Luận án tiến sĩ tục chơi quan họ xứ kinh bắc xưa và nay
Khám phá luận án tiến sĩ về tục chơi Quan họ xứ Kinh Bắc xưa và nay, phân tích giá trị văn hóa và biến đổi qua thời gian.
Đại học KHXH &NV, Đại học Quốc gia Hà Nội
Luan An
Luận án
Năm xuất bản
Số trang
229
Thời gian đọc
35 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Giới thiệu về quan họ
- Số trang:
- 229 trang
- Trường:
- Đại học KHXH &NV, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Nhân học
- Tác giả:
- Luan An
- Năm:
- 2015
Tóm tắt nội dung luận án
I. Giới thiệu về quan họ
Quan họ là một loại hình nghệ thuật truyền thống của người Việt, đặc biệt là ở vùng Kinh Bắc. Quan họ là một hình thức ca hát, múa, và diễn xuất kết hợp với nhau để tạo ra một chương trình nghệ thuật hoàn chỉnh.
1.1. Lịch sử của quan họ
Quan họ có lịch sử lâu dài và phong phú, với những dấu ấn của các thời kỳ lịch sử khác nhau.
1.2. Đặc điểm của quan họ
Quan họ có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm cả về nội dung, hình thức, và cách thức biểu diễn.
II. Quan họ xứ Kinh Bắc xưa
Quan họ xứ Kinh Bắc xưa là một phần quan trọng của di sản văn hóa Việt Nam. Quan họ đã được biểu diễn trong nhiều dịp lễ hội và sự kiện quan trọng.
2.1. Quan họ trong lễ hội
Quan họ đã được biểu diễn trong nhiều lễ hội truyền thống, bao gồm cả lễ hội chùa Hương và lễ hội đình làng.
2.2. Quan họ trong cuộc sống hàng ngày
Quan họ cũng đã được biểu diễn trong cuộc sống hàng ngày, bao gồm cả trong các dịp cưới hỏi và lễ giỗ.
III. Quan họ xứ Kinh Bắc nay
Quan họ xứ Kinh Bắc nay vẫn còn được biểu diễn và phát triển, mặc dù đã có những thay đổi và ảnh hưởng từ các yếu tố hiện đại.
3.1. Quan họ trong thời kỳ hiện đại
Quan họ đã phải đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn trong thời kỳ hiện đại, bao gồm cả sự cạnh tranh từ các loại hình nghệ thuật khác.
3.2. Quan họ và du lịch
Quan họ đã trở thành một phần quan trọng của du lịch văn hóa, với nhiều du khách đến để trải nghiệm và thưởng thức quan họ.
IV. Kết luận
Quan họ xứ Kinh Bắc xưa và nay là một phần quan trọng của di sản văn hóa Việt Nam. Quan họ đã được biểu diễn và phát triển trong nhiều thế kỷ, và vẫn còn được yêu thích và tôn vinh ngày nay.
4.1. Tầm quan trọng của quan họ
Quan họ có tầm quan trọng lớn trong việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa Việt Nam.
4.2. Hướng phát triển của quan họ
Quan họ cần được bảo tồn và phát triển trong thời kỳ hiện đại, với sự hỗ trợ và bảo vệ từ các cơ quan chức năng và cộng đồng.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (229 trang)Nội dung chính
Tổng quan về luận án
Nghiên cứu về di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam từ lâu đã đối diện với nghịch lý giữa việc bảo tồn "nguyên gốc" và xu thế hiện đại hóa. Luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Dân tộc học (mã số: 62 22 70 01) của nghiên cứu sinh Đinh Thị Thanh Huyền với đề tài "Tục chơi quan họ (xứ Kinh Bắc) xưa và nay" (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015) là một công trình tiên phong chuyển dịch lăng kính nghiên cứu: từ tiếp cận hình thức diễn xướng âm nhạc thuần túy sang khảo cứu toàn diện một thiết chế văn hóa - xã hội mang tính chỉnh thể.
Khoảng trống học thuật (research gap) cốt lõi được xác định là: Trong hơn 800 công trình nghiên cứu về quan họ trước đây (như Hồng Thao, 1977; Đặng Văn Lung, 1978; Lê Danh Khiêm, 2000), phần lớn giới nghiên cứu đồng nhất quan họ với nghệ thuật ca hát mà bỏ quên "tục chơi" – một không gian văn hóa tổng thể bao hàm tổ chức xã hội, nghi lễ tín ngưỡng, quy tắc ứng xử, ẩm thực và quan hệ liên làng. Hơn nữa, việc bảo tồn hiện nay đang chịu áp lực nặng nề từ quá trình "sân khấu hóa" và "Nhà nước hóa", vô tình tách rời di sản khỏi cộng đồng chủ thể.
Luận án đặt ra ba câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu chính:
- Câu hỏi 1 (Q1): Bản chất, cấu trúc tổ chức và giá trị xã hội của tục chơi quan họ truyền thống trong không gian làng xã cổ truyền xứ Kinh Bắc được vận hành như thế nào?
- Câu hỏi 2 (Q2): Quá trình biến đổi của tục chơi quan họ từ sau năm 1945 đến nay diễn ra dưới những tác động kinh tế - xã hội nào và tạo ra những mô hình thực hành mới nào?
- Câu hỏi 3 (Q3): Nhận thức của cộng đồng chủ thể (người trong cuộc) đối với các chính sách bảo tồn hiện hành ra sao và đâu là mô hình bảo tồn di sản bền vững từ dưới lên (bottom-up)?
Giả thuyết trung tâm luận án khẳng định: Tục chơi quan họ không phải là một thực thể tĩnh tại mà luôn vận động theo tiến trình "tính liên tục văn hóa" (cultural continuity). Sự biến đổi từ "quan họ lề lối" sang "quan họ mới" là sự tái cấu trúc tất yếu để thích ứng với bối cảnh xã hội đương đại; do đó, mọi chính sách bảo tồn chỉ đạt hiệu quả khi đặt cộng đồng địa phương vào vị trí trung tâm quyền lực văn hóa.
Phạm vi nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào cặp làng quan họ kết bạn "truyền đời": Làng Diềm (Viêm Xá, xã Hòa Long, TP. Bắc Ninh) và Làng Bịu (Hoài Thị, xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) – đại diện cho 1 trong số 24 cặp làng kết chạ cổ xưa, với khung thời gian khảo sát thực địa trải dài từ năm 2004 đến 2015 trên cỡ mẫu định lượng 200 cá nhân.
Literature Review và Positioning
Khảo sát tổng quan hơn 800 tài liệu trong nước và quốc tế, luận án phân loại và tổng hợp ba luồng nghiên cứu chủ đạo:
Thứ nhất, hướng tiếp cận âm nhạc - dân tộc học (ethnomusicology) do các học giả tiên phong như Nguyễn Văn Phú, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Viêm, Tú Ngọc (1962), Đặng Văn Lung (1977), và đặc biệt là Hồng Thao (1977, 1982, 1985) dẫn dắt. Hồng Thao đã dày công sưu tầm, ký âm và phân tích 300 bài quan họ cổ, chứng minh hệ thống thang âm năm cung kiểu IV (Chủy) và kiểu V (Vũ), khẳng định sự giao thoa giữa quan họ với tuồng, chèo, ca trù. Tuy nhiên, luồng nghiên cứu này chủ yếu phân tích kỹ thuật thanh nhạc, lề lối (Hừ la, La rằng, Đương bạn, Tình tang, Cây gạo...) mà chưa giải mã đầy đủ bối cảnh văn hóa - nhân học nuôi dưỡng các làn điệu đó.
Thứ hai, hướng tiếp cận cấu trúc ngôn ngữ - văn hóa với các đại diện tiêu biểu như Lê Danh Khiêm (2000, 2010), Hoàng Chương (2007), vận dụng lý thuyết văn hóa dân gian của Novicova (1978). Lê Danh Khiêm đã giải mã "nhã ngữ" – nghệ thuật sử dụng đại từ nhân xưng nhún nhường (tự xưng "em", gọi bạn là "anh/chị") và phân tích hơn 150 điển tích văn học (Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm) trong gần 500 bài ca. Hướng tiếp cận này làm sáng tỏ tính chất "dân gian nửa bác học" của ca từ nhưng chưa đi sâu vào hành vi thực hành xã hội của các bọn quan họ.
Thứ ba, các tranh luận học thuật đối lập:
- Tranh luận về nguồn gốc và yếu tố ngoại sinh: Lê Ngoc Chan (Luận án Tiến sĩ tại Đại học California, Berkeley, Hoa Kỳ, 2002) đưa ra giả thuyết từ nguyên học rằng chữ rằng (trong la rằng) bắt nguồn từ yang trong tiếng Mã Lai và tiếng Chăm (toh yang - hát thờ thần), đồng thời gắn tập tục hát canh ban đêm giữa liền anh làng Bịu và liền chị làng Diềm với tàn dư tín ngưỡng phồn thực thờ Linga - Yoni tại đền Vua Bà. Trái lại, Đặng Văn Lung (1976) và các học giả trong nước kiên định quan điểm nguồn gốc Việt - Mường bản địa thuộc ngữ hệ Môn - Khmer.
- Tranh luận về không gian và số lượng làng gốc: Nhóm Trần Linh Quý và Hồng Thao (1997) đưa ra con số 49 làng quan họ gốc (chủ yếu ở Nam sông Cầu), trong khi Bùi Quang Thanh (2008) phê phán tính ước lệ của con số này và nhấn mạnh không gian quan họ Bắc sông Cầu (Bắc Giang). Số liệu khảo sát thực tế của Sở Văn hóa Bắc Ninh (2010) ghi nhận 329 làng thực hành quan họ trên tổng số 663 làng, chứng minh sự lan tỏa vượt bậc của không gian di sản.
Luận án định vị mình ở giao điểm phê phán giữa nhân học văn hóa và xã hội học di sản, trực tiếp so sánh với trường hợp bảo tồn di sản của Hàn Quốc (Roger Janelli, 2010) và công trình nghiên cứu cấu trúc nghi lễ của Le Ngoc Chan (2002) để tái định nghĩa toàn diện khái niệm "tục chơi".
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án tạo bước đột phá khi thách thức khái niệm tĩnh về "hình thái gốc" (pristine/original form) vốn thống trị các chính sách văn hóa truyền thống. Dựa trên lý luận của Roger Janelli (2010) và Barbara Kirshenblatt-Gimblett (1998), luận án khẳng định di sản văn hóa phi vật thể mang "tính liên tục" (cultural continuity) và không ngừng sản sinh ra cái mới ở hiện tại:
"Bất chấp các khái niệm về bảo tồn, phục hồi, cải tạo, khôi phục, tái tạo, tái sinh, và cải tạo, các di sản luôn sản sinh ra cái mới ở hiện tại, mà không cần quá khứ... Đó là mô hình các tác phẩm văn hóa ở thời điểm hiện tại dựa vào quá khứ." (Barbara Kirshenblatt-Gimblett, 1998, dẫn theo Janelli, 2010).
Công trình mở rộng lý thuyết "tái tạo truyền thống" (reinvention of tradition) của Lương Văn Hy & Trương Huyền Chi (2010) và "tái cấu trúc văn hóa" của Tô Ngọc Thanh (2006), chứng minh rằng sự chuyển đổi từ mô hình "bọn quan họ" cổ truyền sang "Câu lạc bộ (CLB) quan họ" không phải là sự tha hóa di sản, mà là cơ chế thích ứng nội sinh của cộng đồng trước làn sóng đô thị hóa.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp đa chiều ba hệ thống lý thuyết nền tảng:
- Nhân học nhận thức (Cognitive Anthropology): Vận dụng mô hình phân tích Emic (chủ thể/người trong cuộc) và Etic (khách thể/người ngoài cuộc) của Kenneth Pike (1954) và Jennifer Cash (1995). Luận án trao quyền tối thượng cho tiếng nói, nhận thức và đánh giá của các nghệ nhân, liền anh, liền chị (emic) để phản biện lại các quy chuẩn áp đặt hành chính từ cơ quan quản lý (etic).
- Tiếp cận Địa - Văn hóa và Phân tích Hệ thống: Kế thừa quan điểm của GS. Trần Quốc Vượng (1998) coi vùng văn hóa là một tổng thể cấu trúc bao gồm các tiểu hệ (sub-systems), kết hợp với lý thuyết không gian văn hóa 3 chiều của Joel Bonnemaison (2005) gồm: lãnh thổ/tổ chức xã hội, cảnh quan địa - sinh thái (dải phù sa sông Cầu - sông Ngũ Huyện Khê), và các biểu tượng không gian thiêng (đền Cùng, giếng Ngọc, nhà chứa).
- Vùng văn hóa dân gian: Vận dụng phân vùng văn hóa của GS. Ngô Đức Thịnh (1993) để định vị tiểu vùng Kinh Bắc - Hà Bắc, xem lối sống và phong tục cộng đồng là tiêu chí cốt lõi định danh bản sắc.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án áp dụng lập trường nhận thức luận diễn giải (interpretivism) kết hợp hiện tượng luận (phenomenology) trong khuôn khổ phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (mixed-methods research design). Thiết kế nghiên cứu đa tầng (multi-level design) vận hành đồng thời ở 3 cấp độ:
- Cấp độ vĩ mô: Chính sách thể chế, hồ sơ đệ trình UNESCO (VICAS, 2008), và diễn ngôn bảo tồn quốc gia.
- Cấp độ trung mô: Cấu trúc làng xã cổ truyền và mạng lưới liên làng kết chạ Diềm - Bịu.
- Cấp độ vi mô: Thực hành sinh hoạt của các bọn quan họ, các gia đình nghệ nhân và câu lạc bộ cơ sở.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu thực địa diễn ra nghiêm ngặt thông qua kỹ thuật tam giác hóa (triangulation):
- Tam giác hóa dữ liệu (Data Triangulation): Kết hợp điền dã dân tộc học chuyên sâu (2004-2015), ghi chép di cảo điền dã của cố PGS.TS. Hoàng Lương, tư liệu văn bia, gia phả họ Nguyễn làng Diềm, sắc phong, hương ước cổ và tài liệu lưu trữ Bắc Ninh Tỉnh Khảo Dị.
- Quan sát tham dự (Participant Observation): Trực tiếp hòa nhập đời sống thường nhật, tham gia các canh hát thâu đêm tại "nhà chứa", các buổi tập luyện của thanh thiếu niên trong CLB, đồng thời thực hiện các chuyến khảo sát dọc các cung đường kết bạn liên làng (đường Ném, Bịu - Diềm, Sơn Động - Việt Yên).
- Phỏng vấn sâu (In-depth Interviews): Thực hiện với các nghệ nhân gạo cội (tiêu biểu như nghệ nhân Nguyễn Thị Bàn - làng Diềm, nghệ nhân Nguyễn Văn Quỳnh - làng Bịu), các nhà quản lý văn hóa địa phương và người dân ngoài cuộc.
Data và phân tích
Nghiên cứu định lượng được thiết kế với quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên phân lớp (stratified random sampling) chặt chẽ:
- Quy mô mẫu: $N = 200$ đối tượng đại diện cho 200 hộ gia đình độc lập (không trùng lặp trong cùng hộ).
- Làng Diềm (Viêm Xá): $n = 140$ (lấy mẫu tại 7 đội dân cư, mỗi đội 20 người).
- Làng Bịu (Hoài Thị): $n = 60$ (lấy mẫu tại 3 tổ xóm, mỗi xóm 20 người).
- Cơ cấu phân tầng: Cân bằng tuyệt đối về giới (100 nam, 100 nữ) và phân bổ đồng đều theo 3 nhóm tuổi: Cao niên ($\ge 60$ tuổi), Trung niên ($40 - 60$ tuổi), Thanh niên ($< 40$ tuổi).
- Công cụ đo lường: Bảng hỏi cấu trúc chuẩn hóa gồm 48 biến số (câu hỏi mở, đóng nhị phân, đa lựa chọn và thang đo thái độ/hành vi), được xử lý và phân tích qua 17 biểu bảng thống kê mô tả chuyên sâu.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Phát hiện 1: Giải kiến tạo khái niệm "Quan họ" – Chuyển từ Nghệ thuật Trình diễn sang Thiết chế Xã hội Chỉnh thể. Luận án chứng minh hát chỉ chiếm một phần trong cấu trúc "chơi quan họ". Tục chơi là một hệ thống văn hóa tổng thể bao gồm: tục kết bạn kết chạ (24 cặp làng), tục kết chạ truyền đời nam - nữ giữa các bọn, tục lập "nhà chứa" làm không gian sinh hoạt biệt lập, và hệ thống nhã ngữ chuẩn mực. Đúng như Đặng Văn Lung và cộng sự (1978) từng khẳng định:
"Dân ca quan họ là một loại hình văn hoá tổng hợp, vừa chứa đựng trong nó nhiều khía cạnh có liên quan đến nghệ thuật từ âm nhạc, lời ca đến diễn xướng, gắn bó sâu sắc với thiên nhiên, con người, với văn hóa, văn minh làng xã vừa phản ánh nhiều mặt hoạt động của đời sống cộng đồng nông thôn vùng Kinh Bắc xưa."
-
Phát hiện 2: Nghịch lý "Sân khấu hóa" và Nguy cơ Xơ cứng Di sản. Phân tích dữ liệu bảng hỏi chỉ ra sự xung đột nhận thức sâu sắc giữa cộng đồng chủ thể và các cơ quan quản lý nhà nước. Trong khi chính sách quản lý có xu hướng đưa quan họ lên sân khấu biểu diễn chuyên nghiệp, gắn với dàn nhạc đệm phương Tây hiện đại, thì $82%$ nghệ nhân và người cao tuổi tại Diềm và Bịu khẳng định việc này làm biến dạng kỹ thuật hát "vang, rền, nền, nảy" và triệt tiêu tính ứng tác đối đáp – linh hồn của quan họ cổ truyền.
-
Phát hiện 3: Sự trỗi dậy của Câu lạc bộ Quan họ như một Cơ chế Tự thích ứng. Khảo sát thực tế phản bác định kiến cho rằng quan họ đang bị mai một hoàn toàn. Sự suy giảm của mô hình "bọn quan họ" gia đình khép kín đã được bù đắp bằng sự hình thành của các CLB quan họ làng xã. Tỷ lệ phụ huynh mong muốn con em tham gia CLB đạt trên $78%$, khẳng định sức sống nội sinh mạnh mẽ của di sản thông qua quá trình dân chủ hóa và cộng đồng hóa việc truyền dạy.
-
Phát hiện 4: Phản biện giả thuyết về quan hệ tính giao trong hát canh. Khảo sát lịch sử xã hội và phỏng vấn sâu khẳng định: Lời nguyền cấm kết hôn giữa các bọn quan họ kết bạn là một quy ước đạo đức thiêng liêng nhằm bảo vệ tính thanh cao, thuần khiết của tình bạn tri kỷ ("nghĩa nặng hơn tình"). Các giả thiết ngoại suy về quan hệ tính giao dị giáo trong buổi hát canh nửa đêm (Le Ngoc Chan, 2002) chỉ là các ngoại lệ cá biệt hoặc sự suy diễn thiếu bối cảnh xã hội của nhà nghiên cứu phương Tây.
-
Phát hiện 5: Biến đổi cấu trúc giới trong thực hành di sản. Dữ liệu từ Sở VHTTDL Bắc Ninh (2010) trên 8.042 người tham gia quan họ ghi nhận sự áp đảo vượt trội của nữ giới ($81%$ nữ so với $19%$ nam). Tại làng Diềm, "bọn quan họ nữ" và sự tôn kính dành cho đền Vua Bà đóng vai trò trụ cột trong việc duy trì ký ức văn hóa và dẫn dắt các thế hệ kế tiếp.
Implications đa chiều
- Về lý thuyết: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc cho trường phái nhân học nhận thức tại Việt Nam, minh chứng rằng di sản phi vật thể phải được xem là một "tiến trình sống" (living process) thay vì một "vật thể trưng bày trong bảo tàng".
- Về phương pháp luận: Thiết lập quy trình mẫu kết hợp dân tộc học điền dã với điều tra định lượng phân tầng, có thể nhân rộng để nghiên cứu các loại hình dân ca nghi lễ khác (hát Xoan, hát Ghẹo, Ca trù).
- Về thực tiễn & chính sách: Đề xuất lộ trình chuyển đổi từ mô hình "Nhà nước hóa" sang "Bảo trợ dựa vào cộng đồng" (community-based conservation). Ngân sách bảo tồn cần chuyển dịch từ việc tài trợ các festival biểu diễn hào nhoáng sang hỗ trợ trực tiếp không gian thực hành "nhà chứa", trợ cấp sinh hoạt phí cho nghệ nhân cao tuổi (báu vật nhân văn sống), và tài trợ các lớp học truyền khẩu tại CLB làng Diềm và làng Bịu.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn chỉ ra 3 giới hạn nghiên cứu chính:
- Giới hạn không gian: Nghiên cứu chuyên sâu chủ yếu định vị tại 2 làng đại diện thuộc bờ Nam sông Cầu (Bắc Ninh), chưa thể bao quát toàn diện các biến thể thực hành của các làng quan họ cổ thuộc bờ Bắc sông Cầu (Việt Yên, Hiệp Hòa - Bắc Giang).
- Giới hạn biến số kinh tế: Chưa định lượng hóa chi tiết tác động của làn sóng chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp sang khu công nghiệp (KCN Yên Phong, Tiên Sơn) đối với quỹ thời gian nông nhàn và không gian diễn xướng của người dân.
- Đặc trưng âm nhạc học: Luận án chủ động không đi sâu vào phân tích ký âm cao độ hay cấu trúc thang âm vật lý học, do định vị chuyên ngành thuộc Dân tộc học/Nhân học văn hóa.
Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo (Future Research Agenda) mở ra 4 hướng đi:
- Hướng 1: Nghiên cứu so sánh xuyên văn hóa (cross-cultural comparative study) giữa tục kết bạn quan họ với các hình thức hát đối đáp nghi lễ của các tộc người ngữ hệ Nam Á và Nam Đảo tại Đông Nam Á lục địa.
- Hướng 2: Đánh giá tác động của du lịch di sản (heritage tourism) và thương mại hóa văn hóa đối với tính chân xác (authenticity) của quan họ làng Diềm sau một thập kỷ được UNESCO vinh danh.
- Hướng 3: Ứng dụng nhân học số (digital anthropology) trong việc xây dựng kho lưu trữ số hóa mở về kho tàng nhã ngữ và làn điệu quan họ cổ truyền khẩu.
- Hướng 4: Mở rộng nghiên cứu dân tộc học về căn cước giới (gender identity) của các liền anh, liền chị trong bối cảnh xã hội chuyển đổi.
Tác động và ảnh hưởng
- Học thuật (Academic Impact): Trở thành công trình tham chiếu kinh điển về phương pháp tiếp cận nhân học đối với dân ca quan họ, định hình lại cách hiểu của giới học thuật về thuật ngữ "tục chơi" thay vì chỉ nghiên cứu ca từ hay âm nhạc đơn thuần.
- Chính sách văn hóa (Policy Influence): Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc điều chỉnh đề án bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; đóng góp vào việc ban hành các nghị quyết của HĐND tỉnh Bắc Ninh về chế độ đãi ngộ vinh danh nghệ nhân dân ca quan họ.
- Xã hội và cộng đồng (Societal Benefits): Nâng cao vị thế văn hóa của các nghệ nhân làng Diềm và làng Bịu, thúc đẩy phong trào tự quản di sản tại hơn 300 làng xã vùng Kinh Bắc, giúp thế hệ trẻ tự hào và chủ động tham gia bảo vệ vốn cổ quê hương.
- Tầm vóc quốc tế (International Relevance): Đóng góp một điển cứu thực nghiệm sâu sắc từ châu Á vào mạng lưới bảo tồn di sản sống của UNESCO, chứng minh tính ưu việt của mô hình bảo tồn thích ứng (adaptive preservation).
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh & Giới nghiên cứu Nhân học/Dân tộc học: Tiếp cận khung lý thuyết nhân học nhận thức chuẩn mực và bộ công cụ phương pháp luận hỗn hợp mẫu mực trong nghiên cứu làng xã cổ truyền.
- Nhà hoạch định chính sách & Cơ quan quản lý văn hóa: Nhận diện rõ ranh giới giữa bảo tồn bền vững và sự phá hủy di sản do can thiệp hành chính, sân khấu hóa gượng ép.
- Doanh nghiệp lữ hành du lịch cộng đồng: Hiểu sâu sắc không gian văn hóa nguyên bản để thiết kế các sản phẩm du lịch di sản có trách nhiệm, tôn trọng tập tục làng xã.
- Cộng đồng nghệ nhân & CLB Quan họ địa phương: Được trang bị cơ sở lý luận khoa học để tự tin cất lên tiếng nói chủ thể, bảo vệ không gian thực hành văn hóa truyền thống của chính mình.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào? Trả lời: Luận án đã mở rộng lý thuyết "Tính liên tục văn hóa" (Cultural Continuity) của Roger Janelli (2010) và khung lý thuyết "Sản sinh di sản" của Barbara Kirshenblatt-Gimblett (1998) bằng việc chứng minh: Tục chơi quan họ là một cấu trúc xã hội động. Luận án bác bỏ quan điểm bảo tồn "đóng băng hình thái gốc" cứng nhắc, chỉ ra rằng sự dịch chuyển từ "bọn quan họ" truyền thống sang "câu lạc bộ quan họ" hiện đại là một bước chuyển hóa nội sinh hợp quy luật nhằm tái cấu trúc nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh mới.
2. Điểm cải tiến phương pháp luận của nghiên cứu này khi so sánh với các công trình trước đây là gì? Trả lời: So với các công trình thuần túy sưu tầm ký âm của Hồng Thao (1977) hay phân tích văn bản học của Lê Danh Khiêm (2000), luận án vượt trội nhờ thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp tiếp cận Emic/Etic của nhân học nhận thức. Điểm đột phá là việc xây dựng mẫu định lượng ngẫu nhiên phân tầng ($N = 200$, cân bằng giới và 3 thế hệ) trên 2 làng kết chạ cốt lõi, phối hợp với phương pháp quan sát tham dự thực địa dài hạn (2004-2015), tạo nên độ tin cậy và giá trị nội tại vượt bậc.
3. Phát hiện bất ngờ và phản trực giác nhất từ dữ liệu thực địa là gì? Trả lời: Phát hiện phản trực giác nhất là: Hiện tượng "sân khấu hóa" và việc sử dụng nhạc đệm điện tử – vốn được các nhà quản lý kỳ vọng sẽ đại chúng hóa quan họ – lại bị $82%$ nghệ nhân và người thực hành di sản gốc phản đối vì làm triệt tiêu tính chất tinh tế của các hư từ "hậm hừ", làm mất đi nghệ thuật hát đối đáp và phá vỡ tính liên kết cộng đồng của canh hát truyền thống.
4. Nghiên cứu có cung cấp giao thức tái lập (replication protocol) rõ ràng không? Trả lời: Có. Luận án mô tả chi tiết quy trình chọn mẫu phân lớp qua 7 đội tại Diềm và 3 xóm tại Bịu, công khai bảng hỏi cấu trúc 48 biến số, tiêu chí lựa chọn người tham gia phỏng vấn sâu, và phương pháp mã hóa dữ liệu định tính, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập tái lập khảo sát tại các làng quan họ khác thuộc vùng Bắc sông Cầu.
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm được phác thảo ra sao? Trả lời: Luận án vạch rõ lộ trình nghiên cứu tương lai tập trung vào: (1) Khảo sát so sánh toàn diện 13 làng quan họ cổ tại Bắc Giang; (2) Đánh giá tác động của chuyển đổi số và công nghiệp hóa lên sinh thái văn hóa làng Diềm; (3) Nghiên cứu chuyên đề về tính nhạy cảm giới và quyền lực biểu tượng của phụ nữ trong các nghi lễ thờ Vua Bà quan họ.
Kết luận
- Tái định danh khái niệm: Luận án xác lập một cách khoa học rằng quan họ xứ Kinh Bắc là một "tục chơi" – một thiết chế văn hóa - xã hội tổng thể, không thể bị giản lược thành một thể loại ca hát dân gian thuần túy.
- Minh chứng tính thích ứng: Khẳng định tính liên tục của văn hóa dân gian; sự chuyển đổi từ bọn quan họ cổ truyền sang mô hình CLB quan họ là minh chứng sống động cho năng lực tự điều chỉnh và tái tạo truyền thống của cộng đồng làng xã.
- Định hình mô hình bảo tồn nhân văn: Bác bỏ tư duy áp đặt hành chính và sân khấu hóa thương mại, xác lập mô hình bảo tồn "từ dưới lên" (bottom-up), trao quyền quyết định và lợi ích di sản cho chính cộng đồng chủ thể.
- Khẳng định giá trị nhân văn phổ quát: Giải mã triết lý ứng xử lịch thiệp, nhã nhặn, tôn trọng tình bạn tri kỷ ("kết bạn truyền đời") như một giá trị đạo đức tiêu biểu làm nên cốt cách con người vùng châu thổ Bắc Bộ.
- Đóng góp phương pháp luận: Để lại một công trình mẫu mực về việc vận dụng lý thuyết nhân học nhận thức và phương pháp nghiên cứu điền dã kết hợp định lượng trong nghiên cứu di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộDAI HQC QUOC GIA HA NOI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐINH THỊ THANH HUYEN TỤC CHƠI QUAN HỌ (XỨ KINH BẮC) XƯA VÀ NAY LUAN AN TIEN Si LICH SU’ HÀ NỘI - 2015 DAI HQC QUOC GIA HA NOI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐINH THỊ THANH HUYEN TỤC CHƠI QUAN HỌ (XỨ KINH BẮC) XƯA VÀ NAY LUAN AN TIEN Si LICH SU’ Chuyên ngành: Dân tộc hoc Mã số: 62 22 70 01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. LÊ SĨ GIÁO HÀ NỘI - 2015 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan công trình này do tôi thực hiện. Những tư liệu trong luận án được khai thác, thu thập từ thực địa là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án; các tài liệu tham khảo được trích dẫn nguồn đầy đủ. Nếu có gì sai phạm, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Nghiên cứu sinh Dinh Thị Thanh Huyền LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận án này, tôi thấy mình thật may mắn vì nhận được sự trợ giúp của các cá nhân, tổ chức và đoàn thể. Nhân đây tôi xin được gửi lời tri ân sâu sắc nhất của mình đối với sự giúp đỡ quý báu đó. Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các sở, ban, ngành thuộc 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, chính quyền các xã vùng quan họ và người dân nơi đây. Đặc biệt là các nghệ nhân, các liền anh, liền chị quan họ ở hai làng Hoài Thị (xã Liên Bão, huyện Tiên Du) và Viêm Xá (xã Hoà Long, thành phố Bắc Ninh).
Cụ thể hơn, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và cá nhân nghệ nhân Nguyễn Thị Bàn ở Viêm Xá - người đã cưu mang, đùm bọc và lo lắng cho tôi từ ngày đầu tiên tôi đặt chân về miền đất quan họ năm 2004 đến nay. Ở Hoài Thị cũng vậy, tôi muốn gửi lời cám ơn đến gia đình và cá nhân bác Nguyễn Văn Quỳnh không những tạo điều kiện giúp đỡ tôi về chuyên môn mà còn tạo điều kiện cho tôi làm việc trong thời gian nghiên cứu thực địa, điều tra định lượng. Tôi cũng muốn bày tỏ lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm 2 câu lạc bộ quan họ Hoài Thị và Viêm Xá đã coi tôi như một thành viên của họ, cho tôi được kết nối, tham gia các hoạt động thường kì, phát sinh của câu lạc bộ. Chính những trải nghiệm đó đã giúp tôi có được nhiều kiến thức thực tế quý giá về văn hoá quan ho.
Để hoàn thiện bản luận án này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của 2 thầy hướng dẫn PGS.TS Hoàng Lương - hướng dẫn 1, và PGS.TS Lê Sỹ Giáo - hướng dẫn 2. Đặc biệt ở đây, tôi muốn bày tỏ sự tri ân sâu sắc đến cố PGS.TS Hoàng Lương, một người thầy luôn hết lòng vì học trò, người đã day dé, nang do, chỉ bảo tôi trong suốt quãng thời gian tôi còn là một sinh viên năm thứ 3 học môn Dân tộc học đại cương cho đến buổi thảo luận cuối cùng sau bảo vệ luận án cấp co sở. Những vấn đề cốt lõi nhất của luận án, những góp ý của hội đồng cấp cơ sở đã được thầy ghi chép lại tỉ mỉ và thảo luận hướng chỉnh sửa, hoàn thiện luận án cho tôi. Bản ghi chép đó được thầy trao lại cho tôi vào buổi chiều mùa đông cuối năm cận kể ngày tết nguyên đán Ất Mùi, trước khi thầy rời bỏ thế giới này đi về với cõi vĩnh hằng, giờ đây đã trở thành di cảo hướng dẫn cuối cùng thầy dành cho tôi.
Trước kỳ vọng và anh linh của thầy, tôi đã cố gắng nỗ lực hết sức cùng với sự chỉ bảo của PGS. TS Lê Sỹ Giáo dé hoàn thiện bản luận án. Trong “Lời cám ơn” ngắn gọn này, tôi không thể biểu đạt hết được những tình cảm biết ơn, kính trọng đối với sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy. Trong quá trình nghiên cứu và phân tích các số liệu thực địa, tôi còn nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo về mặt lý thuyết tiếp cận, phương pháp, kĩ năng nghiên cứu từ PGS.TS Nguyễn Văn Chính, sự hợp tác của các bạn sinh viên khoá sau ở Bộ 1 môn Nhân học.
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cám ơn trân trọng đến sự giúp đỡ quý áu của thầy Nguyễn Văn Chính; lời cám ơn chân thành đến các bạn Nguyễn Thị Thu Huyền, Trần Diệu Anh, Trần Đức Tùng đã tự nguyện tham gia cùng tôi thực hiện điều tra thực địa, gỡ băng, chụp ảnh, gặp gỡ các nghệ nhân. Đặc biệt là người bạn nhỏ Thu Huyền, một người đồng hành đã chia sẻ nhiều vắt vả, thậm chí là nguy hiểm khi cùng tôi đi xe gắn máy qua cánh đồng các làng Ném buổi đêm từ Bịu về Diềm để trải nghiệm con đường đi chơi quan họ của các liền anh, liền chị ngày xưa, đã “liều” đi cùng tôi quãng đường hơn 40km do lạc đường bằng xe máy từ làng Bịu (huyện Tiên Du, Bắc Ninh) lên thị trấn Sơn Động, huyện Việt Yên (Bắc Giang) giữa ngày hè nóng nực nhất. Còn rất nhiều những quan tâm, giúp đỡ của các Giáo sư trong Bộ môn Nhân học, của phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học KHXH & NV đã giúp tôi hoàn thiện luận án và các thủ tục dé bảo vệ luận án. Đặc biệt là sự giúp đỡ và tạo điều kiện hoàn thiện các thủ tục trình luận án của PGS.TS Lâm Bá Nam, PGS.TS Nguyễn Văn Sửu và TS Nguyễn Trường Giang, sự góp ý, chỉ bảo của 2 Giáo sư giới thiệu là PGS.TS Vương Xuân Tình, GS.TS Lê Hồng Lý và các thành viên trong Hội đồng cấp cơ sở, các Giáo sư trong Hội đồng cấp ĐHQG.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban lãnh đạo Viện Văn hóa thuộc trường Đại học Văn hóa Hà Nội, nơi tôi đã công tác từ năm 2006 cho đến trước khi chuyển công tác về Khoa Nhân học, trường Đại học KHXH &NV, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp ở nơi tôi đã và đang làm việc đã quan tâm chia sẻ và động viên tôi vượt qua khó khăn đề hoàn thành công việc nghiên cứu làm luận án. Cuối cùng tôi muốn dành những lời cảm ơn đặc biệt đến các thành viên trong gia đình tôi, bố mẹ 2 bên, chồng và các con. Họ không chỉ quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong những lúc khó khăn nhất mà còn là nguồn trợ giúp đắc lực cả về vật chat va tinh thần đề tôi có thể hoàn thành bảo vệ luận án này.
Hà Nội, ngày. năm 2015 Nghiên cứu sinh Dinh Thị Thanh Huyền 11 MỤC LỤC Trang LỜI CAM ĐOAN i LOI CAM ON ii MUC LUC 1 DANH MUC CAC KY HIEU VA CHU VIET TẮTT.-«<<<<cccceeereeeersse 2 DANH MUC CAC BIEU BANG 3 MO DAU 4 1. Ly do chon dé tai 4 2. Mục tiêu nghiên cứu 7 3.
Nguồn tài liệu 7 4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 11 6. Cấu trúc của luận án 11 Chuong 1: TONG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, LÝ THUYÉT VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN 12 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 12 1.
Xác định vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận án. Cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp cận 35 Tiểu kết chương 1 42 Chương 2: LÓI CHƠI QUAN HỌ XƯA VÀ NAY Ở LÀNG DIÈM (VIÊM XÁ).1 Làng Diềm và thuý tổ của văn hoá quan họ Lịch sứ (tóm tắt) làng Diềm .2 Bọn quan họ nữ ở làng Diềm 57 2.3 Những không gian văn hoá quan họ 66 2. Câu lạc bộ quan họ và sự hình thành lối chơi quan họ mới.---<< 73 Tiểu kết chương 2 81 Chương 3: LÓI CHƠI QUAN HỌ XƯA VÀ NAY Ở LÀNG BỊU (HOÀI THỊ).1 Làng Bịu, một trong những cái nôi của quan họ truyền thống 3.2 Bọn quan họ nam ở làng Bịu 3.3 Những thay đổi trong lối chơi quan họ mới ở làng Bịu.-------- Tiểu kết chương 3 11 Chuong 4: VAN HOA QUAN HO: TRUYEN THONG, BIEN ĐỎI VÀ BẢO TÒN112 4. Quan họ lề lối và quan họ mới 113 4.2 Quan điểm, chính sách và biện pháp báo tồn quan họ.
Bảo tồn quan họ từ quan điểm của cộng đồng 148 Tiểu kết chương 4 157 KẾT LUẬN 158 DANH MUC CONG TRINH KHOA HOC CUA TAC GIA LIEN QUAN DEN LUAN AN 161 TAI LIEU THAM KHAO 162 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT CLB : Câu lạc bộ DSVHPVT : Di sản văn hóa phi vat thé GS : Giáo sư HN : Hà Nội KHXH : Khoa học xã hội Nxb : Nhà xuất bản PGS : Phó giáo sư TS : Tiến sĩ Tr : Trang TV : Ti vi (Television) TW : Trung ương UBND : Ủy ban nhân dân UNESCO :Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization) VHTT : Văn hóa- thông tin VHTTBN _ : Van hod thông tin Bac Ninh VHQH : Van hoa quan ho DANH MỤC CÁC BIEU BANG Bảng 1: Nhận định của cộng đồng về hướng bảo tồn quan họ hiện nay tại làng Diềm 80 Bảng 2: Nhận định của cộng đồng về hướng bảo tồn quan họ hiện nay. 110 Bảng 3: Điều kiện để chơi quan họ trong truyền thống TH HT TH HT TH HT Hư 118 Bảng 4: Gia cảnh người chơi quan họ trong truyền thống .----2-©2¿©c++ 119 Bảng 5 : Tỉ lệ người biết về quan hệ kết chạ của quan họ làng mình với làng khác. 120 Bảng 6: Tỉ lệ người biết về số bọn quan họ trong làng .-- --- 5 «5< <<<c<<++ 121 Bảng 7: Đánh giá về lối sống của người chơi quan họ với người không chơi. 122 Bảng 8: Vị thế của người chơi quan họ trong truyền thống HH TT HH TH TH ngư 122 Bảng 9: Xem quan họ ở hội làng của cộng đồng HH TT TH TH HH tờ 126 Bảng 10: Nguyện vọng cho con cháu tham gia CLB quan họ.-- --- «+ 138 Bảng 11: Lý do để mọi người tham gia vào CLB quan họ.138 Bảng 12: Nhận định của cộng đồng về việc cho quan họ nhận tiên trong hát hội.
142 Bảng 13: Xem chương trình hát quan họ trên TV, đài phát thanh hay bang dia của 010 0010907. 144 Bảng 14: Đánh giá chính sách bảo tồn phát huy quan họ hiện nay của nhà nước. 145 Bảng 15: Nhận định về mức độ yêu thích quan họ của thanh thiếu niên trong làng hiện Tố ốốố ố ẻẻ e. 154 Bang 16: So thich nghe quan họ của cộng déng hiện nay.
5-5 +<c+ccccceree 155 Bảng 17: Nhận định của cộng đồng về hướng bảo tồn quan họ hiện nay. Lý do chọn đề tài 1.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Luận án tiến sĩ tục chơi quan họ xứ kinh bắc xưa và nay (2015) [Luận án tiến sĩ, Đại học KHXH &NV, Đại học Quốc gia Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/nghien-cuu-van-hoa/van-hoa-hoc/luan-an-tien-si-tuc-choi-quan-ho-xu-kinh-bac-xua-va-nay
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án tiến sĩ tục chơi quan họ xứ kinh bắc xưa và nay" nghiên cứu về vấn đề gì?
Khám phá luận án tiến sĩ về tục chơi Quan họ xứ Kinh Bắc xưa và nay, phân tích giá trị văn hóa và biến đổi qua thời gian.
Luận án "Luận án tiến sĩ tục chơi quan họ xứ kinh bắc xưa và nay" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Đại học KHXH &NV, Đại học Quốc gia Hà Nội. Năm bảo vệ: 2015.
Luận án "Luận án tiến sĩ tục chơi quan họ xứ kinh bắc xưa và nay" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án tiến sĩ tục chơi quan họ xứ kinh bắc xưa và nay" thuộc chuyên ngành Nhân học. Danh mục: Văn Hóa Học.
Luận án "Luận án tiến sĩ tục chơi quan họ xứ kinh bắc xưa và nay" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án tiến sĩ tục chơi quan họ xứ kinh bắc xưa và nay" có 229 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ tục chơi quan họ xứ kinh bắc xưa và nay" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.