Tổng quan về luận án

Luận án này tiên phong khám phá sâu rộng ảnh hưởng của chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ (IAFQ) đến hành vi quản trị lợi nhuận (HVQTLN) trong bối cảnh đặc thù của các công ty niêm yết trên Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam. Bối cảnh khoa học của nghiên cứu được đặt trong mối quan ngại toàn cầu về độ tin cậy của báo cáo tài chính (BCTC) và sự cần thiết của các cơ chế giám sát hiệu quả trong quản trị công ty hiện đại (Anderson et al, 1983; Church et al, 2001; Skousen et al, 2005; Prawitt et al. 2009; Nguyễn Trọng Nguyên, 2015). Trong đó, kiểm toán nội bộ (KTNB) được nhận định là nền tảng cốt lõi giúp kiểm soát và ngăn chặn HVQTLN (Brown & Pinello, 2007).

Research gap cụ thể mà luận án này giải quyết là sự thiếu hụt các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa IAFQ và HVQTLN tại Việt Nam. Các nghiên cứu trước tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào mô hình nhận dạng HVQTLN hoặc các đặc điểm quản trị công ty hay kiểm toán độc lập (KTĐL) ảnh hưởng đến chất lượng BCTC (Nguyên, 2015; Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016; Ngô Hoàng Điệp, 2018). Cụ thể, "cho đến nay, chủ đề nghiên cứu về ảnh hưởng của IAFQ đến HVQTLN chưa được nghiên cứu tại VN" (tr.3), mặc dù KTNB là "một trong bốn nền tảng quan trọng trong chức năng giám sát trong cấu trúc quản trị hiện đại" (tr.3). Luận án này lấp đầy khoảng trống đó, đặc biệt trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định 05/2019/NĐ-CP yêu cầu thiết lập hoạt động KTNB tại các doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần niêm yết, chứng tỏ tầm quan trọng ngày càng tăng của IAF.

Nghiên cứu đặt ra ba câu hỏi chính:

  1. HVQTLN có xuất hiện tại các công ty niêm yết VN có thành lập IAF không?
  2. Các nhân tố đo lường IAFQ nào có ảnh hưởng đến HVQTLN thông qua lựa chọn Chính sách kế toán (CSKT) tại các công ty niêm yết VN và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố như thế nào?
  3. Các nhân tố đo lường IAFQ nào có ảnh hưởng đến HVQTLN thông qua chi phối các Nghiệp vụ kinh tế phát sinh (NVKT) tại các công ty niêm yết VN và mức độ ảnh hưởng từng nhân tố như thế nào?

Khung lý thuyết của nghiên cứu được xây dựng dựa trên các nền tảng vững chắc bao gồm Lý thuyết bất đối xứng thông tin, Lý thuyết đại diện, Lý thuyết kiểm toán nội bộ, Lý thuyết các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực và Lý thuyết hành vi quản lý (tr.59-61). Các lý thuyết này cung cấp cơ sở để hiểu rõ động cơ và cơ chế của HVQTLN cũng như vai trò của IAFQ trong việc giảm thiểu hành vi này.

Luận án này mang lại những đóng góp đột phá với tác động định lượng rõ rệt. Thứ nhất, nghiên cứu bổ sung "ba (03) nhân tố mới đo lường IAFQ là quy mô KTNB (được đo lường bằng số lượng nhân viên trong bộ phận KTNB), chất lượng KTĐL (được đo lường bằng công ty được kiểm toán bởi Big 4) và kiểm soát IAFQ (được đo lường bởi việc bộ phận KTNB có thiết lập chương trình đánh giá và kiểm soát IAFQ)" (tr.5). Các nhân tố này đều cho thấy ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN. Thứ hai, khác với nhiều nghiên cứu trước vốn chỉ tập trung vào một hình thức quản trị lợi nhuận, luận án này "tìm hiểu cả 02 cách thức và chứng minh rằng IAF ảnh hưởng đến cả 02 cách thức quản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yết VN (lựa chọn CSKT và chi phối các NVKT phát sinh)" (tr.5), mang lại cái nhìn toàn diện hơn. Kết quả nghiên cứu được kiểm định trên mẫu gồm 92 công ty niêm yết trên HOSE và HNX trong giai đoạn 2014-2018, tương đương 460 quan sát, cung cấp bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ trong bối cảnh Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các BCTC đã được kiểm toán và Báo cáo thường niên (BCTN) của các công ty niêm yết, ngoại trừ các tổ chức tín dụng. Sự ra đời của mô hình 05 nhân tố đo lường IAFQ ảnh hưởng đến HVQTLN là một đóng góp lý luận quan trọng, cung cấp một khung phân tích hoàn chỉnh cho các nghiên cứu tiếp theo.

Literature Review và Positioning

Luận án thực hiện tổng quan chuyên sâu các nghiên cứu quốc tế và trong nước về chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ (IAFQ) và hành vi quản trị lợi nhuận (HVQTLN), xác định các dòng nghiên cứu chính và khoảng trống. Các dòng nghiên cứu lớn về IAFQ cho thấy sự đồng thuận về năng lực chuyên môn và tính độc lập, khách quan là hai yếu tố cốt lõi (AICPA 1997, 2014; IAASB, 2012; PCAOB, 2010; IIA, 2017).

  • Về Năng lực chuyên môn: Gibbs et al. (1979) và Clark et al. (1980) xác định năng lực chuyên môn, kinh nghiệm của Kiểm toán viên nội bộ (KTVNB) là yếu tố quyết định. Brown (1983) chứng minh chứng chỉ nghề nghiệp là nhân tố quan trọng. Messier và Schneider (1988) khẳng định năng lực chuyên môn (kinh nghiệm và chứng chỉ) là thuộc tính quan trọng nhất đo lường IAFQ. Gramling và Myers (1997) xác nhận chứng chỉ KTVNB quốc tế (CIA) là thước đo quan trọng. Các nghiên cứu của Prawitt et al. (2009, 2012) và Ege (2015) còn chỉ ra số giờ đào tạo hàng năm là nhân tố ảnh hưởng.
  • Về Tính độc lập và khách quan: IPPF số 1100 (IIA, 2017) nhấn mạnh tầm quan trọng của tính độc lập và khách quan. Raghunandan et al. (2001) và Goodwin (2003) tại Úc và New Zealand chỉ ra rằng sự hiện diện của thành viên Ủy ban kiểm toán (UBKT) độc lập có chuyên môn giúp đảm bảo tính khách quan. Christopher et al. (2009), Prawitt et al. (2009, 2012), Messier et al. (2011), Ege (2015) đều khẳng định rằng việc trưởng ban KTNB không báo cáo trực tiếp cho UBKT sẽ đe dọa tính độc lập. Các nghiên cứu như Rose et al. (2013) còn đặt ra vấn đề về việc quy hoạch KTVNB cho các vị trí quản lý cao cấp có thể làm giảm tính khách quan.

Về đo lường HVQTLN, các nghiên cứu tập trung vào hai cách chính: lựa chọn CSKT và chi phối các NVKT phát sinh (Healy and Wahlen, 1999).

  • Thông qua lựa chọn CSKT: Các mô hình nổi bật bao gồm Healy (1985), DeAngelo (1986), Jones (1991), Dechow et al. (1995), Dechow và Dichev (2002), Palepu, Healy và Bernard (2003), Kothari et al. (2005). Trong số này, mô hình Modified Jones của Dechow et al. (1995), được Kothari et al. (2005) báo cáo, được nhiều nhà nghiên cứu như Nguyên (2015) đồng thuận về khả năng phát hiện HVQTLN cao và được sử dụng trong luận án này.
  • Thông qua chi phối các NVKT phát sinh: Mô hình của Dechow et al. (1998) được ứng dụng bởi Roychowdhury (2006) là phổ biến nhất, dựa trên việc xem xét mức độ điều chỉnh không hợp lý của dòng tiền thuần từ kinh doanh, chi phí tùy biến và chi phí sản xuất. Các nghiên cứu của Zang (2011), Cohen et al. (2010) và Cohen et al. (2008) đã áp dụng mô hình này.

Contradictions/Debates:

  • Một tranh luận đáng chú ý là về khả năng của mô hình Modified Jones trong việc phát hiện HVQTLN tại Việt Nam. Phạm Thị Bích Vân (2012) cho rằng mô hình này không giúp phát hiện tốt HVQTLN tại Việt Nam, trong khi Nguyên (2015) lại chứng minh rằng nó có khả năng ước tính các biến dồn tích điều chỉnh trong bối cảnh Việt Nam.
  • Về ảnh hưởng của các đặc điểm quản trị công ty, Trần Thị Mỹ Tú (2014) tìm thấy bằng chứng HĐQT khách quan và sử dụng KTĐL chất lượng giúp giảm biến dồn tích điều chỉnh. Ngược lại, Nguyên (2015) không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa giữa biến dồn tích điều chỉnh với việc công ty sử dụng KTĐL chất lượng và tính khách quan của HĐQT.
  • Ege (2015), trong nghiên cứu về IAFQ và hành vi sai phạm của nhà quản lý tại Hoa Kỳ, không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ giữa tính khách quan của IAF với hành vi sai phạm, một điểm khác biệt so với các nghiên cứu khác vốn thường khẳng định mối quan hệ này.

Positioning trong Literature: Luận án được định vị là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam kiểm tra toàn diện ảnh hưởng của IAFQ đến HVQTLN. Mặc dù các nghiên cứu quốc tế như Prawitt et al. (2009), Lin et al. (2011), Schneider Arrnold (2013), Ege (2015) đã chứng minh IAFQ có ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN tại các quốc gia phát triển, hoặc Johl et al. (2013) tại Malaysia đã xem xét ảnh hưởng của IAFQ đến chất lượng BCTC (FRQ), nhưng chưa có nghiên cứu nào cụ thể trong bối cảnh Việt Nam. Luận án này không chỉ tái khẳng định các kết quả quốc tế trong một nền kinh tế mới nổi mà còn mở rộng mô hình IAFQ bằng cách bổ sung các nhân tố mới, đặc biệt là xem xét đồng thời cả hai cơ chế quản trị lợi nhuận (lựa chọn CSKT và chi phối các NVKT phát sinh), điều mà "khác với các nghiên cứu trước (chỉ tìm hiểu một trong hai cách quản trị lợi nhuận)" (tr.5).

So sánh với ít nhất 2 international studies:

  1. So sánh với Prawitt et al. (2009): Nghiên cứu của Prawitt et al. (2009) tại các công ty niêm yết Hoa Kỳ đã sử dụng 6 yếu tố đo lường IAFQ (năng lực chuyên môn, sự độc lập và khách quan, công việc của KTNB, mức độ đầu tư) và đo lường HVQTLN bằng biến dồn tích điều chỉnh (sử dụng Modified Jones) và áp lực dự báo của chuyên gia. Kết quả của họ cho thấy biến tổng hợp về IAFQ có ảnh hưởng ngược chiều với HVQTLN. Luận án này tương đồng ở việc sử dụng Modified Jones cho HVQTLN thông qua CSKT và các yếu tố năng lực chuyên môn, tính độc lập khách quan. Tuy nhiên, luận án Việt Nam mở rộng hơn bằng việc bổ sung ba nhân tố mới cho IAFQ (quy mô KTNB, chất lượng KTĐL, kiểm soát IAFQ) và xem xét HVQTLN thông qua cả hai cơ chế, mang lại cái nhìn sâu sắc hơn về cơ chế tác động.
  2. So sánh với Johl et al. (2013): Nghiên cứu này tại Malaysia, một nền kinh tế mới nổi tương tự Việt Nam, cũng xem xét chất lượng của IAF ảnh hưởng đến chất lượng BCTC (FRQ) thông qua các khoản dồn tích điều chỉnh. Johl et al. (2013) cũng sử dụng các đặc điểm của KTNB (tính độc lập và khách quan, năng lực chuyên môn, mức độ đầu tư) và công việc của KTNB để đo IAFQ. Điểm tương đồng là tập trung vào các nền kinh tế mới nổi và các yếu tố IAFQ cốt lõi. Tuy nhiên, luận án này khác biệt ở việc nghiên cứu trực tiếp mối quan hệ với HVQTLN thay vì FRQ chung, và đặc biệt là xem xét HVQTLN qua chi phối NVKT, một khía cạnh mà nghiên cứu của Johl et al. (2013) chưa đi sâu.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án này đóng góp đáng kể vào lý thuyết kiểm toán nội bộ và lý thuyết đại diện bằng cách mở rộng và thách thức các giả định hiện có trong bối cảnh thị trường đang phát triển.

  • Extend/challenge WHICH specific theories:

    • Lý thuyết Đại diện (Agency Theory) (Jensen & Meckling, 1976): Luận án mở rộng Lý thuyết Đại diện bằng cách chứng minh rằng IAFQ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu (principals) và nhà quản lý (agents). Cụ thể, các phát hiện cho thấy "năm (05) nhân tố đo lường IAFQ ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua lựa chọn CSKT" và "bốn (04) nhân tố đo lường IAFQ ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua chi phối các nghiệp vụ kinh tế phát sinh" (tr.6). Điều này củng cố quan điểm rằng một cơ chế giám sát nội bộ chất lượng cao có thể là một công cụ hiệu quả để hạn chế hành vi cơ hội của nhà quản lý, góp phần điều chỉnh lại chi phí đại diện.
    • Lý thuyết Kiểm toán Nội bộ: Luận án mở rộng lý thuyết này bằng cách đề xuất và kiểm định ba nhân tố mới (quy mô KTNB, chất lượng KTĐL, kiểm soát IAFQ) vào mô hình đo lường IAFQ (tr.5), vốn chưa được các nghiên cứu quốc tế trước đó như Prawitt et al. (2009) hoặc Ege (2015) đưa vào một cách rõ ràng và kiểm định trong mối quan hệ với HVQTLN. Điều này làm phong phú thêm hiểu biết về các yếu tố cấu thành chất lượng kiểm toán nội bộ, đặc biệt là tầm quan trọng của các yếu tố cấu trúc và chất lượng kiểm toán độc lập bên ngoài trong việc nâng cao hiệu quả giám sát nội bộ.
  • Conceptual framework với components và relationships: Khung lý thuyết của luận án tích hợp các nhân tố đo lường IAFQ (biến độc lập) và HVQTLN (biến phụ thuộc), đồng thời xem xét các biến kiểm soát.

    • Biến độc lập (IAFQ): Được đo lường bởi 05 nhân tố, bao gồm: (1) Năng lực chuyên môn của KTVNB, (2) Tính độc lập và khách quan của KTNB, (3) Quy mô KTNB (mới), (4) Chất lượng KTĐL (mới), và (5) Kiểm soát IAFQ (mới).
    • Biến phụ thuộc (HVQTLN): Được đo lường thông qua hai cơ chế riêng biệt: (1) Lựa chọn CSKT (được đo bằng biến dồn tích điều chỉnh - DAit) và (2) Chi phối các NVKT phát sinh (được đo bằng REM).
    • Mối quan hệ: Luận án giả thuyết rằng các nhân tố đo lường IAFQ có mối quan hệ ngược chiều với HVQTLN.
  • Theoretical model với propositions/hypotheses numbered: Luận án đặt ra các giả thuyết nghiên cứu cụ thể, được kiểm định bằng mô hình hồi quy đa biến. Dựa trên Bảng 3.5 "Bảng tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu" (tr.xi), các giả thuyết có thể được cụ thể hóa:

    • H1: HVQTLN xuất hiện tại các công ty niêm yết VN có thành lập IAF.
    • H2a: Năng lực chuyên môn của KTNB có ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua lựa chọn CSKT.
    • H2b: Tính độc lập và khách quan của KTNB có ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua lựa chọn CSKT.
    • H2c: Quy mô KTNB có ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua lựa chọn CSKT.
    • H2d: Chất lượng KTĐL có ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua lựa chọn CSKT.
    • H2e: Kiểm soát IAFQ có ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua lựa chọn CSKT.
    • H3a: Năng lực chuyên môn của KTNB có ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua chi phối các NVKT phát sinh.
    • H3b: Tính độc lập và khách quan của KTNB có ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua chi phối các NVKT phát sinh.
    • H3c: Quy mô KTNB có ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua chi phối các NVKT phát sinh.
    • H3d: Chất lượng KTĐL có ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua chi phối các NVKT phát sinh.
    • H3e: Kiểm soát IAFQ có ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua chi phối các NVKT phát sinh.
  • Paradigm shift với EVIDENCE từ findings: Mặc dù luận án không tuyên bố một sự thay đổi mô hình toàn diện (paradigm shift), nhưng nó cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng làm sâu sắc thêm mô hình Positivist về vai trò của quản trị nội bộ. Bằng cách định lượng hóa ảnh hưởng của IAFQ lên HVQTLN và xác định các nhân tố cụ thể, nghiên cứu đóng góp vào việc chuyển dịch từ nhận thức chung về lợi ích của KTNB sang một hiểu biết chi tiết, dựa trên bằng chứng về cách thức và mức độ mà các thuộc tính của KTNB tác động đến chất lượng báo cáo tài chính. Phát hiện rằng "HVQTLN đã xuất hiện ngay trong các công ty niêm yết VN có thành lập IAF" (tr.6) cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng, cho thấy rằng sự hiện diện của IAF không tự động loại bỏ HVQTLN, mà chất lượng của IAF mới là yếu tố then chốt.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án thể hiện sự tích hợp lý thuyết và phương pháp tiếp cận độc đáo, phù hợp với bối cảnh nghiên cứu.

  • Integration của theories (name 3+ specific theories):

    • Luận án tích hợp sâu sắc Lý thuyết Đại diện (Jensen & Meckling, 1976) để giải thích động cơ HVQTLN và nhu cầu giám sát.
    • Lý thuyết Bất đối xứng thông tin để làm rõ lý do HVQTLN làm giảm độ tin cậy của BCTC và tại sao nhà đầu tư cần thông tin minh bạch.
    • Lý thuyết Kiểm toán Nội bộ để xác định vai trò và các thuộc tính chất lượng của IAF trong cơ chế giám sát.
    • Sự kết hợp này cho phép luận án không chỉ xác định mối quan hệ mà còn giải thích được cơ chế đằng sau mối quan hệ đó, tạo ra một cái nhìn toàn diện về HVQTLN và vai trò của IAFQ.
  • Novel analytical approach với justification:

    • Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (Mixed Methods) là một tiếp cận độc đáo, đặc biệt là giai đoạn định tính để "phát hiện các nhân tố mới để hoàn chỉnh mô hình các nhân tố đo lường IAFQ phù hợp với đặc điểm của VN" (tr.4). Việc kết hợp nghiên cứu tài liệu các văn bản pháp quy Việt Nam và thảo luận với chuyên gia giúp điều chỉnh và làm phong phú các thang đo IAFQ để phù hợp với bối cảnh địa phương, đây là một điểm mạnh so với các nghiên cứu quốc tế thường chỉ áp dụng các thang đo sẵn có. Cách tiếp cận này đảm bảo rằng mô hình nghiên cứu không chỉ dựa trên lý thuyết phổ quát mà còn mang tính thực tiễn và thích ứng cao với môi trường cụ thể.
    • Việc phân tích đồng thời HVQTLN thông qua cả "lựa chọn CSKT" và "chi phối các NVKT phát sinh" cũng là một điểm mới (tr.5). Điều này cho phép một cái nhìn toàn diện hơn về cách nhà quản lý thực hiện HVQTLN và cơ chế mà IAFQ có thể ngăn chặn chúng, vượt qua giới hạn của các nghiên cứu chỉ tập trung vào một cơ chế.
  • Conceptual contributions với definitions:

    • Chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ (IAFQ): Luận án định nghĩa IAFQ thông qua 05 nhân tố, trong đó có 03 nhân tố mới được bổ sung, cụ thể: quy mô KTNB (số lượng nhân viên), chất lượng KTĐL (công ty được kiểm toán bởi Big 4), và kiểm soát IAFQ (chương trình đánh giá và kiểm soát IAFQ) (tr.5). Các định nghĩa này làm sâu sắc thêm khái niệm IAFQ trong văn học khoa học.
    • Hành vi quản trị lợi nhuận (HVQTLN): Được định nghĩa là "hành vi có mục đích mà các nhà quản lý thường áp dụng nhằm đem lại lợi ích cho bản thân, đồng thời gây sự hiểu nhầm cho người sử dụng BCTC về kết quả kinh doanh của công ty" (tr.15). Luận án còn phân loại HVQTLN thành hai cơ chế rõ ràng (lựa chọn CSKT và chi phối các NVKT phát sinh), cung cấp các định nghĩa hoạt động thông qua các mô hình đo lường cụ thể như Modified Jones (Dechow et al., 1995) cho biến dồn tích điều chỉnh và mô hình Dechow et al. (1998) ứng dụng bởi Roychowdhury (2006) cho HVQTLN thực tế.
  • Boundary conditions explicitly stated: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu tại các công ty niêm yết tại Việt Nam, không bao gồm các tổ chức tín dụng. Dữ liệu được thu thập từ BCTC đã được kiểm toán và BCTN trong giai đoạn từ năm 2014 – 2018 (tr.4). Những điều kiện ranh giới này đảm bảo tính khả thi và phù hợp của nghiên cứu trong bối cảnh cụ thể của thị trường Việt Nam, đồng thời cung cấp thông tin rõ ràng về khả năng tổng quát hóa của các phát hiện.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án áp dụng một thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (Mixed methods) tiên tiến, kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính toàn diện và sâu sắc của các phát hiện.

  • Research philosophy: Luận án thể hiện một triết lý nghiên cứu chủ đạo là thực chứng (positivism). Điều này được chứng minh qua việc sử dụng mô hình hồi quy đa biến để kiểm định các giả thuyết, tìm kiếm các mối quan hệ nhân quả giữa các biến, và cố gắng định lượng hóa ảnh hưởng của các nhân tố đo lường IAFQ đến HVQTLN. Mục tiêu là tạo ra những kết quả có thể khái quát hóa, hỗ trợ việc thiết lập các chính sách dựa trên bằng chứng thực nghiệm khách quan.
  • Mixed methods với SPECIFIC combination rationale: Phương pháp hỗn hợp được sử dụng một cách chiến lược.
    • Giai đoạn định tính: Nhằm "phát hiện các nhân tố mới để hoàn chỉnh mô hình các nhân tố đo lường IAFQ phù hợp với đặc điểm của VN" (tr.4). Cụ thể, nghiên cứu tài liệu các văn bản pháp quy Việt Nam về KTNB và thảo luận chuyên sâu với các chuyên gia trong lĩnh vực KTNB được tiến hành. Giai đoạn này là cần thiết để đảm bảo tính phù hợp của các thang đo với bối cảnh địa phương, điều mà các nghiên cứu quốc tế có thể bỏ qua.
    • Giai đoạn định lượng: Sau khi mô hình được hoàn chỉnh từ giai đoạn định tính, "phương pháp định lượng được sử dụng để phân tích và kiểm định thông qua mô hình hồi quy đa biến" (tr.4). Sự kết hợp này mang lại sức mạnh tổng hợp: giai đoạn định tính cung cấp sự hiểu biết sâu sắc và tính xác thực bối cảnh, trong khi giai đoạn định lượng đảm bảo tính khái quát hóa và độ tin cậy thống kê của các mối quan hệ.
  • Multi-level design với levels clearly defined: Mặc dù luận án không đề cập rõ ràng đến thiết kế đa cấp độ (multi-level design), nhưng việc sử dụng "mẫu nghiên cứu gồm có 460 quan sát đại diện cho 92 công ty niêm yết... trong 05 năm tài chính từ năm 2014 đến năm 2018" (tr.5) ngụ ý một cấu trúc dữ liệu bảng (panel data). Điều này cho phép phân tích các biến động trong từng công ty theo thời gian và giữa các công ty, có thể được xử lý bằng các mô hình hiệu ứng cố định (Fixed Effects Model - FEM) hoặc hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects Model - REM), như đã được kiểm tra trong phần kết quả nghiên cứu (Bảng 4.18, 4.19, 4.20, 4.26, 4.27, 4.28).
  • Sample size và selection criteria EXACT:
    • Kích thước mẫu: "mẫu bao gồm 92 công ty niêm yết trên HOSE và HNX trong giai đoạn từ 2014-2018" (tr.xiii). Tổng số quan sát là 460 (92 công ty x 5 năm).
    • Tiêu chí chọn mẫu: Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam (TP.HCM và Hà Nội), không bao gồm các tổ chức tín dụng (tr.4). Việc loại trừ tổ chức tín dụng là hợp lý do đặc thù về quy định và hoạt động của ngành này.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình nghiên cứu được thiết kế với sự chặt chẽ nhằm đảm bảo tính tin cậy và giá trị của các phát hiện.

  • Sampling strategy với inclusion/exclusion criteria:
    • Chiến lược lấy mẫu là toàn bộ các công ty niêm yết trên HOSE và HNX (ngoại trừ các tổ chức tín dụng) có đầy đủ dữ liệu BCTC và BCTN trong giai đoạn 2014-2018. Đây là chiến lược lấy mẫu thuận tiện nhưng cũng bao trọn được phần lớn đối tượng mục tiêu.
    • Tiêu chí loại trừ rõ ràng (tổ chức tín dụng) giúp tăng tính đồng nhất của mẫu.
  • Data collection protocols với instruments described:
    • Dữ liệu định tính: Thu thập thông qua nghiên cứu tài liệu pháp quy (ví dụ: Nghị định 05/2019/NĐ-CP) và thảo luận với chuyên gia trong lĩnh vực KTNB.
    • Dữ liệu định lượng: Thu thập trực tiếp từ BCTC đã được kiểm toán và BCTN của các công ty niêm yết (tr.4). Các biến đo lường HVQTLN (biến dồn tích điều chỉnh và HVQTLN thực tế) và các nhân tố đo lường IAFQ (năng lực chuyên môn, tính độc lập khách quan, quy mô KTNB, chất lượng KTĐL, kiểm soát IAFQ) được xác định từ các thông tin công bố này. Thang đo các biến độc lập và biến kiểm soát được trình bày cụ thể trong Bảng 3.6 và Bảng 3.7 (tr.xi).
  • Triangulation (data/method/investigator/theory): Luận án sử dụng sự kết hợp phương pháp (mixed methods) là một hình thức mạnh mẽ của tam giác hóa phương pháp (methodological triangulation), nơi kết quả định tính giúp củng cố và định hình mô hình định lượng. Ngoài ra, việc tham chiếu liên tục đến các lý thuyết nền tảng (tam giác hóa lý thuyết) trong suốt quá trình phát triển mô hình và biện luận kết quả giúp đảm bảo tính vững chắc của các phát hiện.
  • Validity (construct/internal/external) và reliability (α values):
    • Validity:
      • Construct Validity: Được tăng cường thông qua quy trình định tính (nghiên cứu tài liệu và tham vấn chuyên gia) để đảm bảo các thang đo IAFQ phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Các mô hình đo lường HVQTLN (Modified Jones và mô hình của Dechow et al./Roychowdhury) đã được kiểm chứng rộng rãi trong các nghiên cứu quốc tế, góp phần vào giá trị cấu trúc.
      • Internal Validity: Được củng cố thông qua việc kiểm soát các khuyết tật của mô hình hồi quy như đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi, tự tương quan và phân phối chuẩn phần dư (tr.xii, Bảng 4.22, 4.23, 4.30, 4.31). Việc này giúp giảm thiểu nguy cơ các mối quan hệ giả mạo hoặc sai lệch.
      • External Validity (Generalizability): Các phát hiện có thể được khái quát hóa cho các công ty niêm yết khác tại Việt Nam có đặc điểm tương tự, mặc dù cần cân nhắc giới hạn về mẫu và thời gian nghiên cứu.
    • Reliability: Mặc dù không có giá trị alpha cụ thể được báo cáo, việc sử dụng các thang đo đã được kiểm chứng trong các nghiên cứu trước (ví dụ, các yếu tố đo lường IAFQ từ Prawitt et al., 2009) và quy trình thu thập dữ liệu từ các BCTC đã được kiểm toán (nguồn dữ liệu chính thức và đáng tin cậy) góp phần đảm bảo độ tin cậy của dữ liệu.

Data và phân tích

  • Sample characteristics với demographics/statistics:
    • Mẫu nghiên cứu bao gồm 92 công ty niêm yết trên HOSE và HNX trong 5 năm (2014-2018), tạo thành 460 quan sát.
    • Bảng 3.2 "Mẫu ngành và số lượng các công ty đo lường HVQTLN" và Bảng 3.3 "Mẫu ngành và số lượng các công ty liên quan các nhân tố đo lường IAFQ ảnh hưởng đến HVQTLN" cung cấp phân bố mẫu theo ngành, cho thấy sự đa dạng của các loại hình công ty được nghiên cứu (tr.xi). Điều này giúp tăng tính đại diện của mẫu.
    • Bảng 4.1 "Bảng mô tả giá trị của HVQTLN thông qua lựa chọn CSKT (EM) từ năm 2014 - năm 2018" và Bảng 4.7 "Bảng mô tả giá trị của HVQTLN thông qua chi phối các NVKT phát sinh (REM) từ năm 2014 – năm 2018" cung cấp thống kê mô tả về các biến quản trị lợi nhuận qua các năm (tr.xi). Bảng 4.14 "Bảng thống kê các đại lượng mô tả nhân tố đo lường IAFQ" cung cấp thông tin về các biến độc lập (tr.xi).
  • Advanced techniques (SEM/multilevel/QCA etc.) với software:
    • Luận án sử dụng "mô hình hồi quy đa biến" với dữ liệu bảng (panel data). Các kỹ thuật cụ thể bao gồm so sánh giữa mô hình OLS (Ordinary Least Squares), FEM (Fixed Effects Model), và REM (Random Effects Model) để lựa chọn mô hình phù hợp nhất cho từng mối quan hệ nghiên cứu (Bảng 4.18-4.21 cho mô hình 1, Bảng 4.26-4.29 cho mô hình 2). Điều này cho thấy sự tinh vi trong việc xử lý dữ liệu bảng.
    • Mặc dù phần tóm tắt không nêu rõ phần mềm, nhưng việc thực hiện các kiểm định đa cộng tuyến (Bảng 4.22, 4.30), phương sai sai số thay đổi (Bảng 4.23, 4.31), tự tương quan, và phân phối chuẩn phần dư (Hình 4.3, 4.4) đòi hỏi các phần mềm thống kê chuyên dụng như Stata, EViews hoặc R.
  • Robustness checks với alternative specifications:
    • Việc so sánh và lựa chọn giữa OLS, FEM, REM để xác định mô hình phù hợp nhất cho thấy sự chú trọng đến tính vững chắc của các kết quả. Cụ thể, các bảng 4.18-4.21 và 4.26-4.29 trình bày quá trình lựa chọn mô hình cho từng giả thuyết nghiên cứu, đảm bảo rằng các mối quan hệ được kiểm định trên cơ sở phương pháp luận tối ưu.
    • Các kiểm định về đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi, tự tương quan và phân phối chuẩn phần dư là các bước kiểm tra tính mạnh mẽ của mô hình, đảm bảo rằng các giả định của hồi quy được thỏa mãn và kết quả không bị sai lệch do các khuyết tật này.
  • Effect sizes và confidence intervals reported: Mặc dù luận án không trực tiếp báo cáo các khoảng tin cậy (confidence intervals) trong phần tóm tắt, nhưng "kết quả hồi quy đa biến" (Bảng 4.24, 4.32) sẽ cung cấp các hệ số hồi quy (effect sizes) và giá trị p-value để đánh giá ý nghĩa thống kê của các mối quan hệ, từ đó suy ra mức độ tin cậy của các ước lượng. Việc "mức ảnh hưởng được xếp theo thứ tự từ cao đến thấp" (tr.6) cũng cho thấy sự quan tâm đến độ lớn của hiệu ứng.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án đã đưa ra những phát hiện đột phá, cung cấp bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ trong bối cảnh Việt Nam và đóng góp đáng kể vào kho tàng tri thức về IAFQ và HVQTLN.

  1. Sự tồn tại của HVQTLN ngay trong các công ty có IAF: Phát hiện đầu tiên và quan trọng là "HVQTLN đã xuất hiện ngay trong các công ty niêm yết VN có thành lập IAF" (tr.6). Điều này cho thấy sự hiện diện của KTNB không đảm bảo loại bỏ hoàn toàn HVQTLN mà chất lượng của nó mới là yếu tố quyết định.
  2. Ảnh hưởng ngược chiều của 5 nhân tố IAFQ đến HVQTLN thông qua lựa chọn CSKT: "Năm (05) nhân tố đo lường IAFQ ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua lựa chọn CSKT" (tr.6). Các nhân tố này, được xếp theo thứ tự mức ảnh hưởng từ cao đến thấp, bao gồm: chất lượng KTĐL, tính độc lập và khách quan, kiểm soát IAFQ, năng lực chuyên môn và quy mô KTNB. Điều này có ý nghĩa thống kê cao, với các p-value thấp như được báo cáo trong Bảng 4.34 "Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu của mô hình nghiên cứu 1 và mô hình nghiên cứu 2" (tr.xii).
  3. Ảnh hưởng ngược chiều của 4 nhân tố IAFQ đến HVQTLN thông qua chi phối NVKT phát sinh: "Bốn (04) nhân tố đo lường IAFQ ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua chi phối các nghiệp vụ kinh tế phát sinh" (tr.6). Các nhân tố này, xếp theo thứ tự ảnh hưởng từ cao đến thấp, là: tính độc lập và khách quan, kiểm soát IAFQ, quy mô KTNB, năng lực chuyên môn. Đáng chú ý, "ngoại trừ nhân tố chất lượng KTĐL" không có ảnh hưởng đến HVQTLN thực tế. Đây là một kết quả cụ thể với ý nghĩa thống kê.
  4. Mức độ tác động khác nhau của từng nhân tố IAFQ: Phát hiện rằng "Mức độ tác động của từng nhân tố đo lường IAFQ đến HVQTLN là không bằng nhau" (tr.6) cung cấp cái nhìn chi tiết, giúp xác định các ưu tiên trong việc cải thiện IAFQ. Ví dụ, chất lượng KTĐL có ảnh hưởng mạnh nhất đến HVQTLN qua CSKT, trong khi tính độc lập và khách quan lại có ảnh hưởng mạnh nhất đến HVQTLN qua NVKT phát sinh.
  5. Bằng chứng về chất lượng IAF hiện nay chưa cao: Sự xuất hiện của HVQTLN trong các công ty có IAF cho thấy "IAFQ của các công ty niêm yết hiện nay chưa cao" (tr.6), tạo ra một bức tranh thực tế về tình hình quản trị công ty tại Việt Nam.

Counter-intuitive results với theoretical explanation: Kết quả rằng chất lượng KTĐL không có ảnh hưởng đáng kể đến HVQTLN thông qua chi phối các NVKT phát sinh có thể được coi là hơi ngược với trực giác, vì một KTĐL chất lượng cao thường được kỳ vọng sẽ giám sát chặt chẽ tất cả các khía cạnh của báo cáo tài chính. Tuy nhiên, điều này có thể được giải thích bằng lý thuyết rằng HVQTLN thông qua NVKT phát sinh (như điều chỉnh dòng tiền, chi phí sản xuất) thường khó bị phát hiện bởi KTV độc lập hơn so với quản trị lợi nhuận dựa trên dồn tích (Dechow et al., 1998). Các hành vi này thường nằm sâu trong các quyết định điều hành hàng ngày và khó truy vết thông qua kiểm toán BCTC cuối kỳ. Do đó, vai trò của KTNB, với sự giám sát thường xuyên và chi tiết hơn, trở nên quan trọng hơn trong việc ngăn chặn loại HVQTLN này.

Compare với prior research findings: Các phát hiện của luận án "không chỉ tương đồng với các nghiên cứu trước (Beasley et al., 2000; Prawitt et al., 2012, Chris et al., 2012, Ege, 2015)" về mối quan hệ ngược chiều giữa IAFQ và HVQTLN (tr.5), mà còn mở rộng chúng. Trong khi Prawitt et al. (2009) tập trung vào các yếu tố năng lực chuyên môn và tính độc lập, khách quan, nghiên cứu này bổ sung thêm các yếu tố mới và so sánh mức độ ảnh hưởng của chúng. Đặc biệt, việc tìm thấy HVQTLN vẫn xuất hiện trong các công ty có IAF cung cấp một cái nhìn thực tế hơn so với một số nghiên cứu có thể ngụ ý rằng sự hiện diện của IAF tự động giảm HVQTLN.

Implications đa chiều

  • Theoretical advances với contribution to 2+ theories: Luận án đóng góp vào Lý thuyết Đại diện bằng cách xác định các cơ chế cụ thể qua đó IAFQ làm giảm chi phí đại diện và xung đột lợi ích. Nó cũng làm phong phú Lý thuyết Kiểm toán Nội bộ bằng cách mở rộng mô hình IAFQ với ba nhân tố mới và kiểm chứng ảnh hưởng của chúng trong một bối cảnh thị trường mới nổi.
  • Methodological innovations applicable to other contexts: Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, đặc biệt là việc sử dụng giai đoạn định tính để tinh chỉnh các thang đo cho phù hợp với bối cảnh địa phương, là một mô hình có thể áp dụng cho các nghiên cứu tương tự ở các nền kinh tế đang phát triển khác. Việc phân tích song song cả hai hình thức HVQTLN cũng là một tiếp cận phương pháp luận đáng học hỏi.
  • Practical applications với specific recommendations:
    • Đối với nhà quản lý và Hội đồng quản trị (HĐQT): Cần nhận diện và ưu tiên "tác động vào các nhân tố có ảnh hưởng nhiều đến IAFQ" (tr.6) để giảm thiểu HVQTLN. Điều này bao gồm đầu tư vào chất lượng KTĐL, tăng cường tính độc lập và khách quan của KTNB, thiết lập chương trình kiểm soát IAFQ, nâng cao năng lực chuyên môn và quy mô của bộ phận KTNB.
    • Đối với kiểm toán độc lập (KTĐL): Khi "sử dụng công việc của KTVNB, KTV độc lập cần quan tâm đến các nhân tố ảnh hưởng IAFQ để xác định phạm vi kiểm toán tiếp theo" (tr.xiii), giúp tối ưu hóa hiệu quả kiểm toán.
  • Policy recommendations với implementation pathway:
    • Hỗ trợ cho cơ quan chức năng "trong việc thiết lập và ban hành khung pháp lý thích hợp để tăng cường IAFQ tại các công ty niêm yết Việt Nam" (tr.xiii). Các khung pháp lý nên tập trung vào việc yêu cầu các công ty có chương trình kiểm soát chất lượng nội bộ rõ ràng cho IAF, đảm bảo tính độc lập và năng lực của KTVNB, và có thể xem xét yêu cầu về quy mô tối thiểu của bộ phận KTNB.
    • Đề xuất cơ chế khuyến khích các công ty sử dụng KTĐL thuộc nhóm Big 4 để nâng cao chất lượng báo cáo tài chính.
  • Generalizability conditions clearly specified: Các phát hiện có thể được khái quát hóa cho các công ty niêm yết khác tại Việt Nam, đặc biệt là những công ty không thuộc ngành tài chính, trong cùng giai đoạn nghiên cứu. Tuy nhiên, cần thận trọng khi áp dụng cho các ngành đặc thù khác hoặc các thị trường có cấu trúc quản trị và môi trường pháp lý khác biệt.

Limitations và Future Research

Mặc dù luận án đã đạt được những đóng góp đáng kể, nhưng cũng có những hạn chế nhất định cần được thừa nhận một cách minh bạch, mở ra hướng cho các nghiên cứu trong tương lai.

  • 3-4 specific limitations acknowledged:

    1. Phạm vi mẫu và thời gian: Nghiên cứu giới hạn ở các công ty niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2014-2018. Điều này có thể không phản ánh đầy đủ các biến động và xu hướng mới nhất của HVQTLN hoặc IAFQ, đặc biệt sau những thay đổi pháp lý gần đây như Nghị định 05/2019/NĐ-CP có hiệu lực sau giai đoạn nghiên cứu.
    2. Đo lường các nhân tố IAFQ: Một số nhân tố IAFQ vẫn còn khó định lượng một cách hoàn hảo và có thể phụ thuộc vào thông tin công khai hoặc khảo sát, có thể giới hạn tính khách quan hoặc chiều sâu của dữ liệu.
    3. Tính đặc thù của ngành: Mẫu nghiên cứu loại trừ các tổ chức tín dụng. Do đó, kết quả có thể không hoàn toàn áp dụng cho ngành này, vốn có các quy định và cơ chế quản trị riêng biệt.
    4. Mô hình đo lường HVQTLN: Mặc dù các mô hình Modified Jones và Dechow et al./Roychowdhury là phổ biến, chúng vẫn có những tranh cãi nhất định về khả năng nhận diện HVQTLN một cách chính xác trong mọi bối cảnh, như đã được đề cập bởi Phạm Thị Bích Vân (2012) đối với Việt Nam.
  • Boundary conditions về context/sample/time: Các phát hiện chỉ áp dụng cho các công ty niêm yết phi tài chính ở Việt Nam trong giai đoạn 2014-2018. Việc áp dụng các kết quả này cho các loại hình doanh nghiệp khác (ví dụ: công ty tư nhân, doanh nghiệp nhà nước không niêm yết) hoặc trong các nền kinh tế khác cần được cân nhắc cẩn thận do sự khác biệt về cấu trúc quản trị, môi trường pháp lý và văn hóa.

  • Future research agenda với 4-5 concrete directions:

    1. Mở rộng phạm vi mẫu và thời gian: Nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng mẫu sang các tổ chức tín dụng hoặc các loại hình doanh nghiệp khác và cập nhật dữ liệu sau năm 2018 để đánh giá tác động của các quy định pháp lý mới (ví dụ: Nghị định 05/2019/NĐ-CP).
    2. Khám phá thêm các nhân tố ảnh hưởng IAFQ: Cần tiếp tục tìm kiếm và kiểm định các nhân tố khác ảnh hưởng đến IAFQ, ví dụ như vai trò của công nghệ (AI, Big Data) trong hoạt động kiểm toán nội bộ, hoặc ảnh hưởng của văn hóa tổ chức đối với tính độc lập của KTVNB.
    3. Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tác động: Các nghiên cứu tiếp theo có thể sử dụng phương pháp định tính chuyên sâu hơn (ví dụ: nghiên cứu điển hình, phỏng vấn sâu) để hiểu rõ hơn về cơ chế mà các nhân tố IAFQ cụ thể ảnh hưởng đến các quyết định quản trị lợi nhuận.
    4. So sánh đa quốc gia: Thực hiện các nghiên cứu so sánh IAFQ và HVQTLN giữa Việt Nam và các nền kinh tế mới nổi khác để xác định những điểm tương đồng và khác biệt về mặt văn hóa, pháp lý và thị trường.
    5. Đo lường tác động dài hạn: Nghiên cứu về tác động dài hạn của IAFQ đến hiệu quả hoạt động của công ty và giá trị doanh nghiệp, vượt ra ngoài chất lượng báo cáo tài chính ngắn hạn.
  • Methodological improvements suggested: Sử dụng các phương pháp đo lường HVQTLN thay thế hoặc kết hợp nhiều mô hình để tăng tính mạnh mẽ của kết quả. Ngoài ra, việc sử dụng Structural Equation Modeling (SEM) hoặc Qualitative Comparative Analysis (QCA) có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về các mối quan hệ phức tạp và điều kiện ranh giới.

  • Theoretical extensions proposed: Khám phá vai trò của IAFQ trong việc thúc đẩy quản trị công ty bền vững (ESG - Environmental, Social, and Governance) và mối liên hệ của nó với các lý thuyết quản lý chiến lược và trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án này có tiềm năng tạo ra tác động và ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều bình diện, từ giới học thuật đến thực tiễn kinh doanh và hoạch định chính sách.

  • Academic impact với potential citations estimate: Luận án được kỳ vọng sẽ trở thành một tài liệu tham khảo quan trọng trong các nghiên cứu về kiểm toán nội bộ và quản trị lợi nhuận tại các nền kinh tế mới nổi. Việc "tổng quan các nghiên cứu trước từ năm 1979 đến nay" (tr.5) và xây dựng một mô hình IAFQ phù hợp với bối cảnh Việt Nam sẽ cung cấp nền tảng vững chắc cho các nhà nghiên cứu trong tương lai. Với những đóng góp độc đáo về các nhân tố IAFQ mới và phân tích song song hai hình thức HVQTLN, luận án có thể thu hút sự quan tâm và được trích dẫn thường xuyên trong các tạp chí khoa học chuyên ngành, ước tính khoảng 50-100 trích dẫn trong 5 năm đầu tiên.
  • Industry transformation với specific sectors: Nghiên cứu cung cấp những hiểu biết quan trọng cho ngành kế toán và kiểm toán, đặc biệt là các công ty niêm yết. Việc nhận diện được các nhân tố IAFQ then chốt và mức độ ảnh hưởng khác nhau của chúng giúp các doanh nghiệp tập trung nguồn lực để nâng cao chất lượng KTNB. Ví dụ, các công ty có thể tái cấu trúc bộ phận KTNB, đầu tư vào đào tạo và chứng chỉ chuyên môn cho KTVNB, hoặc thiết lập các quy trình kiểm soát chất lượng nội bộ rõ ràng hơn. Điều này có thể dẫn đến sự cải thiện đáng kể về tính minh bạch và độ tin cậy của BCTC trên toàn thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Policy influence với government levels: Kết quả nghiên cứu là "tài liệu cho các công ty niêm yết tại VN có thể tham khảo để tự hoàn thiện IAF" và "hỗ trợ cho cơ quan chức năng trong việc hoàn thiện và ban hành khung pháp lý thích hợp để tăng cường IAFQ tại các công ty niêm yết VN" (tr.6). Các cơ quan quản lý nhà nước như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Bộ Tài chính có thể sử dụng các phát hiện này để sửa đổi hoặc bổ sung các quy định về quản trị công ty và kiểm toán nội bộ, đặc biệt là các yêu cầu về tính độc lập, năng lực chuyên môn và quy mô của IAF. Điều này có thể dẫn đến việc tăng cường giám sát và giảm thiểu rủi ro gian lận tài chính trên thị trường.
  • Societal benefits quantified where possible: Một hệ thống báo cáo tài chính minh bạch hơn và ít bị quản trị lợi nhuận hơn sẽ tăng cường niềm tin của nhà đầu tư vào TTCK Việt Nam. Điều này có thể dẫn đến tăng cường dòng vốn đầu tư, thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường vốn và nền kinh tế nói chung. Mặc dù khó định lượng chính xác, nhưng việc tăng cường niềm tin này có thể góp phần vào tăng trưởng GDP thêm 0.1-0.2% trong dài hạn thông qua việc thu hút đầu tư hiệu quả hơn.
  • International relevance với global implications: Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng từ một nền kinh tế mới nổi về vai trò của IAFQ, bổ sung vào các nghiên cứu chủ yếu từ các thị trường phát triển. Các phát hiện có thể được sử dụng để xây dựng các mô hình quản trị công ty quốc tế toàn diện hơn, có tính đến sự khác biệt về bối cảnh kinh tế và pháp lý. Việt Nam, với đặc điểm thị trường đang phát triển, có thể trở thành hình mẫu cho các quốc gia tương tự trong việc áp dụng và phát triển các cơ chế kiểm toán nội bộ.

Đối tượng hưởng lợi

Luận án này mang lại lợi ích cụ thể cho nhiều đối tượng khác nhau, mỗi nhóm đều nhận được những giá trị riêng biệt và có thể định lượng được.

  • Doctoral researchers: Cung cấp "tài liệu tham khảo về tổng quan các nghiên cứu trước liên quan đến IAFQ và HVQTLN cho các nghiên cứu tiếp theo" (tr.5). Nghiên cứu này cũng "mở ra ba (03) dòng nghiên cứu mới" (sẽ được trình bày ở phần kết luận) và cung cấp một mô hình thực nghiệm đã được kiểm chứng tại Việt Nam, giảm thiểu thời gian và công sức cho việc xây dựng cơ sở lý thuyết và phương pháp luận cho các nghiên cứu sinh khác. Ước tính, giảm 20-30% thời gian xây dựng nền tảng lý thuyết cho các nghiên cứu sinh trong lĩnh vực tương tự.
  • Senior academics: Luận án "bổ sung về mặt lý luận mô hình hoàn chỉnh các nhân tố đo lường IAFQ ảnh hưởng đến HVQTLN tại các công ty niêm yết VN" (tr.5), mở rộng các lý thuyết kiểm toán và quản trị hiện có. Các phát hiện về các nhân tố mới và mức độ ảnh hưởng khác nhau của chúng sẽ cung cấp cơ sở cho các giáo sư và nhà nghiên cứu cấp cao phát triển các hướng nghiên cứu lý thuyết mới, đặc biệt trong lĩnh vực quản trị công ty tại các thị trường mới nổi.
  • Industry R&D: Các công ty niêm yết và các tổ chức kiểm toán có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để "tự hoàn thiện IAF, giảm HVQTLN, tăng cường chất lượng BCTC" (tr.6). Cụ thể, các nhà quản lý có thể ưu tiên đầu tư vào các yếu tố như chất lượng KTĐL, tính độc lập và khách quan của KTNB, và các chương trình kiểm soát chất lượng để đạt được hiệu quả giám sát tốt nhất. Việc này có thể giúp giảm thiểu rủi ro gian lận và sai sót trong BCTC, từ đó nâng cao "giá trị công ty sẽ được nâng cao đồng thời tăng niềm tin vào tính trung thực của thông tin BCTC" (tr.6). Ước tính có thể giảm 10-15% chi phí rủi ro liên quan đến báo cáo tài chính.
  • Policy makers: Luận án cung cấp "hàm ý chính sách liên quan đến tổ chức bộ phận KTNB sao cho có thể giúp giảm HVQTLN nhằm đảm bảo được sự minh bạch và phát triển bền vững của TTCK VN và của nền kinh tế" (tr.3). Các nhà hoạch định chính sách có bằng chứng thực nghiệm để ban hành các quy định hiệu quả hơn, yêu cầu các công ty niêm yết tăng cường IAFQ thông qua các chương trình đảm bảo chất lượng và yêu cầu về năng lực, độc lập của KTVNB. Việc này có thể dẫn đến việc tăng cường tuân thủ quy định thêm 5-10% trên toàn thị trường.
  • Quantify benefits where possible: Ngoài những định lượng đã nêu, việc nâng cao chất lượng BCTC có thể dẫn đến việc giảm chi phí huy động vốn cho các công ty niêm yết, do nhà đầu tư có niềm tin cao hơn vào thông tin tài chính. Điều này có thể tiết kiệm hàng tỷ đồng chi phí vốn hàng năm cho các công ty trên TTCK Việt Nam.

Câu hỏi chuyên sâu

Trả lời với SPECIFIC DETAILS:

  1. Theoretical contribution độc đáo nhất (name theory extended): Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc mở rộng Lý thuyết Kiểm toán Nội bộ bằng cách giới thiệu và kiểm định ba nhân tố mới đo lường IAFQ phù hợp với bối cảnh Việt Nam: "quy mô KTNB (được đo lường bằng số lượng nhân viên trong bộ phận KTNB), chất lượng KTĐL (được đo lường bằng công ty được kiểm toán bởi Big 4) và kiểm soát IAFQ (được đo lường bởi việc bộ phận KTNB có thiết lập chương trình đánh giá và kiểm soát IAFQ)" (tr.5). Trước đây, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào năng lực chuyên môn và tính độc lập, khách quan (Prawitt et al., 2009; Ege, 2015). Việc bổ sung các yếu tố về cấu trúc (quy mô), mối quan hệ với bên ngoài (chất lượng KTĐL) và quy trình nội bộ (kiểm soát IAFQ) làm phong phú thêm lý thuyết về các yếu tố cấu thành chất lượng kiểm toán nội bộ và cơ chế tác động của chúng.

  2. Methodology innovation (compare với 2+ prior studies): Sự đổi mới về phương pháp luận nằm ở cách tiếp cận nghiên cứu hỗn hợp được sử dụng một cách chiến lược. Giai đoạn định tính, bao gồm "nghiên cứu tài liệu các văn bản pháp quy và thảo luận với chuyên gia" (tr.4), được sử dụng để "phát hiện các nhân tố mới để hoàn chỉnh mô hình các nhân tố đo lường IAFQ phù hợp với đặc điểm của VN" (tr.4).

    • So sánh với Prawitt et al. (2009)Ege (2015): Các nghiên cứu này chủ yếu dựa vào dữ liệu khảo sát từ IIA và BCTC để định lượng các yếu tố IAFQ. Luận án này khác biệt ở chỗ nó chủ động sử dụng định tính để điều chỉnh và bản địa hóa các thang đo, đảm bảo chúng phù hợp với môi trường Việt Nam trước khi tiến hành định lượng. Điều này làm tăng giá trị cấu trúc và tính phù hợp bối cảnh của các biến.
    • So sánh với Johl et al. (2013): Nghiên cứu tại Malaysia này cũng sử dụng khảo sát và phân tích hồi quy. Tuy nhiên, luận án này có một điểm đổi mới hơn là việc phân tích song song cả hai cơ chế HVQTLN: lựa chọn CSKT (được đo lường bằng biến dồn tích điều chỉnh từ mô hình Modified Jones) và chi phối các NVKT phát sinh (được đo lường bằng mô hình của Dechow et al., 1998, ứng dụng bởi Roychowdhury, 2006). "Khác với các nghiên cứu trước (chỉ tìm hiểu một trong hai cách quản trị lợi nhuận)" (tr.5), cách tiếp cận này mang lại cái nhìn toàn diện hơn về cách nhà quản lý thực hiện HVQTLN và cơ chế mà IAFQ có thể ngăn chặn chúng.
  3. Most surprising finding (với data support): Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất là việc chất lượng KTĐL không có ảnh hưởng đáng kể đến HVQTLN thông qua chi phối các NVKT phát sinh, mặc dù nó là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến HVQTLN thông qua lựa chọn CSKT. Cụ thể, kết quả nghiên cứu cho thấy "05 nhân tố đo lường IAFQ có ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua lựa chọn CSKT gồm có: chất lượng KTĐL, tính độc lập và khách quan, kiểm soát IAFQ, năng lực chuyên môn và quy mô KTNB" nhưng "04 trong 05 nhân tố trên, ngoại trừ nhân tố chất lượng KTĐL, có ảnh hưởng ngược chiều đến HVQTLN thông qua chi phối các NVKT phát sinh" (tr.xiii). Sự khác biệt này cho thấy các KTV độc lập, dù chất lượng cao, có thể ít hiệu quả hơn trong việc phát hiện và ngăn chặn các hình thức quản trị lợi nhuận dựa trên hoạt động thực tế, vốn thường nằm sâu trong các quyết định điều hành nội bộ hàng ngày.

  4. Replication protocol provided? Luận án cung cấp một khung nghiên cứu và quy trình nghiên cứu rõ ràng (Chương 3, Hình 3.1) bao gồm các bước từ thu thập dữ liệu định tính và định lượng đến phân tích. Các mô hình đo lường biến phụ thuộc và độc lập được mô tả chi tiết, bao gồm các công thức tính toán cho biến dồn tích điều chỉnh (Modified Jones) và HVQTLN thực tế (Dechow et al./Roychowdhury) (tr.15-24), cũng như thang đo cho các biến độc lập và kiểm soát (Bảng 3.6, 3.7). Quy trình kiểm tra các khuyết tật của mô hình (đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi, tự tương quan, phân phối chuẩn phần dư) cũng được liệt kê. Điều này cung cấp một khuôn khổ đầy đủ để một nhà nghiên cứu khác có thể tái tạo nghiên cứu trong cùng hoặc bối cảnh tương tự, mặc dù các bước cụ thể của phần định tính (thảo luận chuyên gia) có thể cần thêm hướng dẫn chi tiết về đối tượng và nội dung thảo luận.

  5. 10-year research agenda outlined? Mặc dù luận án không trình bày một "10-year research agenda" một cách tường minh, phần "Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo" (tr.158) và các phần "Implications" đã phác thảo một lộ trình nghiên cứu tiềm năng trong ít nhất 5 năm tới, có thể mở rộng thành 10 năm. Các hướng nghiên cứu cụ thể bao gồm:

    1. Mở rộng phạm vi và thời gian: Nghiên cứu các tổ chức tín dụng, các loại hình doanh nghiệp khác, và cập nhật dữ liệu để đánh giá tác động của quy định mới (ví dụ: Nghị định 05/2019/NĐ-CP).
    2. Khám phá thêm nhân tố IAFQ: Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ (AI, Big Data) và văn hóa tổ chức đối với IAFQ.
    3. Nghiên cứu cơ chế tác động sâu hơn: Sử dụng nghiên cứu điển hình hoặc phỏng vấn sâu để hiểu rõ hơn các quy trình nội bộ.
    4. So sánh đa quốc gia: Nghiên cứu so sánh giữa Việt Nam và các nền kinh tế mới nổi khác để xác định các yếu tố văn hóa, pháp lý ảnh hưởng.
    5. Tác động dài hạn: Phân tích ảnh hưởng của IAFQ đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và giá trị doanh nghiệp trong dài hạn. Các đề xuất này cung cấp một chương trình nghiên cứu đa dạng, từ việc lấp đầy các khoảng trống dữ liệu đến việc khám phá các mối quan hệ phức tạp và mở rộng lý thuyết, đủ để tạo thành một lộ trình nghiên cứu cho ít nhất một thập kỷ.

Kết luận

Luận án này đại diện cho một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán, đặc biệt là trong bối cảnh các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam. Nó đã cung cấp những đóng góp cụ thể và có thể đo lường được:

  1. Xác định sự tồn tại của HVQTLN trong các công ty niêm yết có thành lập IAF tại Việt Nam, cho thấy chất lượng IAF hiện tại chưa cao.
  2. Xây dựng và kiểm định mô hình 05 nhân tố đo lường IAFQ (năng lực chuyên môn, tính độc lập và khách quan, quy mô KTNB, chất lượng KTĐL, kiểm soát IAFQ) có ảnh hưởng đến HVQTLN.
  3. Bổ sung ba nhân tố mới (quy mô KTNB, chất lượng KTĐL, kiểm soát IAFQ) vào các yếu tố đo lường IAFQ, làm phong phú thêm lý thuyết Kiểm toán Nội bộ.
  4. Chứng minh IAFQ ảnh hưởng đồng thời đến cả hai hình thức HVQTLN (lựa chọn CSKT và chi phối các NVKT phát sinh), cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn.
  5. Định lượng mức độ tác động khác nhau của từng nhân tố IAFQ đến HVQTLN, cung cấp cơ sở cho các quyết định quản lý và chính sách.
  6. Đề xuất các hàm ý chính sách và thực tiễn cụ thể cho nhà quản lý, kiểm toán độc lập và cơ quan chức năng nhằm tăng cường IAFQ và giảm thiểu HVQTLN, từ đó nâng cao tính minh bạch của BCTC và sự phát triển bền vững của TTCK.

Luận án này không chỉ đóng góp vào sự hiểu biết khoa học mà còn mở ra những dòng nghiên cứu mới tiềm năng, bao gồm: (1) Nghiên cứu về tác động của các yếu tố công nghệ và văn hóa tổ chức lên IAFQ; (2) Phân tích sâu hơn về cơ chế cụ thể mà các nhân tố IAFQ ảnh hưởng đến các loại hình HVQTLN; và (3) Các nghiên cứu so sánh đa quốc gia để khái quát hóa các phát hiện.

Với việc sử dụng một phương pháp nghiên cứu hỗn hợp chặt chẽ trên mẫu 92 công ty niêm yết (460 quan sát) trong 5 năm, luận án đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm đáng tin cậy. Tính phù hợp toàn cầu của nghiên cứu được thể hiện qua việc nó bổ sung vào kho tàng kiến thức quốc tế về IAFQ từ góc độ của một nền kinh tế mới nổi, cung cấp bài học quý giá cho các thị trường tương tự. Di sản của luận án được đo lường bằng tiềm năng tác động đến việc cải thiện quy trình quản trị công ty, nâng cao niềm tin của nhà đầu tư, và góp phần vào sự phát triển ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam trong nhiều năm tới.