Luận án nghiên cứu giải pháp kỹ thuật phát triển sản xuất ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái
Giải pháp kỹ thuật trồng ngô xuân trên ruộng bậc thang Yên Bái giúp tăng năng suất, bảo vệ đất hiệu quả.
Luan An
Luận án
Số trang
221
Thời gian đọc
34 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Thời vụ trồng ngô xuân Yên Bái và lựa chọn giống ngô
- Số trang:
- 221 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Thời vụ trồng ngô xuân Yên Bái và lựa chọn giống ngô
Ruộng bậc thang Yên Bái thường bỏ hóa 7 tháng sau vụ lúa mùa hàng năm. Đất đai vùng cao không được tận dụng gây lãng phí tài nguyên canh tác lớn. Việc gieo trồng ngô xuân là hướng đi đột phá giúp tăng hệ số sử dụng đất. Nhiệt độ mùa xuân vùng cao dao động thuận lợi từ 20 đến 25 độ C. Lượng mưa trung bình đạt 450 đến 550 mm tạo nguồn ẩm tự nhiên dồi dào. Khung thời gian canh tác 125 ngày rất thích hợp cho chu kỳ sinh trưởng của ngô. Canh tác ngô xuân không chỉ đảm bảo an ninh lương thực mà còn cung cấp ngô sinh khối cho đàn gia súc.
1.1. Khung thời vụ gieo trồng ngô xuân tối ưu tại Yên Bái
Thời vụ trồng ngô xuân Yên Bái quyết định trực tiếp đến năng suất và chất lượng mùa vụ. Khung thời vụ gieo hạt tối ưu nhất diễn ra từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 2 dương lịch. Gieo trồng đúng thời điểm giúp cây non kịp thời đón nền nhiệt ấm đầu xuân. Cây ngô tránh được các đợt rét đậm rét hại cuối mùa đông gây hại rễ. Thời gian thu hoạch hoàn tất vào cuối tháng 5 để kịp trả đất làm lúa mùa. Nắm vững lịch mùa vụ giúp hạn chế rủi ro thời tiết và gia tăng hiệu quả kinh tế.
1.2. Tuyển chọn giống ngô lai chịu hạn và chịu lạnh tốt
Điều kiện vùng cao đòi hỏi giống cây trồng có sức chống chịu môi trường khắc nghiệt. Giống ngô lai chịu hạn và chịu lạnh tốt là lựa chọn hàng đầu cho ruộng bậc thang. Các giống ngô lai như LVN17 và NK6101 thể hiện tính thích nghi vượt trội tại vùng núi dốc. Cây ngô có bộ rễ chân kiềng ăn sâu, thân cây cứng cáp và hạn chế gãy đổ. Bắp ngô to đồng đều, tỷ lệ kết hạt cao và lá bi bao kín đầu bắp. Năng suất hạt đạt trên 5 tấn một hecta, đáp ứng mục tiêu thương phẩm và ngô sinh khối.
II. Kỹ thuật làm đất theo đường đồng mức chống xói mòn đất
Đất ruộng bậc thang vùng cao Yên Bái có địa hình dốc đứng và độ phì trung bình thấp. Mưa lớn đầu vụ dễ làm trôi lớp đất mặt giàu dinh dưỡng xuống thung lũng. Kỹ thuật làm đất đóng vai trò quyết định đến việc giữ ẩm và giữ đất. Biện pháp canh tác chuẩn xác bảo vệ đất không bị thoái hóa theo thời gian. Khâu chuẩn bị đất cần hoàn thành trước khi gieo hạt từ 5 đến 7 ngày. Đất tơi xốp tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ ngô phát triển nhanh chóng.
2.1. Cày bừa làm rãnh theo đường đồng mức trên ruộng dốc
Kỹ thuật làm đất theo đường đồng mức là giải pháp canh tác bắt buộc trên ruộng bậc thang. Đất được cày bừa kỹ và dọn sạch gốc rạ lúa mùa cũ còn sót lại. Rãnh gieo hạt được xẻ ngang theo đường đồng mức của sườn đồi với độ sâu 15 đến 20 cm. Rãnh ngang chặn dòng nước chảy tràn, giữ lại hạt phân bón và độ ẩm xung quanh gốc cây. Bộ rễ cây ngô ăn sâu vào tầng đất xốp giúp cây đứng vững trước gió bão vùng cao.
2.2. Biện pháp chống xói mòn rửa trôi đất dốc ruộng bậc thang
Mưa rào mùa xuân thường gây hiện tượng xói lở nghiêm trọng trên đất dốc. Biện pháp chống xói mòn rửa trôi đất dốc cần được triển khai đồng bộ suốt vụ ngô. Bờ ruộng bậc thang cần được đắp chặt và giữ phẳng để tích nước khi cần. Việc trồng các băng cỏ chắn ở mép ruộng giữ lại bùn đất phù sa màu mỡ. Đào các rãnh thoát nước phân tán giúp tiêu thoát nước lũ kịp thời mà không cuốn trôi đất canh tác.
III. Mật độ khoảng cách tra hạt ngô chuẩn kỹ thuật vùng cao
Mật độ gieo trồng quyết định năng suất hạt và khả năng sinh trưởng của quần thể ngô. Ruộng bậc thang có diện tích manh mún đòi hỏi sự bố trí không gian hợp lý. Mật độ tối ưu giúp ruộng ngô đón nhận tối đa ánh sáng mặt trời để quang hợp. Cây ngô phân bổ đồng đều giúp hạn chế sự cạnh tranh nước tưới và dưỡng chất trong đất. Ruộng thông thoáng còn ngăn chặn nguy cơ phát sinh các ổ nấm bệnh hại ngô mùa xuân.
3.1. Xác định mật độ khoảng cách tra hạt ngô xuân phù hợp
Mật độ khoảng cách tra hạt ngô lấy hạt chuẩn đạt 7,7 vạn cây trên mỗi hecta diện tích. Khoảng cách giữa các hàng là 70 cm và khoảng cách giữa các cây là 18 đến 20 cm. Khi sản xuất ngô sinh khối phục vụ chăn nuôi, mật độ có thể tăng lên 8,5 vạn cây một hecta. Hạt giống được tra sâu từ 3 đến 5 cm dưới đáy rãnh rồi lấp một lớp đất mỏng mịn. Độ sâu này giữ ẩm tối ưu cho hạt nảy mầm và tránh sự phá hoại của côn trùng.
3.2. Áp dụng biện pháp che phủ giữ ẩm đất bằng tàn dư cây
Đầu mùa xuân vùng cao thường xuất hiện các đợt gió khô hanh làm đất mất nước. Biện pháp che phủ giữ ẩm đất bằng rơm rạ là kỹ thuật không thể thiếu. Lượng tàn dư hữu cơ che phủ đồng ruộng đạt định mức 5 tấn trên một hecta. Lớp phủ rơm rạ ngăn cản bốc hơi nước mặt và kìm hãm sự phát triển của cỏ dại. Tàn dư hữu cơ mục nát sau mùa vụ sẽ bổ sung lượng mùn dinh dưỡng lớn cho đất ruộng bậc thang.
IV. Kỹ thuật bón phân cho ngô xuân ruộng bậc thang Yên Bái
Đất ruộng bậc thang nghèo dinh dưỡng đòi hỏi quy trình cấp phân bón cân đối và khoa học. Cây ngô xuân cần đủ các nguyên tố đa lượng và vi lượng để tạo bắp đầy đặn. Việc phối trộn hài hòa giữa phân bón hữu cơ và phân vô cơ là chìa khóa then chốt. Cung cấp dinh dưỡng đúng thời điểm giúp ngô tăng trưởng nhanh và nâng cao sức đề kháng. Bón phân khoa học còn hạn chế ô nhiễm môi trường đất và nguồn nước đầu nguồn.
4.1. Bón lót phân chuồng hoai mục và NPK chuyên dùng ngô
Khâu bón lót yêu cầu sử dụng bón lót phân chuồng hoai mục với liều lượng 8 đến 10 tấn một hecta. Phân chuồng hoai cải thiện độ tơi xốp và tăng khả năng giữ nước cho tầng đất dốc. Bón lót kết hợp toàn bộ phân lân cùng phân bón NPK chuyên dùng cho ngô theo tỷ lệ khuyến cáo. Toàn bộ lượng phân bón lót được rải đều dưới rãnh đồng mức và lấp đất phủ kín. Hạt ngô tra xuống không được tiếp xúc trực tiếp với phân bón để tránh cháy mầm non.
4.2. Kỹ thuật bón thúc tránh rửa trôi phân bón vùng đồi dốc
Kỹ thuật bón thúc tránh rửa trôi phân bón yêu cầu chia nhỏ lượng đạm và kali theo từng giai đoạn. Đợt bón thúc thứ nhất khi cây có 3 đến 5 lá kết hợp làm cỏ xới xáo nhẹ quanh gốc. Đợt bón thúc thứ hai khi cây có 7 đến 9 lá nhằm thúc đẩy sự phân hóa bắp ngô. Đợt bón thúc cuối cùng diễn ra trước khi ngô trỗ cờ từ 10 đến 12 ngày. Phân bón được tra cách gốc 10 đến 15 cm rồi vun đất lấp kín rãnh ngay sau bón.
V. Phòng trừ sâu keo mùa thu và chăm sóc ngô xuân hiệu quả
Bảo vệ thực vật đúng cách là yếu tố quyết định trực tiếp tới năng suất thu hoạch ngô xuân. Sâu bệnh hại có thể phá hủy mầm ngô và làm giảm nghiêm trọng sản lượng bắp. Công tác theo dõi đồng ruộng định kỳ giúp phát hiện mầm bệnh ngay từ giai đoạn khởi phát. Áp dụng quy trình quản lý dịch hại tổng hợp bảo vệ tối đa hệ sinh thái vùng cao. Cây ngô sinh trưởng khỏe mạnh sẽ mang lại hiệu quả kinh tế bền vững cho sản xuất vùng cao.
5.1. Quy trình phòng trừ sâu keo mùa thu hại ngô vụ xuân
Nhiệm vụ phòng trừ sâu keo mùa thu cần được thực hiện thường xuyên và quyết liệt suốt vụ. Sâu non có tập tính cắn phá nõn ngô và làm rách nát phiến lá rất nhanh. Cần làm sạch cỏ dại quanh bờ ruộng bậc thang để triệt tiêu nơi trú ẩn của sâu. Dùng bẫy bả chua ngọt và bẫy đèn để tiêu diệt bướm trưởng thành đẻ trứng. Khi mật độ sâu cao, tiến hành phun thuốc sinh học chứa Bacillus thuringiensis hoặc hoạt chất Emamectin benzoate vào chiều mát.
5.2. Chăm sóc và thu hoạch ngô hạt kết hợp ngô sinh khối
Ruộng ngô cần được duy trì độ ẩm đầy đủ trong giai đoạn ngô trỗ cờ và phun râu. Tiến hành tỉa bỏ chồi nách và bắp phụ để tập trung dinh dưỡng nuôi bắp ngô chính. Thu hoạch ngô sinh khối diễn ra vào giai đoạn chín sáp sau 85 đến 90 ngày sau gieo. Ngô lấy hạt được thu hoạch khi lá bao ngô ngả màu vàng rơm và hạt xuất hiện chấm đen. Hạt ngô sau tách hạt cần được phơi khô đạt độ ẩm dưới 14% để cất trữ an toàn.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (221 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộĐặt vấn đề Canh tác ruộng bậc thang từ lâu đã được coi là loại hình canh tác độc đáo của người dân vùng cao tỉnh Yên Bái, là kiểu canh tác lúa nước trên địa hình đồi núi, cải tạo đất dốc thành đất bằng, ruộng bậc thang có giá trị về an ninh lương thực, giá trị về văn hóa và truyền thống dân tộc của người dân vùng cao của tỉnh. Với mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực và phát triển bền vững cho các huyện vùng sâu vùng xa, thì việc nhận thức được tính bền vững của canh tác trên ruộng bậc thang không chỉ mang lại nguồn lương thực thiết yếu mà còn là cơ sở cho việc định canh định cư, cũng là phương thức bảo vệ rừng một cách hợp lý và hữu hiệu. Diện tích hiện trạng đất ruộng bậc thang tỉnh Yên Bái là 5.787,78 ha; chiếm 0,85% tổng diện tích đất tự nhiên và chiếm 5,36% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh (Niên giám thống kê tỉnh Yên Bái, 2019) [79]. Trong đó, diện tích đất ruộng bậc thang 1 vụ chiếm diện tích khá lớn và tập trung chủ yếu ở các huyện vùng cao khó khăn của tỉnh như huyện Văn Chấn, Văn Yên, Mù Cang Chải và Trạm Tấu (huyện Mù Cang Chải và huyện Trạm Tấu có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%).
Đất ruộng bậc thang tại đây có độ phì ở mức trung bình đến thấp, cơ cấu cây trồng chủ yếu là một vụ lúa mùa. Khung thời vụ canh tác vụ lúa mùa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, thời gian đất bỏ hóa từ tháng 11 năm trước đến cuối tháng 5 năm sau. Tuy nhiên, năng suất lúa mùa thấp, hiệu quả sản xuất không cao và đặc biệt thời gian bỏ hóa dài (7 tháng). Để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thêm vụ gieo trồng trên đất ruộng bậc thang 1 vụ nhằm đảm bảo an ninh lương thực và phát triển kinh tế bền vững các huyện vùng cao của tỉnh thì chỉ có thể tăng vụ ở thời điểm đất bỏ hóa là ở vụ Đông hoặc vụ Xuân.
Tuy nhiên, vụ Đông của vùng từ tháng 11 đến giữa tháng 2 năm sau thường nhiệt độ ở mức thấp (15 - 180C), nhiệt độ trung bình tối thấp 11,7 - 14,60C và thường có những đợt rét đậm, rét hại, lượng mưa trung bình 150 - 200 mm, khó lựa chọn cây trồng ưa ấm gieo trồng phù hợp. Vụ Xuân, từ tháng 2 đến tháng 5 nhiệt độ trung bình 2 20 - 250C, nhiệt độ trung bình tối thấp là 15,7 - 210C, lượng mưa trung bình thấp 450 - 550 mm [53], khung thời vụ là 125 ngày, hoàn toàn có thể gieo trồng được thêm một vụ cây trồng ở vụ Xuân nữa với các loại cây trồng như ngô, đậu đỗ,… Cùng với cây lúa, cây ngô là cây lương thực quan trọng nằm trong Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của bộ Nông nghiệp và Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Yên Bái. Năm 2018, diện tích gieo trồng ngô cả tỉnh là 28.522 ha, năng suất trung bình đạt 34,19 tạ/ha, mức năng suất thấp nhất của cả nước. Ngô được trồng chủ yếu trên nương rẫy, đất bãi bồi và một phần trên diện tích đất ruộng, ngô được trồng ở vụ xuân và vụ hè thu, vụ đông trên đất ruộng.
Từ lâu, cây ngô là cây trồng quan trọng gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của người dân tỉnh Yên Bái và vùng MNPB. Bên cạnh việc sản xuất ngô lấy hạt thì gieo trồng ngô sinh khối làm thức ăn, phát triển đàn gia súc cũng là hướng đi mới để phát triển kinh tế vùng cao hiện nay. Để canh tác thêm vụ ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tại tỉnh Yên Bái rất cần thiết phải lựa chọn được giống ngô ngắn ngày phù hợp với khung thời vụ gieo trồng vụ xuân, giống ngô có khả năng chịu hạn chịu lạnh tốt, giống ngô có đặc điểm hình thái phù hợp với tập quán canh tác người dân của vùng,… Bên cạnh đó, việc nghiên cứu kỹ thuật canh tác ngô phù hợp với điều kiện canh tác vụ xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái cũng là công việc rất quan trọng để đảm bảo việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thêm vụ ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái phát triển bền vững. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ‘‘Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật phát triển sản xuất ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái’’.
Mục tiêu của nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Nghiên cứu xác định được bộ giống ngô, biện pháp canh tác hợp lý nhằm phát triển sản xuất ngô Xuân hiệu quả trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được thực trạng, bao gồm cả các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong sản xuất ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái. - Xác định được giống ngô có năng suất cao, phù hợp với điều kiện sinh thái và tập quán canh tác trên đất ruộng bậc thang của tỉnh Yên Bái.
- Xác định được kỹ thuật canh tác ngô (thời vụ gieo trồng, phương pháp gieo trồng, phân bón,…) phù hợp với điều kiện vụ xuân trên ruộng bậc thang của vùng. - Xây dựng được mô hình trình diễn ngô xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái. Đóng góp mới của luận án - Luận án đã đánh giá những hạn chế của canh tác ngô vụ Xuân trên đất ruộng bậc thang tỉnh Yên Bái là nhiệt độ thấp, khô hạn, tập quán canh tác của người dân,. - Luận án đã xác định được giống ngô (LVN17, NK6101), biện pháp kỹ thuật canh tác ngô hợp lý (thời vụ gieo trồng 10/2 - 20/2; phân bón 150 kg N + 120 kg P2O5 + 90 K2O/ha trên nền che phủ 5 tấn vật liệu hữu cơ/ha đối với ngô lấy hạt; mật độ gieo trồng 7,7 vạn cây và bón 180 kg N/ha với ngô sinh khối làm thức ăn chăn nuôi) giúp phát triển sản xuất ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang tại tỉnh Yên Bái.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án Về mặt khoa học - Luận án là công trình nghiên cứu đồng bộ về xác định giống và các biện pháp kỹ thuật tổng hợp cho ngô Xuân gieo trồng trên đất ruộng bậc thang một vụ tại Yên Bái. Kết quả nghiên cứu của luận án là các dẫn liệu cơ sở khoa học có giá trị không những cho việc bố trí gieo trồng cây ngô Xuân trên chân đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái, mà còn là cơ sở để phát triển cây ngô ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam. - Luận án có thể sử dụng làm tài liệu trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học. 4 Về mặt thực tiễn - Kết quả nghiên cứu đã lựa chọn được giống ngô, kỹ thuật canh tác phù hợp, giúp phát triển mở rộng cơ cấu cây trồng ngô Xuân - lúa Mùa trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái, tăng hiệu quả sử dụng đất, khai thác sử dụng hiệu quả lao động dôi dư nông thôn ở vụ Xuân, thúc đẩy chăn nuôi phát triển, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội cho người dân vùng cao.
- Kết quả nghiên cứu về tăng vụ ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ lúa Mùa có thể áp dụng với một số tỉnh khác tại vùng miền núi phía Bắc có điều kiện tương tự. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan đất ruộng bậc thang 1. Nghiên cứu về đất ruộng bậc thang trên thế giới Trên thế giới, loại hình ruộng bậc thang được coi là phổ biến đối với các cư dân sinh sống ở vùng đồi núi đất.
Có thể kể ra đây một loạt các địa danh đã đi vào lịch sử như Banaue (Philippines) với người Iphugao, Nguyên Dương (Vân Nam, Trung Quốc), với người Hà Nhì, Ubud (Bali, Indonesia) với người Ba Li, Annapurna (Nepal) với người An na, Mae Rim (Chiềng Mai, Thái Lan) với người Ka Ren,. Trên thực tế, ruộng bậc thang không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp cảnh quan mà còn có nhiều giá trị cần được bảo tồn và phát huy các lợi thế trong tương lai. Ở Philipine: Người Ifugao đã sáng tạo ra nền văn hóa lúa nước dựa trên nền tảng canh tác ruộng bậc thang. Đó là những núi đất được chinh phục với độ cao từ 700m đến 1.500m và có những thửa ruộng bậc thang có hàng nghìn năm tuổi.
Những bờ ruộng bậc thang được kè bằng những viên đá nứt nẻ, liên kết với nhau tạo thành các bờ bền vững. Những thửa ruộng bậc thang ở đây đa dạng về kích thước, phần lớn có độ chênh là 0,6 m. Người Ifugao cũng có thể sử dụng các thửa ruộng bậc thang để phát triển chăn nuôi (Dẫn theo Lộc Trần Vượng, 2021) [76]. Nhật Bản: Tanada, theo nghĩa Nhật bản là lúa bậc thang, đầu tiên xuất hiện ở tài liệu lịch sử vào tiền Muromachi (Thế kỷ 14 đến 16).
Thời đó, người Nhật cổ đã làm ruộng bậc thang trồng lúa trên đất dốc (Dẫn theo Lộc Trần Vượng, 2021) [77]. Trung Quốc: Các ruộng lúa bậc thang đã có lịch sử từ lâu đời, được ghi chép cách đây 1300 năm. Các ruộng bậc thang Hani ở Yuanyang, Honghe, Luchun và nối với nhau có thể nhìn thấy từ núi này sang núi khác (Dẫn theo Jessica Larson-Wang, 2017) [94]. Ở Yuanyang, diện tích ruộng bậc thang có trên 11.000 ha và trên 3.
Thời tiết nơi đây khá lạnh nên người dân chỉ trồng được một vụ lúa/năm. Sau khi thu hoạch vào mùa thu, nước được trữ lại đó cho đến mùa xuân để tiếp tục mùa gieo cấy mới. Đa số các ruộng bậc thang ở Trung Quốc được người dân sử dụng đá để xếp làm bờ ruộng (Dẫn theo Nguyễn Trường Giang, 2015) [23]. 6 Ở Thái Lan: Vùng núi cao Đông Bắc của Thái Lan như Chiang Mai, Chiang Rai…tộc người Karen có truyền thống canh tác ruộng bậc thang.
Chiang Mai là thành phố lớn nhất ở miền bắc Thái Lan và cũng là nơi thu hút khách du lịch hàng đầu của xứ chùa vàng, mỗi năm thu hút hơn 14,1 triệu du khách ghé thăm. Một trong những điểm thu hút khách du lịch đến Chiang Mai là "Vương quốc triệu ruộng lúa" (Dẫn theo Lộc Trần Vượng, 2021) [76]. Ở Indonexia: Trên quần đảo Bali loại hình canh tác ruộng bậc thang cũng phổ biến. Ruộng bậc thang Bali đã có từ hơn 2.000 năm trước và được quản lí bởi các Subak, mỗi Subak sẽ chịu trách nhiệm tưới tiêu cũng như chăm sóc từ một đến vài thửa.
Ruộng nằm ở phía bắc làng Tegallalang, Bali. Cánh đồng bao gồm hơn 600 hecta ruộng lúa xuôi theo địa hình sườn đồi thoải của dãy núi Batukaru.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Giải pháp kỹ thuật trồng ngô xuân trên ruộng bậc thang Yên Bái (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/nong-hoc/trong-trot/giai-phap-ky-thuat-trong-ngo-xuan-tren-ruong-bac-thang-yen-bai
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Giải pháp kỹ thuật trồng ngô xuân trên ruộng bậc thang Yên Bái" nghiên cứu về vấn đề gì?
Giải pháp kỹ thuật trồng ngô xuân trên ruộng bậc thang Yên Bái giúp tăng năng suất, bảo vệ đất hiệu quả.
Luận án "Giải pháp kỹ thuật trồng ngô xuân trên ruộng bậc thang Yên Bái" có bao nhiêu trang?
Luận án "Giải pháp kỹ thuật trồng ngô xuân trên ruộng bậc thang Yên Bái" có 221 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Giải pháp kỹ thuật trồng ngô xuân trên ruộng bậc thang Yên Bái" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.