta không thể áp dụng nguyên xi lôgíc của Hêgen; cũng không thể coi nó như là một cái hiện có.
Cần phải rút ra từ trong đó những mặt lôgíc (nhận thức luận), sau khi đã gạt bỏ tính thần bí của ý niệm” [42, 281].
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Lôgíc vận động khái niệm trong tư duy lý luận triết học" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ triết học phân tích lôgíc vận động của khái niệm trong tư duy lý luận. Khám phá sự hình thành, phát triển, tương tác của chúng.
Luận án "Lôgíc vận động khái niệm trong tư duy lý luận triết học" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Năm bảo vệ: 2005.
Luận án "Lôgíc vận động khái niệm trong tư duy lý luận triết học" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Lôgíc vận động khái niệm trong tư duy lý luận triết học" thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Danh mục: Triết Học.
Luận án "Lôgíc vận động khái niệm trong tư duy lý luận triết học" có bao nhiêu trang?
Luận án "Lôgíc vận động khái niệm trong tư duy lý luận triết học" có 153 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Lôgíc vận động khái niệm trong tư duy lý luận triết học" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.