Luận án TS. Nguyễn Thị Thuý Nga - Chế phẩm vi sinh vật đa chủng gieo ươm thông nhựa
Luận án đề xuất chế phẩm vi sinh vật đa chủng提高 Pinus merkusii sống sót trên đất thoái hoá miền Bắc.
Lâm nghiệp
Luan An
Luận án Tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
160
Thời gian đọc
24 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I. Nghiên cứu chế phẩm vi sinh vật đa chủng cho thông nhựa
Chế phẩm vi sinh vật đa chủng được phát triển để thay thế phương pháp truyền thống sử dụng đất rừng thông. Vi sinh vật bao gồm nấm Pisolithus tinctorius, vi khuẩn sinh IAA và vi sinh vật phân giải phốt phát. Mục tiêu là tăng sinh trưởng cây thông, phòng bệnh thối cổ rễ và cải tạo đất thoái hóa. Nghiên cứu tập trung vào tuyển chọn chủng vi sinh vật hiệu quả, đáp ứng nhu cầu sản xuất cây con thông nhựa.
1.1. Vấn đề với phương pháp truyền thống
Hiện nay, sản xuất cây thông nhựa vẫn dùng 10% đất rừng thông khép tán để tạo nấm cộng sinh. Phương pháp này gây ô nhiễm mầm bệnh, ảnh hưởng hệ sinh thái và chi phí cao. Tỷ lệ cây con chết do nấm Fusarium spp. lên đến 50%, làm giảm năng suất rừng trồng. Việc thiếu chế phẩm vi sinh vật chuyên dụng cho cây thông là rào cản phát triển ngành lâm nghiệp.
1.2. Lựa chọn chủng vi sinh vật
Nghiên cứu tuyển chọn chủng nấm Pisolithus tinctorius và vi khuẩn nội sinh tạo IAA. Các chủng được đánh giá khả năng đối kháng nấm Fusarium và phân giải phốt phát khó tan. Vi sinh vật cố định nitơ tự do cũng được phân lập để tăng hiệu quả dinh dưỡng. Quy trình tuyển chọn đảm bảo độ an toàn và hiệu quả sinh học.
1.3. Cơ sở khoa học sản xuất chế phẩm
Chế phẩm kết hợp nấm ngoại cộng sinh, vi khuẩn sinh IAA và vi sinh vật phân giải phốt phát. Nấm giúp cây hấp thụ nước và khoáng, vi khuẩn tăng trưởng và phòng bệnh. Vi sinh vật phân giải phốt phát cải thiện dinh dưỡng đất. Sự kết hợp này tạo hệ vi sinh cân bằng, hỗ trợ sinh trưởng cây thông trên đất thoái hóa.
II. Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong gieo ương thông nhựa
Chế phẩm vi sinh vật được ứng dụng trong sản xuất cây con thông nhựa tại vườn ươm. Quy trình sử dụng chế phẩm thay thế đất rừng, giảm rủi ro bệnh và bảo vệ hệ sinh thái. Cây con xử lý chế phẩm cho tỷ lệ sống cao, phát triển rễ khỏe và kháng bệnh. Ứng dụng này phù hợp với vùng đất thoái hóa ở miền Bắc Việt Nam.
2.1. Quy trình sản xuất chế phẩm
Chế phẩm được sản xuất từ nuôi cấy chủng vi sinh vật đã tuyển chọn. Các chủng được phối trộn theo tỷ lệ tối ưu, đảm bảo hoạt tính sinh học. Quy trình kiểm soát chặt chẽ để duy trì độ sống của vi sinh vật trong chế phẩm. Chế phẩm dạng bột hoặc dung dịch, dễ sử dụng trong sản xuất.
2.2. Hiệu quả trong phòng bệnh
Chế phẩm vi sinh vật đối kháng nấm Fusarium spp. gây bệnh thối cổ rễ. Vi khuẩn sinh IAA tăng cường khả năng miễn dịch của cây. Nghiệm thu cho thấy tỷ lệ cây con nhiễm bệnh giảm 40-50% so với phương pháp truyền thống. Chế phẩm cũng hạn chế sự phát triển của mầm bệnh khác trong vườn ươm.
2.3. Tăng trưởng cây con
Cây thông xử lý chế phẩm cho chiều cao và đường kính gốc tăng 20-30% sau 6 tháng. Hệ rễ phát triển mạnh, giúp cây hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả. Cây con khỏe mạnh, dễ thích nghi khi trồng rừng. Chế phẩm cải thiện chất lượng cây con, đáp ứng tiêu chuẩn xuất vườn theo quy định.
III. Lợi ích của chế phẩm vi sinh vật đối với cây thông
Chế phẩm vi sinh vật đa chủng mang lại nhiều lợi ích cho sản xuất cây thông. Cây phát triển nhanh, kháng bệnh và cải tạo đất. Ứng dụng chế phẩm giúp giảm chi phí sản xuất, bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế. Đây là giải pháp bền vững cho ngành lâm nghiệp.
3.1. Cải thiện sinh trưởng cây thông
Vi sinh vật cung cấp dinh dưỡng sinh học, tăng khả năng hấp thụ nước và khoáng. Cây thông xử lý chế phẩm cho tốc độ sinh trưởng cao hơn 25% so với đối chứng. Hệ rễ phát triển mạnh, giúp cây ổn định trên đất thoái hóa. Chế phẩm là yếu tố quan trọng trong sản xuất cây con chất lượng.
3.2. Hạn chế bệnh thối cổ rễ
Chế phẩm vi sinh vật đối kháng nấm Fusarium spp. và kiểm soát vi khuẩn gây bệnh. Vi khuẩn sinh IAA ức chế sự phát triển của mầm bệnh. Nghiệm thu cho thấy tỷ lệ cây chết do bệnh giảm 50%, giảm nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Chế phẩm an toàn cho môi trường và sức khỏe con người.
3.3. Tăng năng suất rừng trồng
Cây thông khỏe mạnh từ chế phẩm cho năng suất gỗ cao hơn 20-30% sau 5 năm trồng. Rừng trồng ổn định, giảm rủi ro sâu bệnh và thoái hóa. Chế phẩm giúp phát triển rừng bền vững, đáp ứng nhu cầu kinh tế và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Đây là bước tiến trong công nghệ lâm nghiệp hiện đại.
IV. Tác động của chế phẩm đến môi trường và sản xuất
Sử dụng chế phẩm vi sinh vật giảm phụ thuộc vào đất rừng, bảo vệ hệ sinh thái. Chế phẩm thay thế thuốc hóa học, giảm ô nhiễm môi trường. Sản xuất cây thông bền vững, nâng cao giá trị kinh tế cho người trồng rừng. Ứng dụng rộng rãi tại các vùng đất thoái hóa.
4.1. Giảm khai thác đất rừng
Chế phẩm thay thế 10% đất rừng thông truyền thống, bảo vệ rừng nguyên sinh. Việc không khai thác đất giúp duy trì hệ sinh thái và đa dạng sinh học. Giảm xói mòn đất, giữ ổn định rừng trồng. Đây là giải pháp quan trọng trong bảo vệ môi trường.
4.2. Cải tạo đất thoái hóa
Vi sinh vật phân giải phốt phát và cố định nitơ cải thiện dinh dưỡng đất. Chế phẩm tăng độ phì nhiêu, hỗ trợ phục hồi đất thoái hóa. Cây thông phát triển tốt trên nền đất yếu, giảm chi phí cải tạo. Ứng dụng chế phẩm nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
4.3. Ứng dụng trong sản xuất bền vững
Chế phẩm vi sinh vật phù hợp với mô hình sản xuất xanh, giảm thiểu hóa chất. Người trồng rừng tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận từ cây thông khỏe mạnh. Ứng dụng rộng rãi tại miền Bắc Việt Nam, nơi đất thoái hóa là thách thức lớn. Chế phẩm là công nghệ lâm nghiệp tiên tiến, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (160 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM ======================== NGUYỄN THỊ THUÝ NGA TÓM TẮT LUẬN ÁN NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC SẢN XUẤT CHẾ PHẨM VI SINH VẬT ĐA CHỦNG ĐỂ GIEO ƯƠM VÀ TRỒNG THÔNG NHỰA (Pinus merkusii Jungh. Et de Vriese) TRÊN ĐẤT THOÁI HÓA Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP 2 Công trình được hoàn thành tại: VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. PHẠM QUANG THU Phản biện 1: ……………………………………………… ……………………………………………………………. Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam vào hồi giờ ngày tháng năm 2016 2 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Nguyễn Thị Thuý Nga, Phạm Quang Thu (2009), Phân lập, tuyển chọn vi sinh vật phân giải lân có hiệu lực cao và đặc điểm sinh học của chúng để sản xuất phân vi sinh cho cây lâm nghiệp.
Tạp chí khoa học lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, số 3, tr 1038 – 1045. Nguyễn Thị Thuý Nga (2015), Phân lập, tuyển chọn một số chủng vi khuẩn nội sinh tạo chất kích thích sinh trưởng Indole-3- acetic axit (IAA) và đối kháng nâm Fusarium oxysporum gây bệnh thối cổ rễ cây thông. Tạp chí khoa học lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, số 3, tr 3948 - 3959. Nguyễn Thị Thuý Nga (2015), Nghiên cứu tạo chế phẩm đa chủng VSV và đánh giá hiệu quả của chế phẩm đối với sản xuất cây con Thông nhựa (Pinus merkusii) ở vườn ươm.
Tạp chí khoa học lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, số 3, tr 3960 – 3968. Thông là cây trồng Lâm nghiệp, được gây trồng ở hầu khắp các tỉnh trung du và miền núi nước ta. Cây thông được coi là cây loại trồng chủ yếu, với diện tích đứng thứ ba sau bạch đàn và keo. Theo quyết định số 3135/QĐ-BNN-TCLN ngày 06/8/2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố số liệu hiện trạng rừng toàn quốc năm 2014, diện tích rừng trồng thông các loại là khoảng 400.
Loài thông được trồng chủ yếu là Thông nhựa (Pinus merkusii), cây Thông nhựa mang lại giá trị lớn về mặt kinh tế, xã hội. Các loài cây hạt trần nói chung và thông nói riêng, lông hút ở rễ kém phát triển, nên trong tự nhiên có quá trình cộng sinh bắt buộc với nấm. Sợi nấm giúp cây trồng hấp thụ nước và dinh dưỡng khoáng tốt hơn. Quy trình kỹ thuật gieo ươm thông do Bộ Lâm nghiệp nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành năm 1983 đã quy định tiêu chuẩn, chất lượng cây thông con khi xuất vườn phải có nấm rễ.
Để đạt được điều đó các cơ sở sản xuất phải sử dụng 10% đất mặt rừng thông đã khép tán trộn với thành phần ruột bầu, để có nguồn nấm cộng sinh. Việc làm này đã gây nên nhiều bất lợi như : nấm cộng sinh không được tuyển chọn; mang theo mầm sâu, bệnh đặc biệt bệnh lở cổ rễ và bệnh rơm lá thông; hệ sinh thái của rừng thông khép tán bị ảnh hưởng nghiêm trọng, và chi phí lớn. Ở nước ta hiện nay gieo ươm thông tại vườn ươm còn mắc nhiều bệnh như: bệnh vàng còi do cây thông không có nấm cộng sinh, bệnh thối cổ rễ do nấm Fusarium spp. Tỷ lệ cây con bị chết ở vườn ươm do nấm Fusarium spp.
gây ra ước tính từ 40% đến 50%. Không những thế năng suất rừng trồng thông hiện nay còn hạn chế, cây thông sinh trưởng phát triển kém, kéo theo sức đề kháng yếu, dễ bị bệnh và sự tấn công của nhiều loài sâu và bệnh. Trên thế giới cũng như ở nước ta, đã sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc vi sinh vật (VSV) để bổ xung vào bầu ươm cây con, cũng như trồng rừng thông, việc làm này đã mang lại lợi ích kinh tế cao hơn và thân thiện với môi trường, nhằm tăng năng suất giá trị của cây trồng và làm giảm hiện tượng thoái hóa đất. Hiện nay trên thị trường phân bón nước ta, có một số thương hiệu phân vi sinh nhưng chủ yếu phục vụ cho phát triển cây Nông nghiệp và cây ăn quả, những loại phân VSV riêng cho cây lâm nghiệp còn ít hoặc rất hạn chế.
Phát triển cây Lâm nghiệp và cải tạo đất thoái hoá là cần thiết và quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và đặc biệt là phát triển nghề rừng. Để khắc phục những tồn tại trên tôi tiến hành nghiên cứu luận án “Nghiên cứu cơ sở khoa học sản xuất chế phẩm vi sinh 5 vật đa chủng để gieo ươm và trồng Thông nhựa (Pinus merkusii Jungh. Et de Vriese) trên đất thoái hoá ở Miền Bắc Việt Nam”. Mục tiêu tổng quát - Xác định cơ sở khoa học sản xuất được chế phẩm vi sinh vật đa chủng (gồm nấm ngoại cộng sinh, vi khuẩn sinh IAA và đối kháng nấm gây bệnh, vi sinh vật phân giải phốt phát khó tan và cố định nitơ tự do) để gieo ươm, gây trồng thông nhựa nhằm tăng sinh trưởng, hạn chế bệnh thối cổ rễ và cải tạo đất thoái hoá.
Mục tiêu cụ thể -Tuyển chọn được chủng nấm ngoại cộng sinh, thuộc loài Pisolithus tinctorius, phân lập và tuyển chọn vi khuẩn nội sinh cây Thông nhựa, có khả năng sinh tổng hợp IAA và đối kháng với nấm Fusarium oxysporum gây bệnh thối cổ rễ cây Thông nhựa; phân lập và tuyển chọn vi sinh vật phân giải phốt phát khó tan và cố định nitơ tự do có hiệu lực cao. - Xác định được đặc điểm sinh học của các chủng VSV tuyển chọn. - Xác định được cơ sở khoa học tạo chế phẩm VSV đa chủng. - Sản xuất được chế phẩm VSV đa chủng có khả năng tăng sinh trưởng, hạn chế bị bệnh đối với cây Thông nhựa ở vườn ươm và rừng trồng, cải tạo đất thoái hoá, bạc màu.
ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN - Lần đầu tiên phân lập và tuyển chọn được 2 chủng vi khuẩn Pseudomonas fluorescens, Bacillus subtilis nội sinh cây Thông nhựa, có khả năng sinh tổng hợp IAA vừa có khả năng đối kháng với nấm F.oxysporum gây bệnh thối cổ rễ cây thông. - Lần đầu tiên phân lập và tuyển chọn được 2 chủng vi khuẩn Burkholderia cenocepacia, Azotobacter beijerinskii có khả năng phân giải phốt phát khó tan vừa có khả năng cố định nitơ tự do. - Tạo chế phẩm vi sinh vật đa chủng cho cây Thông nhựa có khả năng kích thích sinh trưởng, cố định đạm, phòng trừ nấm gây bệnh thối cổ rễ và cải tạo đất thoái hoá bạc màu, thay thế việc sử dụng 10% đất mặt rừng thông khi gieo ươm và thay thế việc sử dụng phân NPK bón lót khi trồng rừng. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC 1. Nghiên cứu về nấm cộng sinh. Nấm cộng sinh đã được các nhà nghiên cứu vi sinh vật quan tâm từ rất sớm, ở Venezuela, người ta lấy lớp đất mặt của các rừng trồng thông đã khép tán trộn với đất của vườn ươm để tạo ruột bầu gieo ươm cây con, nấm cộng sinh chủ yếu ở đây là loài Thelephora terrestric. Từ những năm 1980, bào tử nấm Pisolithus tinctorius được bang Georgia của Mỹ nhiễm cho cây thông con ở vườn ươm.
Marx và đồng tác giả (1982) đã nghiên cứu, được chế phẩm P. tinctorius đã được sản xuất và bán rộng rãi ngoài thị trường, hầu hết các cây con gieo ươm đều được nhiễm chế phẩm này trên quy mô lớn. Theo Marx và đồng tác giả (1989) bào tử nấm P. tinctorius được thu từ thể quả của nấm ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, cộng sinh với nhiều loài cây chủ, đã tạo cho chế phẩm bằng bào tử có tính đa dạng về mặt sinh học hơn chế phẩm bằng hệ sợi.
Hơn tám triệu cây con, đã được nhiễm chế phẩm bằng hệ sợi và nhiều triệu cây con đã được nhiễm chế phẩm bằng bào tử, cho kết quả sinh trưởng vượt trội. Nghiên cứu về VSVNS sinh IAA kích thích tăng trưởng thực vật. Các chất kích thích tăng trưởng thực vật là những chất tự nhiên được sản xuất bởi các VSV nội sinh. Chúng có tác dụng kích thích hoặc ức chế một số quá trình sinh lý, sinh hóa ở thực vật và vi sinh vật.
Brakel và Hilger (1965) cho rằng, vi khuẩn Azotobacter có thể sản sinh ra axit indol-3-acetic (IAA) là chất tăng trưởng thực vật. Chandramohan và Mahadevan (1968b) đã phân lập được vi khuẩn sinh IAA tăng trưởng thực vật từ cây Bông. Những năm trước đây nhiều nhà khoa học cho rằng IAA được sản suất bởi vi sinh vật chỉ là chất chuyển hóa thứ cấp. Nhưng gần đây nhà nghiên cứu Stijn và Jos (2010) cho rằng, VSV nội sinh như những nhà máy khổng lồ, sản xuất IAA tăng kích thính sinh trưởng thực vật.
Ruben và đồng tác giả (2012) cho rằng, có mặt của các vi sinh vật sinh IAA sẽ làm tăng sản lượng cây trồng một cách rõ rệt. Nghiên cứu về vi sinh vật phân giải phốt phát khó tan. Johri và đồng tác giả (1999), đã phân lập và mô tả đặc điểm của khoảng 4.800 chủng VSV có khả năng phân giải phốt phát khó tan. Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng ở mô tả đặc điểm của các chủng, mà chưa ứng dụng những chủng vi sinh vật phân giải phốt phát này vào sản xuất phân vi sinh.
Alan (2000) cho rằng, vi sinh vật đất đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thụ và quá trình biến đổi của các chất dinh dưỡng trong đất. Đối với 7 phốt pho, vi sinh vật đất có ảnh hưởng nhiều đến quá trình biến đổi phốt pho, đặc biệt vi sinh vật có thể phân giải phốt pho từ các hợp chất phốt pho có trong đất. José và đồng tác giả (2001) nghiên cứu, các chủng vi khuẩn phân giải phốt phát được phân lập từ các nguồn khác nhau có hiệu lực phân giải phốt phát khác nhau.Việc sử dụng vi sinh vật phân giải phốt phát, không những có tác dụng cải tạo đất, mà còn làm tăng lượng phốt pho cho cây trồng và đem lại kết quả tốt cho mùa vụ. Nghiên cứu vi sinh vật đối kháng với nấm gây bệnh.
Alecxander Fleming (1928), tình cờ phát hiện ra quan hệ đối kháng giữa nấm Penicillinum notatum với khuẩn Staphylococus aureus và đã tìm ra chất kháng sinh đầu tiên là penicillin. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 13.000 chất kháng sinh tự nhiên, trong đó có hơn 3.000 chất do thực vật tạo ra, hơn 9.000 chất kháng sinh do VSV tổng hợp được và hàng ngàn dẫn chất là kháng sinh bán tổng hợp.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Nghiên cứu chế phẩm vi sinh vật cho gieo ươm thông nhựa" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án đề xuất chế phẩm vi sinh vật đa chủng提高 Pinus merkusii sống sót trên đất thoái hoá miền Bắc.
Luận án "Nghiên cứu chế phẩm vi sinh vật cho gieo ươm thông nhựa" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. Năm bảo vệ: 2016.
Luận án "Nghiên cứu chế phẩm vi sinh vật cho gieo ươm thông nhựa" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Nghiên cứu chế phẩm vi sinh vật cho gieo ươm thông nhựa" thuộc chuyên ngành Lâm nghiệp. Danh mục: Vi Sinh Vật Học.
Luận án "Nghiên cứu chế phẩm vi sinh vật cho gieo ươm thông nhựa" có bao nhiêu trang?
Luận án "Nghiên cứu chế phẩm vi sinh vật cho gieo ươm thông nhựa" có 160 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Nghiên cứu chế phẩm vi sinh vật cho gieo ươm thông nhựa" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.