Thủy nông Tây Nam Bộ 1802-1945: Luận án Tiến sĩ Lịch sử của Trần Hữu Thắng
Thủy nông Tây Nam Bộ 1802-1945: Luận án nghiên cứu hệ thống thủy nông và tác động kinh tế-xã hội thời kỳ này.
Lịch sử Việt Nam
Luan An
Luận án Tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
231
Thời gian đọc
35 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I.Lịch sử thủy lợi Tây Nam Bộ Giai đoạn 1802 1945
Luận án này khám phá lịch sử thủy lợi Tây Nam Bộ từ năm 1802 đến 1945. Nghiên cứu tập trung vào sự phát triển của thủy nông tại Đồng bằng sông Cửu Long. Giai đoạn này chứng kiến nhiều chuyển biến quan trọng dưới thời kỳ Triều Nguyễn và Thời Pháp thuộc. Luận án phân tích các chính sách thủy lợi, phương thức xây dựng hệ thống kênh đào. Đồng thời, luận án đánh giá tác động của cơ sở hạ tầng thủy lợi đến nông nghiệp lúa nước, kinh tế và xã hội khu vực. Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, lấp đầy khoảng trống trong việc tìm hiểu quản lý nước ở vùng đất trù phú này. Luận án cung cấp cái nhìn toàn diện về quá trình khai phá, phát triển nông nghiệp và những hệ quả của nó.
1.1. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu chi tiết
Luận án đặt mục tiêu làm rõ quá trình hình thành, phát triển của thủy nông Tây Nam Bộ trong giai đoạn 1802-1945. Nghiên cứu xác định vai trò của các chính quyền trong việc xây dựng hệ thống kênh đào. Phạm vi địa lý bao phủ toàn bộ vùng Tây Nam Bộ, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Phạm vi thời gian bao gồm thời kỳ nhà Nguyễn độc lập (1802-1867) và thời kỳ Pháp thuộc (1867-1945). Luận án khảo sát sâu về chính sách thủy lợi, kỹ thuật xây dựng, quản lý nước và những ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống kinh tế, xã hội. Phân tích bao gồm cả những đóng góp và hạn chế của từng giai đoạn lịch sử. Luận án mang lại giá trị khoa học và thực tiễn cao.
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu khoa học
Nhiều công trình đã nghiên cứu về kinh tế, chính trị, xã hội thời Nguyễn và Pháp thuộc. Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử thủy lợi Tây Nam Bộ vẫn còn hạn chế. Đặc biệt, việc tìm hiểu tổ chức, thực hiện đào vét kênh rạch, đắp đê, giải quyết tưới tiêu cho nông nghiệp lúa nước chưa nhận được sự quan tâm đúng mức. Luận án này đóng góp vào việc lấp đầy khoảng trống đó. Nghiên cứu tổng hợp các công trình trong và ngoài nước, từ đó đưa ra nhận định, đánh giá mới về vai trò của cơ sở hạ tầng thủy lợi. Luận án khẳng định tầm quan trọng của quản lý nước đối với sự phát triển Đồng bằng sông Cửu Long. Phương pháp nghiên cứu đa dạng, đảm bảo tính khách quan.
II.Thủy nông Đồng bằng Sông Cửu Long thời Triều Nguyễn
Giai đoạn Triều Nguyễn (1802-1867) chứng kiến những nỗ lực đáng kể trong phát triển thủy nông Đồng bằng sông Cửu Long. Mục đích chính là khai hoang, mở rộng diện tích canh tác cho nông nghiệp lúa nước. Nhà Nguyễn nhận thấy tiềm năng to lớn của vùng đất mới. Các vua Nguyễn đã ban hành nhiều chính sách thủy lợi nhằm đẩy mạnh công cuộc khai khẩn. Việc đào, vét kênh rạch không chỉ phục vụ tưới tiêu mà còn cải thiện giao thông, an ninh quốc phòng. Đây là nền tảng quan trọng cho sự phát triển sau này của hệ thống kênh đào khu vực. Chính quyền Nguyễn đã để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử thủy lợi Tây Nam Bộ.
2.1. Công cuộc đào vét kênh rạch của nhà Nguyễn
Triều Nguyễn đã chủ trương nhiều công trình thủy lợi quy mô lớn. Mục đích chính là phục vụ khai hoang, mở rộng diện tích đất canh tác. Các kênh đào cũng có vai trò quan trọng trong việc tăng cường giao thương, vận chuyển hàng hóa, và đảm bảo an ninh. Phương thức thực hiện chủ yếu là huy động sức dân, quân lính thông qua các chính sách đồn điền, khuyến khích định cư. Một số kênh đào tiêu biểu như kênh Vĩnh Tế, kênh Thoại Hà đã được hình thành trong giai đoạn này. Chúng tạo nên cơ sở hạ tầng thủy lợi ban đầu, góp phần thay đổi diện mạo Đồng bằng sông Cửu Long. Quản lý nước từng bước được hình thành, hỗ trợ cho nông nghiệp lúa nước. Công trình mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể.
2.2. Mục đích và phương thức thủy lợi triều Nguyễn
Mục đích cốt lõi của chính sách thủy lợi thời Triều Nguyễn là biến vùng đất hoang sơ thành vựa lúa. Nhà Nguyễn muốn đẩy mạnh nông nghiệp lúa nước, tăng cường nguồn thu cho triều đình. Các công trình hệ thống kênh đào còn phục vụ mục tiêu quốc phòng, kiểm soát biên giới. Phương thức thực hiện bao gồm việc quy hoạch, tổ chức nhân lực lớn. Triều đình cử quan lại có kinh nghiệm giám sát, điều hành. Việc đào kênh không chỉ tạo ra các tuyến đường thủy mới mà còn giúp thoát phèn, rửa mặn. Hoạt động này đặt nền móng cho sự phát triển lịch sử thủy lợi Tây Nam Bộ, định hình phương thức quản lý nước sơ khai. Sự đầu tư này thể hiện tầm nhìn chiến lược của triều đình.
III.Hệ thống kênh đào Thời Pháp thuộc Khai thác thuộc địa
Thời Pháp thuộc (1867-1945), hệ thống kênh đào tại Đồng bằng sông Cửu Long phát triển mạnh mẽ. Mục đích chính của thực dân Pháp là khai thác thuộc địa Pháp. Pháp đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng thủy lợi để phục vụ nông nghiệp lúa nước xuất khẩu. Các chính sách thủy lợi được ban hành nhằm tối đa hóa sản lượng gạo. Quá trình đào vét kênh rạch được tổ chức bài bản, áp dụng công nghệ mới. Điều này tạo nên một mạng lưới kênh đào chằng chịt, biến Tây Nam Bộ thành vựa lúa lớn. Sự thay đổi này đã định hình lại toàn bộ kinh tế và xã hội khu vực. Quy mô và phương pháp thực hiện khác biệt rõ rệt so với thời Nguyễn.
3.1. Mục đích và quy mô đào kênh của thực dân Pháp
Thực dân Pháp đầu tư vào thủy nông với mục đích rõ ràng là khai thác thuộc địa Pháp. Pháp muốn biến Đồng bằng sông Cửu Long thành một vựa lúa khổng lồ cung cấp gạo cho thị trường quốc tế. Các hệ thống kênh đào được xây dựng nhằm mở rộng diện tích canh tác, cải thiện tưới tiêu cho nông nghiệp lúa nước. Quy mô các công trình rất lớn, sử dụng máy móc hiện đại như xáng múc. Điều này giúp đẩy nhanh tiến độ và khối lượng đào đất. Cơ sở hạ tầng thủy lợi được hình thành nhanh chóng, nhưng mục tiêu chính vẫn là phục vụ lợi ích kinh tế của chính quốc. Quản lý nước dưới thời Pháp thuộc mang tính cưỡng bức, phục vụ việc xuất khẩu lúa gạo. Chính sách này gây ra nhiều hệ lụy xã hội.
3.2. Tổ chức và quản lý các công trình thủy nông
Thực dân Pháp đã thiết lập một hệ thống tổ chức chặt chẽ để quản lý nước và các công trình thủy nông. Việc đào vét kênh rạch thường thông qua đấu thầu công khai. Các công ty tư bản Pháp và các nhà thầu địa phương được giao thực hiện. Pháp cũng đưa vào nhiều quy định, chính sách liên quan đến chính sách thủy lợi, sử dụng đất đai. Hệ thống này đảm bảo khai thác thuộc địa Pháp một cách hiệu quả nhất. Mạng lưới hệ thống kênh đào phát triển mạnh, tạo điều kiện cho giao thông thủy nội địa. Tuy nhiên, người dân bản địa phải chịu nhiều gánh nặng lao dịch và thuế má. Cơ sở hạ tầng thủy lợi dù hiện đại nhưng không thực sự phục vụ trực tiếp cho dân sinh. Nó chủ yếu phục vụ lợi ích của tư bản Pháp.
IV.Tác động chính sách thủy lợi đến Nông nghiệp lúa nước
Chính sách thủy lợi qua các thời kỳ đã có những tác động sâu rộng đến nông nghiệp lúa nước và xã hội Đồng bằng sông Cửu Long. Dưới thời Triều Nguyễn, các công trình thủy nông góp phần mở rộng đất khai hoang. Giao thông thủy được cải thiện, thúc đẩy trao đổi hàng hóa. Thời Pháp thuộc, hệ thống kênh đào phát triển mạnh mẽ. Điều này dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng diện tích trồng lúa và sản lượng gạo xuất khẩu. Tuy nhiên, lợi ích không được phân phối đồng đều. Luận án phân tích chi tiết những thay đổi này, làm rõ các hệ quả kinh tế - xã hội. Những tác động này định hình bức tranh phát triển của vùng đất này.
4.1. Tác động kinh tế xã hội thời nhà Nguyễn
Các công trình thủy nông dưới thời Triều Nguyễn đã góp phần quan trọng vào việc khai hoang, mở rộng diện tích đất canh tác. Nông nghiệp lúa nước phát triển, sản lượng lương thực tăng. Hệ thống kênh đào như kênh Vĩnh Tế đã cải thiện đáng kể giao thông đường thủy. Điều này thúc đẩy hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa trong vùng. Đối với xã hội, việc định cư và phát triển nông nghiệp đã góp phần ổn định đời sống dân cư. Dân số tăng, các làng xã mới được thành lập. Các chính sách thủy lợi ban đầu giúp hình thành cộng đồng. Nền tảng cơ sở hạ tầng thủy lợi đã đặt ra cho sự phát triển sau này của Đồng bằng sông Cửu Long. Quản lý nước dần trở nên có tổ chức hơn. Sự phát triển này là tiền đề cho một vùng đất trù phú.
4.2. Biến đổi kinh tế xã hội Thời Pháp thuộc
Thời Pháp thuộc, hệ thống kênh đào đã đẩy mạnh quá trình khai hoang và tăng nhanh diện tích trồng lúa. Nông nghiệp lúa nước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phục vụ khai thác thuộc địa Pháp. Kênh đào góp phần cải thiện chất lượng nước, tăng năng suất cây lúa. Điều này tạo nên con đường lúa gạo quan trọng từ Tây Nam Bộ đến Sài Gòn – Chợ Lớn để xuất khẩu. Tuy nhiên, về mặt xã hội, sự phát triển này đi kèm với sự chiếm hữu ruộng đất của người Pháp và địa chủ thân Pháp. Điều này dẫn đến phân hóa giàu nghèo. Quá trình di cư và tăng dân số ở Nam Kỳ cũng diễn ra mạnh mẽ. Mặc dù cơ sở hạ tầng thủy lợi phát triển, nhưng đời sống của người dân bản địa vẫn còn nhiều khó khăn. Chính sách thủy lợi không phục vụ trực tiếp cho người dân, mà chủ yếu vì lợi ích thực dân.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (231 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRẦN HỮU THẮNG THUỶ NÔNG VÙNG TÂY NAM BỘ TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 1945 LUẬN ÁN TIẾN SỸ LỊCH SỬ NGHỆ AN, 5 – 2018 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRẦN HỮU THẮNG THUỶ NÔNG VÙNG TÂY NAM BỘ TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 1945 LUẬN ÁN TIẾN SỸ CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM MÃ SỐ: 9229013 Người hướng dẫn khoa học: PGS. NGUYỄN TRỌNG VĂN NGHỆ AN, 5 – 2018 Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu sử dụng trong luận án do chính tôi khai thác từ nhiều nguồn. Đề tài nghiên cứu và các kết luận của luận án chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ TRẦN HỮU THẮNG DANH MỤC TỪ TIẾNG VIỆT VIẾT TẮT Từ viết tắt Cụm từ tiếng Việt ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long KHXH Khoa học xã hội NCLS Nghiên cứu lịch sử TTLT QG II Trung tâm lưu trữ quốc gia II UBND Uỷ ban nhân dân TK Thế kỷ TNB Tây Nam Bộ DANH MỤC CÁC BẢNG SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN Trang Bảng 2. Nhiệt độ trung bình một thành phố ở Đông Dương. Khối lượng đào đất của Xáng múc tính trung bình trong một năm. Kết quả khai hoang lập làng ở Nam Kỳ tính đến năm 1836.
Khối lượng đất đào kênh và diện tích lúa trong những năm 1880 – 1930. Năng suất lúa ở các Xứ của Liên bang Đông Dương (tạ/ha) .6: Vận chuyển nông sản trên hệ thống kênh đào ở Tây Nam Bộ .8: Diễn biến sản xuất lúa ở Đông Dương (tấn). 135 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, LƯỢC ĐỒ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN Trang Lược đồ 3. Chiều dài kênh đào ở Nam Kỳ những năm 1880 – 1930.
Sự chiếm hữu ruộng đất của người Pháp và địa chủ thân Pháp. Tăng dân số ở Nam Kỳ trong những năm 1880 - 1937. Năng suất lúa ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới đầu thế kỉ XX. Lượng gạo xuất khẩu (tấn) ở Nam Kỳ từ cảng Sài Gòn giai đoạn 1860 – 1919.
136 MỤC LỤC MỞ ĐẦU. Ý nghĩa thực tiễn và khoa học. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu.
Nhiệm vụ nghiên cứu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu.
Về không gian địa lý. Về thời gian. Nội dung nghiên cứu. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.
Nguồn tài liệu. Phương pháp nghiên cứu. Đóng góp của Luận án. Bố cục của luận án.
11 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU. Các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước. Những công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài. Nhận xét về tình hình nghiên cứu vấn đề.
Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu. 34 THỦY NÔNG VÙNG TÂY NAM BỘ THỜI NHÀ NGUYỄN (1802 - 1867). Khái quát điều kiện tự nhiên. Khái quát tình hình khai hoang và thủy lợi vùng Tây Nam Bộ trước thế kỷ XIX.
Công cuộc đào, vét kênh rạch. Mục đích của nhà Nguyễn trong việc đào, vét kênh rạch. Phương thức đào, vét kênh rạch. Một số kênh đào tiêu biểu.
50 Tiểu kết chương 2. 62 THỦY NÔNG VÙNG TÂY NAM BỘ THỜI THUỘC PHÁP (1867 – 1945). Thực dân Pháp đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật phục vụ cho công cuộc khai thác Nam Kỳ. Mục đích của thực dân Pháp trong việc đào, vét kênh rạch.
Công cuộc đào, vét kênh rạch. Tổ chức đấu thầu. Phương thức đào, vét kênh rạch. Hệ thống kênh đào tiêu biểu.
Tổ chức quản lý các công trình thủy nông. Một số nhận xét về công cuộc đào, vét kênh rạch của thực dân Pháp. 100 Tiểu kết chương 3. 104 TÁC ĐỘNG CỦA THỦY NÔNG ĐỐI VỚI KINH TẾ VÀ XÃ HỘI.
104 VÙNG TÂY NAM BỘ (1867 - 1945). Tác động của thủy nông đối với kinh tế, xã hội thời nhà Nguyễn (1802 - 1867). Đối với kinh tế. Góp phần khai hoang, mở rộng diện tích đất canh tác.
Cải thiện giao thông đường thuỷ. Thúc đẩy hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá. Đối với xã hội. Tác động của kênh đào đối với kinh tế, xã hội vùng Tây Nam Bộ thời thuộc Pháp (1867 - 1945).
Đối với kinh tế. Đẩy mạnh khai hoang và tăng nhanh diện tích trồng lúa. Góp phần cải thiện chất lượng nước, tăng năng suất cây lúa. Kênh đào góp phần tạo nên con đường lúa gạo Tây Nam Bộ - Sài Gòn – Chợ Lớn.
Đối với xã hội. Vài nét chính về sở hữu ruộng đất. Thúc đẩy quá trình di cư tăng nhanh dân số ở Nam Kỳ. 143 Tiểu kết chương 4.
149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ. 156 ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN. 156 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Ý nghĩa thực tiễn và khoa học 1.
Trong khoảng một phần tư thế kỷ trở lại đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế, chính trị và xã hội thời Nguyễn từ nhiều ngành khoa học khác nhau, nhất là khoa học lịch sử. Tuy nhiên, số công trình khoa học nghiên cứu về thủy lợi, thủy nông mà cụ thể nghiên cứu về việc tổ chức, thực hiện đào vét kênh rạch, đắp đê để ngăn chặn lũ lụt, chống triều dâng,. giải quyết việc tưới tiêu cho đồng ruộng, nhằm đẩy mạnh chính sách trọng nông của các chúa Nguyễn nhất là dưới triều Nguyễn từ đầu thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX chưa nhiều, và cũng mới dừng lại ở ghi chép. Trong bối cảnh chung đó, việc nghiên cứu riêng về thuỷ nông ở vùng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ1 cũng chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các nhà sử học trong và ngoài nước.
Như vậy, đây thực sự còn là một khoảng trống khi nghiên cứu về tình hình kinh tế nông nghiệp nói chung và thuỷ nông nói riêng dưới thời nhà Nguyễn. Do đó, việc chọn đề tài “Thuỷ nông vùng Tây Nam Bộ từ năm 1802 đến năm 1945”, là nhằm góp phần vào việc nghiên cứu về nhà Nguyễn nói chung và chính sách thuỷ nông của nhà Nguyễn nói riêng ít nhất từ năm 1802 cho đến khi người Pháp đánh chiếm toàn bộ vùng đất Nam Kỳ lục tỉnh (1867). Đầu năm 1862, quân Pháp đã đánh chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, triều Nguyễn buộc phải ký với thực dân Pháp hiệp ước Nhâm Tuất (1862). Cũng từ thời gian này, người Pháp với chủ trương “vừa đánh vừa khai thác”, vì thế, bên cạnh gấp rút xây dựng một bộ máy thống trị kiểu thực dân, để duy trì 1.
Trong mục Phạm vi nghiên cứu, cụ thể là Về không gian địa lý, chúng tôi đã lý giải về sử dụng danh xưng là "Tây Nam Bô”. Từ nghiên cứu này, chúng tôi cho rằng: trãi qua nhiều giai đoạn lịch sử vùng Nam Bộ có nhiều tên gọi khác nhau, mà đáng lưu ý là sau năm 1945 cho đến nay danh xưng Nam Bộ thường được dùng rộng rãi, và nó đã phán ánh tương đối đầy đủ những nét văn hóa, lịch sử, đặc biệt là xu thế phát triển của lịch sử dân tộc, đồng thời còn thể hiện tình cảm của con người đối với vùng đất này,. Vì thế, trong luận án chúng tôi nhiều lần dùng xưng danh Nam Bộ thay cho danh xưng Nam Kỳ cũng là lý do đó. 1 quyền thống trị thì họ còn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm thực hiện mục đích khai thác thật nhanh, thật hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, bóc lột nguồn nhân công dồi dào ở vùng đất Nam Kỳ.
Trong đó, phải kể đến nguồn lợi từ việc chuyển nhượng đất trồng lúa; mua bán, xuất khẩu lúa gạo đã thu về cho các tập đoàn tư bản Pháp siêu lợi nhuận. Trong điều kiện mới đó, chính quyền thuộc địa ở Nam Kỳ mà trực tiếp là Thống đốc Nam Kỳ và Tham biện ở các tỉnh cần phải đầu tư ngân sách cho việc cải tạo các công trình thuỷ nông có từ thời Nguyễn cũng như xây dựng các công trình thuỷ nông mới. Từ việc đầu tư ngân sách, tổ chức cải tạo hệ thống thuỷ nông cũ, quy hoạch khảo sát và xây dựng hệ thống thuỷ nông mới giai đoạn 1867 - 1945, đã có tác động đến nhiều mặt trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ở Nam Bộ nói chung và vùng Tây Nam Bộ nói riêng. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào từ góc độ Sử học nghiên cứu một cách có hệ thống, tương đối toàn diện từ chủ trương, chính sách, cách thức tổ chức đấu thầu, xây dựng hay cải tạo các công trình thuỷ nông, cho đến việc nêu lên sự tác động của thủy nông đối với kinh tế và xã hội trong khoảng thời gian trên.
Trong khi đó, phương thức, phương tiện thi công, cách thức quản lý, khai thác,.thuỷ nông của người Pháp suốt thời kỳ thống trị ở vùng Tây Nam Bộ vẫn còn đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu từ góc độ Sử học và một số ngành khoa học khác. Do đó, việc chọn đề tài “Thuỷ nông vùng Tây Nam Bộ từ năm 1802 đến năm 1945”, chúng tôi hy vọng sẽ tái hiện lại một cách sinh động về bức tranh thuỷ nông ở vùng này dưới thời thuộc Pháp. Một vấn đề đáng quan tâm khác là: cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu sử học nào nghiên cứu một cách tương đối toàn diện về tác động của thuỷ nông ở Tây Nam Bộ từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế (1802) cho đến năm 1945. Trước công cuộc đổi mới của đất nước, không ít công trình nghiên cứu Sử học ở trong nước thường chú trọng đến việc phê phán nhà Nguyễn duy trì chính 2 sách trọng nông hay “bế quan toả cảng”.
Nhưng trên thực tế, suốt từ năm 1802 đến trước khi Pháp đánh chiếm Nam Kỳ lục tỉnh thì chính sách trọng nông mà Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức thực thi ở vùng đất này đã mang lại nhiều lợi ích to lớn cả về kinh tế, chính trị, xã hội, đặc biệt là an ninh - quốc phòng. Để có được những thành quả đó, các công trình thuỷ nông nhà Nguyễn xây dựng suốt gần bảy thập kỷ đã góp phần không nhỏ giúp triều đại này giữ vững độc lập và chủ quyền vùng đất Nam Bộ. Mặt khác, tuy đã có một số công trình nghiên cứu về chính sách thống trị của người Pháp ở vùng Tây Nam Bộ, trong đó có đề cập ít nhiều đến chính sách thuỷ nông của họ.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Thủy nông Tây Nam Bộ 1802-1945: Luận án Tiến sĩ Lịch sử" nghiên cứu về vấn đề gì?
Thủy nông Tây Nam Bộ 1802-1945: Luận án nghiên cứu hệ thống thủy nông và tác động kinh tế-xã hội thời kỳ này.
Luận án "Thủy nông Tây Nam Bộ 1802-1945: Luận án Tiến sĩ Lịch sử" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Đại học Vinh. Năm bảo vệ: 2018.
Luận án "Thủy nông Tây Nam Bộ 1802-1945: Luận án Tiến sĩ Lịch sử" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Thủy nông Tây Nam Bộ 1802-1945: Luận án Tiến sĩ Lịch sử" thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam. Danh mục: Nông Học.
Luận án "Thủy nông Tây Nam Bộ 1802-1945: Luận án Tiến sĩ Lịch sử" có bao nhiêu trang?
Luận án "Thủy nông Tây Nam Bộ 1802-1945: Luận án Tiến sĩ Lịch sử" có 231 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Thủy nông Tây Nam Bộ 1802-1945: Luận án Tiến sĩ Lịch sử" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.