Luận án tiến sĩ nông nghiệp: Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững tại vùng Trung du tỉnh Nghệ An - Phạm Thị Thu Hà

Luận án TS nông nghiệp: Biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững vùng trung du Nghệ An. Nâng cao năng suất, bảo vệ môi trường.

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ

Số trang

236

Thời gian đọc

36 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt của tác giả

Trích nguyên văn từ luận án

của đề tài Sắn (Manihot esculenta Crantz) không chỉ là cây trồng quan trọng ở riêng Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Năm 2019, có khoảng 105 nước trồng sắn trên toàn thế giới với tổng diện tích đạt 27,5 triệu ha, năng suất bình quân 11,08 tấn/ha và sản lượng đạt 303,6 triệu tấn [121]. Sắn ở Việt Nam là cây lương thực quan trọng có sản lượng đứng thứ ba sau lúa, ngô và được coi là cây trồng có giá trị tiềm năng của thế kỷ 21. Sắn không những mang lại lợi ích kinh tế cao cho đất nước mà còn là cây xóa đói giảm nghèo của nhiều đồng bào dân tộc và đồng thời cũng là cây làm giàu nhanh chóng cho nhiều hộ gia đình do sắn đạt lợi nhuận cao, dễ trồng, chi phí thấp. Chiến lược phát triển sắn Việt Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam tầm nhìn đến năm 2020 trong “Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam 2011- 2020” [7] như sau: Giảm dần diện tích trồng sắn xuống còn 500 ngàn ha vào năm 2015 và ổn định diện tích 450 ngàn ha vào năm 2020; thâm canh sắn để đạt sản lượng khoảng 11 triệu tấn làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và nhiên liệu sinh học; sử dụng đất có độ dốc dưới 15o, tầng dày trên 35 cm chủ yếu ở Trung du miền núi phía Bắc, Duyên hải Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ để sản xuất. Theo tổng cục thống kê, năm 2019 diện tích trồng sắn cả nước khoảng 519,3 nghìn ha, sản lượng ước đạt 10,1 triệu tấn, tăng 10,2% so với

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Thực trạng canh tác sắn bền vững tại vùng Nghệ An
Số trang:
236 trang
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Thực trạng canh tác sắn bền vững tại vùng Nghệ An

Cây sắn giữ vị trí chiến lược trong nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam. Cây sắn đứng thứ ba về sản lượng lương thực, chỉ sau lúa và ngô. Cây sắn mang lại nguồn thu nhập ổn định cho nhiều hộ nông dân. Chiến lược phát triển nông nghiệp quốc gia đặt mục tiêu ổn định diện tích canh tác sắn ở mức hợp lý. Quy hoạch tập trung vào việc thâm canh tăng năng suất thay vì mở rộng diện tích. Nghệ An là địa phương có thế mạnh lớn về tài nguyên đất để phát triển sản xuất sắn. Tỉnh đã hình thành nhiều vùng chuyên canh nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến tinh bột. Tuy nhiên, việc áp dụng quy trình canh tác sắn bền vững vẫn đối mặt nhiều trở ngại thực tế. Năng suất bình quân của tỉnh hiện đạt khoảng 22,04 tấn/ha. Con số này cao hơn bình quân cả nước nhưng còn xa so với tiềm năng sinh học tối ưu.

1.1. Tiềm năng và vai trò của cây sắn trong nền nông nghiệp

Sắn là cây trồng thích ứng rộng và có giá trị kinh tế nổi bật trong thế kỷ 21. Cây cung cấp nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến thức ăn gia súc và nhiên liệu sinh học. Chi phí đầu tư trồng sắn tương đối thấp. Cây sắn giúp nhiều vùng đồng bào dân tộc thoát nghèo nhanh chóng. Định hướng phát triển đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp yêu cầu duy trì khoảng 450 nghìn ha sắn thâm canh. Năng suất toàn ngành cần đạt sản lượng 11 triệu tấn củ tươi. Vùng sắn Nghệ An đóng vai trò cốt lõi trong chuỗi cung ứng nông sản khu vực miền Trung. Tỉnh đã quy hoạch khoảng 7.000 ha làm vùng nguyên liệu tập trung. Các địa bàn trọng điểm gồm Thanh Chương, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và Đô Lương. Tiềm năng phát triển sắn tại địa phương còn rất lớn nếu áp dụng đồng bộ tiến bộ kỹ thuật.

1.2. Hiện trạng sản xuất và áp lực thiếu hụt vùng nguyên liệu

Toàn tỉnh Nghệ An có 4 nhà máy chế biến tinh bột sắn công nghiệp cùng nhiều cơ sở chế biến nhỏ lẻ. Vùng Trung du chiếm gần 40% tổng diện tích sắn toàn tỉnh với quy mô 5,8 nghìn ha. Riêng Nhà máy tinh bột sắn Intimex Thanh Chương có công suất thiết kế 200 tấn củ tươi mỗi ngày. Nhu cầu nguyên liệu của các nhà máy sản xuất tinh bột luôn ở mức rất cao. Tình trạng thiếu hụt củ sắn nguyên liệu diễn ra thường xuyên vào vụ chế biến chính. Nguyên nhân trực tiếp xuất phát từ năng suất củ tươi chưa đạt kỳ vọng và thiếu ổn định qua các năm. Việc mở rộng diện tích sản xuất gặp nhiều rào cản do giới hạn quỹ đất quy hoạch. Do đó, việc nâng cao năng suất trên một đơn vị diện tích thông qua canh tác sắn bền vững là giải pháp cấp bách hàng đầu.

II. Thách thức đất dốc Bắc Trung Bộ khi trồng sắn Nghệ An

Sản xuất sắn tại các tỉnh miền Trung chịu tác động tiêu cực từ nhiều yếu tố bất lợi. Địa hình đất dốc Bắc Trung Bộ dễ bị xói mòn và rửa trôi tầng đất mặt sau các trận mưa lớn. Thời tiết cực đoan như bão lũ, hạn hán và gió Tây Nam khô nóng làm giảm sức sống của cây trồng. Đồng thời, tập quán canh tác lạc hậu càng khiến tài nguyên đất nhanh chóng cạn kiệt nguồn dưỡng chất. Nhiều dịch bệnh nguy hiểm mới xuất hiện và lây lan nhanh chóng trên diện rộng. Điển hình là bệnh chổi rồng, rệp sáp hồng và nhện đỏ gây hại nặng nề cho các đồi sắn. Tình trạng này khiến sắn Nghệ An suy giảm năng suất và giảm mạnh hàm lượng tinh bột tích lũy.

2.1. Tác động của địa hình đồi dốc và khí hậu khắc nghiệt

Phần lớn diện tích sắn vùng Trung du Nghệ An phân bố trên các sườn đồi và gò dốc. Độ dốc lớn kết hợp lượng mưa tập trung tạo ra dòng chảy mặt có sức tàn phá mạnh. Đất dốc Bắc Trung Bộ thường xuyên bị rửa trôi lớp đất mặt màu mỡ. Khi thiếu các rào chắn sinh học, lớp đất canh tác dần bị trơ sỏi đá và nén chặt. Khí hậu mùa hè chịu ảnh hưởng gay gắt của gió phơn tây nam làm tăng thoát hơi nước. Cây sắn bị héo rũ, chậm phát triển và giảm khả năng tạo củ. Việc thiếu hụt kỹ thuật trồng sắn trên đất dốc phù hợp khiến hệ sinh thái đồi gò ngày càng tổn thương nghiêm trọng.

2.2. Nguy cơ suy thoái độ phì nhiêu đất do độc canh kéo dài

Nông dân địa phương có thói quen độc canh cây sắn liên tục qua nhiều vụ mùa. Mức đầu tư phân bón cho cây sắn thường rất thấp hoặc bị bỏ qua hoàn toàn. Cây sắn lấy đi lượng lớn khoáng chất đa lượng trong đất sau mỗi đợt thu hoạch củ. Đất trồng mất dần chất mùn tự nhiên và các vi chất dinh dưỡng thiết yếu. Đất bị chua hóa, chai cứng và suy giảm nghiêm trọng hoạt động của vi sinh vật có ích. Độ phì nhiêu đất trồng sắn tụt giảm nhanh chóng theo thời gian canh tác. Khả năng giữ nước và giữ chất dinh dưỡng của đất đồi trở nên rất yếu ớt. Sự suy thoái này trực tiếp kéo theo tình trạng giảm sút năng suất sắn một cách rõ rệt.

III. Giải pháp tuyển chọn giống sắn cao sản thích nghi tốt

Giống cây trồng là yếu tố then chốt quyết định trực tiếp đến năng suất và chất lượng củ sắn. Thực tế sản xuất cho thấy bộ giống hiện hành tại địa phương bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Cần khẩn trương tuyển chọn và bổ sung những dòng giống mới có khả năng thích nghi cao. Các giống mới phải đáp ứng tốt điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của địa phương. Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn cao sản giúp nông dân chủ động nguồn cây giống sạch bệnh. Năng suất củ tươi và tỷ lệ tích lũy tinh bột nhờ đó được cải thiện đáng kể. Việc thay thế giống cũ bằng giống mới là bước đi nền tảng nhằm xây dựng chuỗi sản xuất nguyên liệu ổn định.

3.1. Đánh giá sự thoái hóa của các dòng giống sắn truyền thống

Cơ cấu giống sắn tại vùng Trung du Nghệ An nhiều năm qua phụ thuộc vào các giống KM94, NA1, TC1 và STB1. Người trồng sắn thường tự giữ lại thân cây để nhân giống vô tính qua nhiều vụ liên tiếp. Phương pháp nhân giống này dẫn đến hiện tượng thoái hóa giống nghiêm trọng. Cây giống bị suy giảm sức sống và tích tụ nhiều nguồn mầm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Các giống cũ trở nên mẫn cảm với bệnh chổi rồng và dễ bị rệp sáp hồng tấn công phá hoại. Năng suất củ thu hoạch giảm dần qua từng năm, chỉ đạt khoảng 20 tấn/ha. Hàm lượng tinh bột trong củ sắn cũng suy giảm rõ rệt, gây khó khăn cho việc chế biến công nghiệp.

3.2. Tiêu chí tuyển chọn bộ giống sắn cao sản đạt chuẩn mới

Đề tài nghiên cứu đặt ra các tiêu chuẩn nghiêm ngặt để tuyển chọn giống mới phù hợp với vùng Trung du Nghệ An. Tiêu chí hàng đầu là giống sắn cao sản phải có tiềm năng năng suất củ tươi đạt trên 30 đến 40 tấn/ha. Giống cần có hàm lượng tinh bột cao vượt trội nhằm tăng hiệu quả kinh tế cho nhà máy chế biến. Khả năng chống chịu sâu bệnh hại chính, đặc biệt là bệnh chổi rồng và rệp sáp, là điều kiện bắt buộc. Cây giống phải có khả năng sinh trưởng khỏe mạnh trên nền đất đồi dốc nghèo dinh dưỡng. Bộ giống mới được kỳ vọng thay thế hoàn toàn các giống thoái hóa và nâng cao thu nhập cho người nông dân.

IV. Kỹ thuật trồng sắn trên đất dốc và bón phân cân đối

Thâm canh sắn bền vững đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa biện pháp kỹ thuật và chế độ dinh dưỡng. Áp dụng chuẩn xác kỹ thuật trồng sắn trên đất dốc giúp bảo vệ tầng đất mặt và giữ ẩm hiệu quả. Đồng thời, chế độ phân bón phải được cung cấp đầy đủ và đúng giai đoạn sinh trưởng của cây. Nghiên cứu khoa học đưa ra phương pháp bón phân dựa trên chẩn đoán dinh dưỡng qua phân tích lá sắn. Cách tiếp cận này giúp xác định chính xác nhu cầu dưỡng chất thực tế của cây trồng. Việc cung cấp dinh dưỡng hợp lý giúp rễ phát triển sâu, thân cây cứng cáp và củ phình to nhanh.

4.1. Kỹ thuật bón phân cân đối NPK dựa trên phân tích lá

Cây sắn có nhu cầu hấp thụ khoáng chất rất cao, đặc biệt là kali để chuyển hóa và tích lũy tinh bột. Đề tài áp dụng phương pháp phân tích mô lá nhằm chẩn đoán tình trạng dinh dưỡng của cây sắn theo từng thời kỳ. Biện pháp bón phân cân đối NPK cho sắn giúp cung cấp đúng tỷ lệ đạm, lân và kali mà cây thực sự cần. Nông dân hạn chế được việc bón thừa đạm gây lốp đổ thân lá hoặc thiếu kali làm giảm năng suất củ. Quy trình bón lót và bón thúc được chia làm các đợt khoa học, đúng lúc cây hấp thụ tốt nhất. Nhờ đó, hiệu quả sử dụng phân bón nâng cao rõ rệt, giảm chi phí sản xuất và nâng cao hàm lượng tinh bột củ.

4.2. Ứng dụng phân hữu cơ vi sinh cho cây sắn cải tạo đất

Đất đồi dốc trồng sắn thường xuyên bị chua hóa và thiếu hụt nghiêm trọng hàm lượng mùn hữu cơ. Việc bổ sung phân hữu cơ vi sinh cho cây sắn đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi đất. Phân hữu cơ cung cấp chất mùn, kích thích hệ vi sinh vật có lợi trong đất hoạt động mạnh mẽ. Kết cấu đất trở nên tơi xốp, tăng khả năng giữ nước và hạn chế rửa trôi phân hóa học. Các chủng vi sinh vật đối kháng còn hỗ trợ ức chế nấm bệnh và tuyến trùng gây hại rễ sắn. Giải pháp này giúp duy trì độ phì nhiêu đất trồng sắn lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ củ sinh trưởng bền vững.

V. Biện pháp chống xói mòn đất trồng sắn và tăng độ phì

Bảo vệ tài nguyên đất là điều kiện tiên quyết để duy trì vùng sản xuất sắn lâu dài và hiệu quả. Xây dựng đồng bộ biện pháp chống xói mòn đất trồng sắn giúp hạn chế tối đa lượng đất mặt bị cuốn trôi. Sự kết hợp giữa canh tác cơ học và che phủ sinh học tạo nên lá chắn bảo vệ vững chắc cho các triền dốc. Quy trình kỹ thuật mới được điều chỉnh phù hợp với đặc thù thổ nhưỡng và tập quán địa phương. Hệ sinh thái nông nghiệp đồi gò nhờ đó từng bước hồi phục sự cân bằng sinh học tự nhiên. Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng an toàn môi trường và đem lại giá trị kinh tế cao cho nông dân.

5.1. Mô hình xen canh sắn với cây họ đậu chống rửa trôi

Trồng thuần sắn trong những tháng đầu thường để lộ bề mặt đất trống, tạo điều kiện cho mưa xói mòn đất đồi. Áp dụng mô hình xen canh sắn với cây họ đậu như lạc, đậu xanh hay đậu đen mang lại hiệu quả kép vượt trội. Thảm thực vật cây họ đậu phủ kín mặt đất nhanh chóng, làm giảm lực va đập của hạt mưa và cản dòng chảy mặt. Thân lá cây họ đậu sau khi thu hoạch được vùi trả lại vào đất, bổ sung nguồn hữu cơ dồi dào. Vi khuẩn nốt sần của rễ cây họ đậu giúp cố định đạm khí trời tự nhiên, cải thiện độ phì nhiêu của đất. Mô hình này vừa bảo vệ đất hiệu quả, vừa tạo thêm nguồn thu nhập phụ đáng kể cho hộ canh tác.

5.2. Hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác sắn bền vững

Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp cơ sở khoa học hoàn chỉnh cho quy trình sản xuất sắn tại địa phương. Việc tích hợp các giải pháp từ giống kháng bệnh, phân bón chẩn đoán lá đến bảo vệ đất tạo nên hệ thống canh tác sắn bền vững toàn diện. Quy trình này khắc phục triệt để nhược điểm của các hướng dẫn canh tác chung chung trước đây. Vùng sắn Nghệ An có điều kiện nâng cao năng suất trung bình lên trên 30 tấn/ha mà không gây tổn hại môi trường sinh thái. Sản lượng củ nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến tinh bột nhờ đó luôn được duy trì ổn định. Đây là nền tảng vững chắc để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp vùng Trung du phát triển bền vững.

Mục lục chi tiết luận án

MỞ ĐẦU
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới
1.1.2. Tình hình sản xuất sắn ở Việt Nam
1.1.3. Tình hình sản xuất sắn ở Nghệ An
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững tại vùng trung du tỉnh nghệ an

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (236 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Tính cấp thiết của đề tài Sắn (Manihot esculenta Crantz) không chỉ là cây trồng quan trọng ở riêng Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Năm 2019, có khoảng 105 nước trồng sắn trên toàn thế giới với tổng diện tích đạt 27,5 triệu ha, năng suất bình quân 11,08 tấn/ha và sản lượng đạt 303,6 triệu tấn [121]. Sắn ở Việt Nam là cây lương thực quan trọng có sản lượng đứng thứ ba sau lúa, ngô và được coi là cây trồng có giá trị tiềm năng của thế kỷ 21. Sắn không những mang lại lợi ích kinh tế cao cho đất nước mà còn là cây xóa đói giảm nghèo của nhiều đồng bào dân tộc và đồng thời cũng là cây làm giàu nhanh chóng cho nhiều hộ gia đình do sắn đạt lợi nhuận cao, dễ trồng, chi phí thấp.

Chiến lược phát triển sắn Việt Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam tầm nhìn đến năm 2020 trong “Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam 2011- 2020” [7] như sau: Giảm dần diện tích trồng sắn xuống còn 500 ngàn ha vào năm 2015 và ổn định diện tích 450 ngàn ha vào năm 2020; thâm canh sắn để đạt sản lượng khoảng 11 triệu tấn làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và nhiên liệu sinh học; sử dụng đất có độ dốc dưới 15o, tầng dày trên 35 cm chủ yếu ở Trung du miền núi phía Bắc, Duyên hải Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ để sản xuất. Theo tổng cục thống kê, năm 2019 diện tích trồng sắn cả nước khoảng 519,3 nghìn ha, sản lượng ước đạt 10,1 triệu tấn, tăng 10,2% so với năm 2018 [51]. Nghệ An có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển sản xuất sắn. Cùng với sự phát triển của cả nước, Nghệ An cũng đã quy hoạch khoảng 7.000 ha sản xuất sắn làm vùng nguyên liệu ở các huyện Nghĩa Đàn, Thanh Chương, Tân Kỳ, Đô Lương.

Toàn tỉnh có 4 nhà máy sắn và nhiều cơ sở chế biến sắn nhỏ lẻ tập trung ở các huyện Thanh Chương, Yên Thành, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Anh Sơn. Một số huyện thuộc vùng Trung du tỉnh Nghệ An được quy hoạch là vùng nguyên liệu cho Nhà máy tinh bột sắn Intimex Thanh Chương. Với công suất nhà máy 200 tấn củ/ngày thì việc thiếu nguyên liệu thường xuyên xảy ra. Vùng Trung du tỉnh Nghệ An có diện tích trồng lớn nhất trong toàn tỉnh; với diện tích năm 2019 đạt 5,8 nghìn ha 2 chiếm gần 40% diện tích sắn toàn tỉnh (14,8 nghìn ha).

Năng suất sắn tại đây trung bình đạt 22,04 tấn/ha, tuy cao hơn năng suất bình quân cả nước nhưng vẫn còn khá thấp so với tiềm năng của cây sắn khi canh tác trong điều kiện tối ưu có thể lên đến 60 - 70 tấn/ha. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến năng suất sắn chưa cao là chưa lựa chọn được bộ giống sắn thích hợp với điều kiện sinh thái của Nghệ An nói chung và vùng Trung du của tỉnh nói riêng; các biện pháp kỹ thuật theo hướng bền vững được áp dụng còn nhiều hạn chế. Cơ cấu giống sắn trên địa bàn các huyện vùng Trung du tỉnh Nghệ An chủ yếu là giống KM94, NA1, TC1 và STB1; các giống đều năng suất thấp, thoái hóa, nhiễm bệnh do canh để nhân giống vô tính liên tục nhiều năm. Các hộ thường độc canh cây sắn nhiều năm với mức đầu tư phân bón thấp hoặc không bón phân đã khiến hàm lượng dinh dưỡng trong đất giảm đi rất nhiều nhất là chất mùn và các chất nguyên tố đa lượng.

Diện tích trồng sắn của vùng trung du tập trung chủ yếu trên đất gò đồi, đất dốc, hiện tượng xói mòn, rửa trôi diễn ra thường xuyên làm đất suy thoái nhanh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất. Ngoài ra, trong những năm gần đây, sản xuất sắn vùng Trung du tỉnh Nghệ An gặp nhiều khó khăn do các hiện tượng thời tiết cực đoan bất thường xảy ra nhiều hơn như hạn hán, bão lũ, gió Lào, đồng thời xuất hiện một số loại sâu bệnh hại nguy hiểm thành dịch như bệnh chổi rồng (Phytoplasma sp), rệp sáp hồng (Phenacoccus manihoti), nhện đỏ (Tetranychus sp). Trong sản xuất, đã có một quy trình kỹ thuật canh tác khuyến cáo cho tất cả các tỉnh phía Bắc nhưng chưa được đặt trong các điều kiện đất đai, vùng sinh thái, điều kiện canh tác và các yếu tố khác của riêng vùng Trung du tỉnh Nghệ An nên chưa phát huy được tối đa lợi thế của vùng trong sản xuất sắn; chính vì thế cần có những nghiên cứu về giống và biện pháp kỹ thuật canh tác theo hướng bền vững cụ thể tại đây. Xuất phát từ những yêu cầu thực tế, nhằm nâng cao năng suất sắn, ổn định vùng nguyên liệu cho các nhà máy sắn mà không phá vỡ quy hoạch của tỉnh Nghệ An, đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững tại vùng Trung du tỉnh Nghệ An” được tiến hành.

Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được đặc điểm của các vùng trồng sắn chính của tỉnh Nghệ An; - Tuyển chọn giống sắn năng suất cao, hàm lượng tinh bột cao, thích hợp cho vùng Trung du tỉnh Nghệ An; - Xác định được một số biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững tại vùng Trung du tỉnh Nghệ An. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án góp phần bổ sung những dữ liệu khoa học mới về tuyển chọn giống thích hợp và một số biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững, đặc biệt là kỹ thuật bón phân dựa trên chẩn đoán dinh dưỡng qua phân tích lá cây sắn. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Các kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp thiết thực cho công tác phát triển giống sắn mới có năng suất cao tại vùng trồng sắn trọng điểm của tỉnh Nghệ An và phát triển ra các vùng lân cận, góp phần tăng thu thập cho người sản xuất và đáp ứng nhu cầu đa dạng các giống sắn phục vụ chế biến.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài Tuyển chọn và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững cho giống sắn được lựa chọn cho vùng Trung du của tỉnh Nghệ An. + Về giống: Chọn giống sắn có đặc tính mong muốn như năng suất cao, hàm lượng tinh bột cao, năng suất tinh bột cao, thời gian sinh trưởng ngắn. + Về các biện pháp kỹ thuật: Thời vụ trồng và cây trồng xen; mật độ và phân bón thích hợp bằng phương pháp chẩn đoán dinh dưỡng. Những đóng góp mới của luận án 4.

Đã xác định được những điều kiện thuận lợi, khó khăn cho phát triển cây sắn ở tỉnh Nghệ An. Xác định được 01 giống sắn tốt 13Sa05 thích hợp với điều kiện tự nhiên của vùng trung du tỉnh Nghệ An đạt năng suất cao (48,24 - 52,14 tấn/ha), hàm lượng tinh bột cao (28,78 - 28,98%). Giống 13Sa05 được tự công bố lưu hành theo thông báo số: 745/TB-TT-CLT của Cục Trồng trọt ngày 22/6/2020. Xác định được một số biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững cho giống sắn 13Sa05 ở vùng trung du tỉnh Nghệ An: - Thời vụ trồng: Đầu tháng 2; Cây trồng xen thích hợp nhất: Lạc; - Chẩn đoán được tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng trong lá của giống sắn 13Sa05 tại xã Thanh Ngọc, Thanh Chương, Nghệ An: N ở mức rất thiếu (3,36 ± 0,49 %), P ở mức hơi thiếu (0,31 ± 0,06 %), K ở mức thiếu (1,13 ± 0,23 %) và %) và có tương quan từ chặt đến rất chặt với năng suất củ tươi; hệ số tương quan tương ứng là N (r = 0,72), ), P (r = 0,63), K (r = 0,87) và xây dựng được các công thức phân bón thử nghiệm qua chẩn đoán dinh dưỡng.

- Tổ hợp phân bón thích hợp cho giống sắn 13Sa05 là: 90 kg N + 50 kg P2O5 + 100 kg K2O + 1,5 tấn phân hữu cơ vi sinh + 500 kg vôi bột, Lượng bón tối đa về kỹ thuật là 91,75 N + 51,81 P2O5 + 103,84 K2O (kg/ha) + 1,5 tấn phân hữu cơ vi sinh + 500 kg vôi bột (kg/ha); Lượng bón tối thích về kinh tế: 88,6 N + 51,6 P2O5 + 101,3 K2O + 1,5 tấn phân hữu cơ vi sinh + 500 kg vôi bột (kg/ha); - Mật độ 10. 5 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới Sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây trồng giàu tinh bột được trồng và tiêu thụ rộng rãi ở các vùng nhiệt đới của châu Phi (50%), châu Á (30%) và châu Mỹ Latinh (20%).

Sắn là cây cung cấp lương thực, thực phẩm và thu nhập đáng kể cho người nông dân nghèo. Trên toàn thế giới có ít nhất 800 triệu người sử dụng sắn hằng ngày; trong số này, có khoảng 500 triệu người ở châu Phi cận Sahara. Trên thực tế, diện tích trồng sắn dự kiến sẽ tăng, điều này chứng tỏ tầm quan trọng và vị trí cây sắn trong nền nông nghiệp thế giới. Các nước trồng sắn trên thế giới, 2019 (FAOSTAT, 2020) [121] Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu sản lượng sắn toàn cầu với sản lượng năm 2020 sẽ đạt 193,6 triệu tấn.

Khối lượng sản phẩm sử dụng làm lương thực thực phẩm là 77,2%, làm thức ăn gia súc là 4,4%. Châu Mỹ La tinh giai đoạn 1993 - 2020, ước tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn tăng hằng năm là 1,3%, so với châu Phi là 2,44% và châu Á là 0,84 - 0,96%. Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều nước châu Á, đặc biệt là các nước vùng Đông Nam Á nơi cây sắn có tổng diện tích đứng thứ ba sau lúa và ngô và tổng sản lượng đứng thứ ba sau lúa và mía. Theo số liệu thống kê của FAOSTAT, diện tích sắn châu Á năm 2020 đạt 3.740 6 nghìn ha, chiếm 13,2 % diện tích sắn toàn thế giới, sản lượng 81,86 triệu tấn chiếm 27,04% sản lượng sắn trên toàn thế giới; năng suất sắn trung bình năm 2020 đạt 21,9 tấn/ha, cao gấp đôi so với năng suất sắn trung bình thế giới [121].

Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới năm 2020 Chỉ tiêu STT Tên nước Diện tích Năng suất Sản lượng (1.662,5 Nguồn: FAOSTAT-2021 [121] Theo FAOSTAT sản lượng sắn trên thế giới đã tăng đáng kể kể từ năm 2001, với sản lượng đạt đỉnh 293,01 triệu tấn vào năm 2015.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Luận án tiến sĩ: Biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững tại Nghệ An (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/nong-hoc/luan-an-tien-si-nghien-cuu-bien-phap-ky-thuat-canh-tac-san-ben-vung-tai-nghe-an

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Luận án tiến sĩ: Biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững tại Nghệ An" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án TS nông nghiệp: Biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững vùng trung du Nghệ An. Nâng cao năng suất, bảo vệ môi trường.

Luận án "Luận án tiến sĩ: Biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững tại Nghệ An" có bao nhiêu trang?

Luận án "Luận án tiến sĩ: Biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững tại Nghệ An" có 236 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ: Biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững tại Nghệ An" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter