Tổng quan về luận án

Nghiên cứu "Múa Khmer Nam Bộ: truyền thống và biến đổi" của nghiên cứu sinh Sơn Cao Thắng, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Phan Thị Thu Hiền (Trường Đại học Trà Vinh, 2023, chuyên ngành Văn hóa học, Mã ngành: 9229040), là công trình tiên phong tiếp cận nghệ thuật múa của tộc người Khmer tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) dưới góc độ Văn hóa học nghệ thuật liên ngành. Trong bối cảnh cộng đồng hơn 1,3 triệu người Khmer Nam Bộ đang trải qua những chuyển dịch cấu trúc sâu sắc dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, di sản nghệ thuật múa đứng trước thách thức sống còn giữa bảo tồn nguyên bản và tiếp biến đương đại.

Khoảng trống học thuật (Research Gap) then chốt mà luận án giải quyết là sự thiếu vắng các công trình phân tích toàn diện nghệ thuật múa Khmer ở tính chỉnh thể động: kết hợp đồng thời trục lịch đại (truyền thống) và trục đồng đại (biến đổi hiện nay). Các nghiên cứu trước đây của học giả trong và ngoài nước phần lớn tiếp cận từ góc độ Nghệ thuật học thuần túy (Lê Ngọc Canh, 1997, 2013), Lý luận và Lịch sử Sân khấu (Lâm Vĩnh Phương, 2014; Trần Thị Lan Hương, 2017), hoặc khảo cứu dân tộc học địa phương (Huỳnh Ngọc Trảng, 1987; Trần Minh Thương, 2016). Chưa có công trình nào giải mã sâu sắc hệ thống ngôn ngữ cử chỉ, biểu tượng động tác gắn với hệ sinh thái nông nghiệp lúa nước và thế ứng xử văn hóa tộc người trong việc kiến tạo các dạng thức văn hóa mới.

Luận án tập trung giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:

  1. Múa Khmer Nam Bộ truyền thống mang những đặc điểm, cấu trúc ngôn ngữ và giá trị văn hóa tiêu biểu nào trong không gian thực hành phum sóc?
  2. Dưới tác động của hiện đại hóa và giao lưu tiếp biến, múa Khmer Nam Bộ hiện nay đang diễn ra những biến đổi cụ thể nào về hình thức, nội dung, không gian trình diễn và hệ giá trị?

Tương ứng với hai giả thuyết khoa học:

  • Giả thuyết 1: Quá trình thích ứng với sinh thái nông nghiệp lúa nước và tín ngưỡng bản địa đã định hình nên nghệ thuật múa Khmer Nam Bộ mang đậm bản sắc văn hóa nông nghiệp, trong đó đặc trưng biểu cảm khu biệt hóa tập trung vào hệ thống động tác tay và sự kết nối trực tiếp của bàn chân trần với đất mẹ.
  • Giả thuyết 2: Quá trình hiện đại hóa không hòa tan hay triệt tiêu hoàn toàn múa cổ truyền; bằng cơ chế tự điều chỉnh và "thế ứng xử riêng", người Khmer Nam Bộ đã chủ động dung hợp các yếu tố mới để tái tạo những dạng thức thực hành văn hóa đương đại thích nghi với bối cảnh xã hội mới.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian văn hóa hai tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng – hai địa bàn tập trung mật độ dân cư và thiết chế chùa Khmer dày đặc nhất Nam Bộ, với khung thời gian khảo sát sâu từ năm 1975 đến năm 2023. Đóng góp đột phá của luận án được lượng hóa qua việc khảo tả, giải mã 12 điệu múa cơ bản (Kbach Moul-than), phân loại chi tiết hệ thống vai diễn (Neay-rông, Neang, Khỉ S-va, Chằn Yeak), thống kê toàn diện đội ngũ nghệ nhân với 06 Nghệ sĩ Ưu tú (NSƯT), 02 Nghệ nhân Ưu tú (NNƯT) và 13 Hội viên Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam tại địa bàn khảo sát.

Literature Review và Positioning

Tổng quan nghiên cứu quốc tế và trong nước cho thấy ba dòng nghiên cứu chính định vị nên bối cảnh học thuật của đề tài:

Dòng nghiên cứu nhân học và văn hóa Khmer: Các học giả Pháp như Louis Malleret (1959-1963) với công trình 4 tập "L’Archéologie du Delta du Mékong" đã đặt nền móng khảo cổ về nền văn minh Phù Nam - Óc Eo tại Ba Thê (An Giang). Nhà nhân học Pierre Rossion (1974) và Giáo sư Ruffié trên tạp chí Science et Vie (số 685) qua nghiên cứu huyết chủng học đã chỉ ra nguồn gốc bản địa cổ xưa của cư dân ĐBSCL. Tại Việt Nam, Mạc Đường (1991, tr. 15) đưa ra luận điểm lịch sử quan trọng: "Cho đến trước thế kỷ XVII, người Khmer là thành phần cư dân duy nhất tồn tại ở ĐBSCL. Họ sống khu biệt và không có mối quan hệ hành chính với bất cứ một quốc gia nào thời đó". Nhận định này làm sáng tỏ tính độc lập tương đối và bản sắc tự thân của văn hóa Khmer Nam Bộ.

Dòng nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn Khmer tại Campuchia: Các công trình quy mô của Pich Tum Kravel (1997, 2000, 2010) về sân khấu Dì-kê, Ba-săc, Khôl; Meach Pun (2007) về phong tục tập quán; Chap Pin và Peach Sol (1964) về 10 điệu múa dân gian (Robam Pracheaprey); Preap Chanmara (2009) về sân khấu Khôl chùa S-vai On-đet; cùng tài liệu chuẩn hóa 12 điệu múa cơ bản của Pruong Chean và cs. (2002) do Japan Foundation tài trợ. Các tác giả Campuchia đã hệ thống hóa nghệ thuật múa Cung đình (Royal Ballet) và múa dân gian chính quốc. Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu nhìn nhận múa trong khuôn mẫu cung đình được nhà vua bảo trợ, thiếu sự đối chiếu với bối cảnh cộng cư đa tộc người tại Nam Bộ.

Dòng nghiên cứu nghệ thuật múa và sân khấu Khmer Nam Bộ: Lê Ngọc Canh (2004, 2013) có đóng góp lớn trong việc hệ thống hóa đặc trưng nghệ thuật múa truyền thống và âm nhạc đi kèm; Huỳnh Ngọc Trảng (1987), Sơn Phước Hoan (1998), Trường Lưu (1993, 2001) làm rõ bối cảnh lễ hội phum sóc; Sang Sết (2020) khảo cứu kịch bản Dù-kê; Lâm Vĩnh Phương (2014) và Trần Thị Lan Hương (2017) khảo sát múa Rô-băm và Dù-kê tại Sóc Trăng.

Tranh luận học thuật và định vị của Luận án: Tồn tại cuộc tranh luận giữa hai quan điểm: (1) Quan điểm coi múa Khmer Nam Bộ chỉ là một nhánh ngoại vi phái sinh từ nghệ thuật Cung đình Angkor của Campuchia; và (2) Quan điểm của luận án khẳng định múa Khmer Nam Bộ là một cấu trúc văn hóa độc lập, mang tính dân gian hóa sâu sắc. Luận án tiến hành so sánh đối chiếu trực tiếp với 2 trường hợp quốc tế:

  • So sánh với múa Cung đình Campuchia (Pich Tum Kravel, 2010): Trong khi múa Chằn (Yeak) Campuchia mang tính ước lệ vương giả, động tác trau chuốt, thì múa Chằn Rô-băm Khmer Nam Bộ bộc lộ trực tiếp sự hung tợn, bộc trực, phản ánh tâm thức đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên hoang vu buổi đầu khai phá vùng đất trũng Tây Nam Bộ.
  • So sánh với vũ kịch truyền thống Ấn Độ (Natyashastra) và điệu múa gõ chày Kôs Ong-re của UNESCO (2002): Luận án chứng minh người Khmer Nam Bộ đã bản địa hóa các mô-típ sử thi Ramayana (Reamker) và vũ điệu Apsara thành các thực hành gắn liền với vòng đời con người và chu kỳ mùa vụ nông nghiệp lúa nước.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án kế thừa và phát triển Thuyết Văn hóa học Nghệ thuật của Phan Thị Thu Hiền (2006, 2016), chuyển dịch trọng tâm từ nghiên cứu hình thức nghệ thuật học thuần túy (Formalism) sang giải mã nghệ thuật như một thiết chế văn hóa tương tác đa chiều với cấu trúc xã hội. Công trình đóng góp cụ thể vào:

  1. Mở rộng Thuyết Cấu trúc - Chức năng của A.R. Radcliffe-Brown (1881-1955) và Thuyết Chức năng Tâm lý của Bronislaw Malinowski (1884-1942): Luận án chứng minh múa Khmer không chỉ thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ cá nhân hay giải tỏa xung năng tâm lý, mà đóng vai trò là cơ chế duy trì trạng thái cân bằng xã hội, tái tạo trật tự biểu trưng và củng cố khối đoàn kết liên phum sóc thông qua các nghi lễ thiêng (Rom Chui-chai, Rom Buông-suông, Rom A-răk).
  2. Vận dụng Thuyết Tương đối Văn hóa và Tính đặc thù lịch sử của Franz Boas: Khẳng định tính dị biệt và giá trị tự thân của múa Khmer Nam Bộ trong tương quan với múa Khmer Angkor; không thể dùng thước đo nghệ thuật cung đình kinh viện để áp đặt đánh giá cho một hình thái nghệ thuật đã được dân gian hóa và tiếp biến qua môi trường cộng cư với người Kinh và người Hoa.
  3. Bổ sung luận điểm về "Thế ứng xử văn hóa" trong biến đổi: Chứng minh sự biến đổi văn hóa không diễn ra theo đường thẳng giản đơn (đồng hóa hay tiêu vong) mà vận động theo cơ chế chọn lọc thích nghi: giữ vững cốt lõi nhận thức luận (triết lý Chân - Thiện - Mỹ, tính trọng nữ, hài hòa âm dương) trong khi linh hoạt tái cấu trúc hình thức biểu đạt (sân khấu hóa, đại chúng hóa).

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp đa tầng ba trụ cột lý thuyết: Hệ thống Văn hóa học (Leslie White, A.A. Radughin), Mỹ học Khai sáng (Denis Diderot về mối quan hệ giữa cái Thật - Tốt - Đẹp) và Nhân học nghệ thuật (Đinh Hồng Hải, 2020).

Mô hình phân tích vận hành dựa trên ma trận tương tác giữa ba bình diện:

  • Bình diện 1: Thể loại múa (Múa Cổ điển Rô-băm, Múa Dân gian Rom Vong/Rom Kbach/Saravan, Múa Sân khấu Kịch hát Dù-kê/Dì-kê).
  • Bình diện 2: Cấu trúc hình thái biểu đạt (Nội dung - Hình thức; Ngôn ngữ - Động tác cử chỉ; Âm nhạc - Nhạc khí dàn nhạc Ngũ âm Pin-peat/A-răk/Mhory).
  • Bình diện 3: Trục vận động văn hóa (Truyền thống bản nguyên $\leftrightarrow$ Động lực biến đổi $\leftrightarrow$ Dạng thức thực hành đương đại).

Phạm vi giới hạn (Boundary Conditions): Khung phân tích tập trung khảo sát cộng đồng Khmer cư trú tại vùng bán đảo Cà Mau và hạ lưu sông Tiền, sông Hậu; không đồng nhất hóa với các nhóm cư dân Môn-Khmer ở vùng miền núi Tây Nguyên hay Đông Bắc Campuchia.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng thế giới quan hiện thực phê phán (Critical Realism) kết hợp phương pháp luận diễn giải (Interpretivism). Thiết kế nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp định tính chuyên sâu (Qualitative Mixed-Methods) kết hợp với kỹ thuật thống kê mô tả hiện trạng nghệ thuật.

Thiết kế đa cấp độ (Multi-level Design) được triển khai qua 3 tầng phân tích:

  • Tầng vi mô (Micro-level): Phân tích vi cử động (micro-movements) của các nghệ sĩ, nghệ nhân; giải mã 12 thế tay cơ bản (Kbach tay), độ uốn cong của ngón tay (Kbach Chvear), độ chùng gối (Châng-kâng) và tư thế bàn chân trần tiếp đất.
  • Tầng trung mô (Meso-level): Phân tích thiết chế đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp (Đoàn Khmer Ánh Bình Minh - Trà Vinh, Đoàn Nghệ thuật Khmer Sóc Trăng), các đội Rô-băm tư nhân (Rô-băm Giồng Lức, Reaksmay Rô-băm Bưng Chông) và không gian sinh hoạt lễ hội tại các ngôi chùa Phật giáo Nam tông.
  • Tầng vĩ mô (Macro-level): Đánh giá chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của Nhà nước, tác động của kinh tế thị trường, đô thị hóa và giao lưu văn hóa quốc tế.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình nghiên cứu thực địa dân tộc chí (Ethnographic Fieldwork) được thực hiện nghiêm cẩn qua nhiều đợt điền dã từ 2014 đến 2022 tại Trà Vinh (Tp. Trà Vinh, Châu Thành, Trà Cú, Cầu Kè, Duyên Hải) và Sóc Trăng (Tp. Sóc Trăng, Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu). Nghiên cứu sinh trực tiếp tham gia, quan sát tham dự (Participant Observation) với tư cách là người trong cuộc (người con dân tộc Khmer, biên đạo múa và giảng viên ngành Biểu diễn Nghệ thuật Khmer tại Trường Đại học Trà Vinh).

Giao thức thu thập dữ liệu áp dụng kỹ thuật Tam giác đạc (Triangulation):

  • Tam giác đạc dữ liệu (Data Triangulation): Kết hợp tư liệu văn bản cổ (Reamker, truyện cổ tích Dù-kê), biên bản phỏng vấn sâu, hình ảnh tư liệu điền dã và hồ sơ thành tích hội diễn chuyên nghiệp toàn quốc từ 1980 đến 2020.
  • Tam giác đạc người cung cấp thông tin (Investigator/Informant Triangulation): Phỏng vấn sâu 15 chuyên gia đầu ngành, nghệ nhân và nhà quản lý, tiêu biểu như: NSƯT Thạch Chân (nguyên Phó Giám đốc Sở VHTT Trà Vinh), NSƯT Thạch Sết / Sang Sết (nguyên Phó Giám đốc Đài PT-TH Trà Vinh), NNƯT Thạch Sang (Trưởng đội Rô-băm Giồng Lức), NSƯT Thạch Thị Thane, NSƯT Thạch Thị Văn Na, Nhà nghiên cứu Ngô Khị (Sóc Trăng), A-char Trần Lài Hô, nghệ nhân mặt nạ chằn Lý Chhênh, biên đạo múa Kim Thị Chanh Tha, diễn viên Thạch Thị Ni Ta và Lý Thương.
  • Độ tin cậy (Reliability & Validity): Sử dụng phương pháp hồi cố lịch sử (Oral History) đối chiếu chéo giữa lời kể nhân chứng với biên niên sử các đoàn nghệ thuật để đảm bảo tính xác thực lịch sử tuyệt đối.

Data và phân tích

Dữ liệu định tính được phân tích thông qua kỹ thuật mã hóa chuyên đề (Thematic Analysis) và phân tích ký hiệu học hình thể (Semiotic Analysis of Body Movement). Dữ liệu múa được chuẩn hóa qua các bảng phân loại hình thái múa dân gian, bảng thống kê tên gọi Rô-băm, bảng mô tả động tác tay/chân của các tuyến nhân vật chính diện và phản diện.

Các thông số thống kê thực chứng then chốt:

  • Cơ cấu giải thưởng đỉnh cao khẳng định chất lượng nghệ thuật: Đoàn Nghệ thuật Khmer Ánh Bình Minh đoạt Huy chương Vàng toàn quốc các năm 1980 (với 4 tiết mục xuất sắc: "Vui mùa sản xuất", "Sà Neang", "Gõ gáo", "Tep Mô-nô-rum"), năm 1985, năm 1995 (kịch múa "Nàng A-ma-ra"), năm 1999 ("Vui mùa Thốt Nốt", "Hoa sen buổi bình minh"); Huân chương Lao động hạng Ba (1995, 1997); Giải thưởng quốc tế Hoa Hồng Bạc tại Liên hoan Ương ca Bắc Kinh năm 1993; Danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (năm 2000).
  • Dữ liệu định lượng nhân lực di sản: Tính đến ngày 25/5/2021, thống kê tại địa bàn nghiên cứu ghi nhận 06 Nghệ sĩ Ưu tú, 02 Nghệ nhân Ưu tú và 13 Hội viên Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam chuyên trách nghệ thuật múa Khmer Nam Bộ.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Phát hiện 1: Bản địa hóa sâu sắc nguồn gốc lao động sản xuất và tính phủ định nguồn gốc cung đình thần thoại thuần túy. Khác với quan niệm múa Khmer bắt nguồn từ cõi thượng giới của các tiên nữ Apsara, luận án chứng minh giá trị cốt lõi của múa Khmer Nam Bộ khởi sinh từ thực tiễn canh tác lúa nước và đấu tranh sinh tồn. Đúng như khẳng định của Nhà nghiên cứu Ngô Khị trong trích lục phỏng vấn của luận án: "Giá trị nghệ thuật múa Khmer Nam Bộ chính là từ lao động sản xuất, thực tế của họ mà ra, chứ họ không dựa vào huyền bí, thần thoại gì cả... Tự nhân dân lao động họ suy nghĩ, họ sáng tạo ra. Do đó, giá trị đích thực nhất chính từ lao động". Khẳng định này cộng hưởng với định nghĩa mỹ học kinh điển của Lâm Tô Lộc (1979, tr. 8): "Múa là một nghệ thuật phản ánh cuộc sống bằng hình thức đặc biệt của nó. Cơ sở của múa là những điệu bộ, động tác có quan hệ đến quá trình lao động, sự quan sát thiên nhiên và những ấn tượng có được từ thế giới xung quanh. Những động tác đó được cách điệu hóa nghệ thuật".

Phát hiện 2: Cấu trúc biểu tượng triết lý "Trọng nữ" và "Hài hòa Âm Dương". Luận án phát hiện nguyên tắc bất di bất dịch trong múa cổ điển truyền thống: tất cả các vai diễn nam (Neay-rông), nữ (Neang), khỉ (S-va) hay chằn (Yeak) nguyên bản đều do vũ công nữ đảm nhiệm. Hình tượng vũ nữ Apsara sinh ra từ bọt nước biển sữa (Tưk Om-rith) trong thần thoại Samudra Manthan biểu trưng cho sự thanh khiết, khởi nguyên của sự sống. Bàn tay múa hướng lên trời đại diện cho Dương/Chồi non, bàn tay hạ xuống úp đất đại diện cho Âm/Rễ cây, phản ánh triết lý vũ trụ luận nông nghiệp Đông Nam Á.

Phát hiện 3: Tiếp biến văn hóa đa tộc người tạo nên sân khấu kịch hát Dù-kê độc bản. Luận án chứng minh vũ đạo trong sân khấu kịch hát Dù-kê (hình thành đầu thế kỷ XX tại Trà Vinh và Sóc Trăng) là sản phẩm dung hợp đỉnh cao giữa ngôn ngữ múa cổ điển Khmer (Kbach Huôn) với thế võ, quyền thuật truyền thống của người Hoa (Triều Châu) và nghệ thuật cải lương Nam Bộ của người Kinh.

Phát hiện 4: Nhận diện hiện tượng đứt gãy không gian thiêng và sự biến dạng hình thái. Nghiên cứu chỉ ra sự mai một nghiêm trọng của các hình thức múa nghi lễ: các điệu múa chữa bệnh Rom A-răk, múa cúng tổ Rom Chui-chai, Rom Buông-suông gần như biến mất hoàn toàn trong đời sống thực tế; các nghi thức múa mở cổng rào (Rom Bơk Rô-bon) và múa mở nắp mâm trầu (Rom Bơt Bai-sây) trong đám cưới truyền thống bị bãi bỏ. Bên cạnh đó là sự biến dạng thẩm mỹ: vũ công mang giày múa thay vì bấm ngón chân trần trên nền đất; diễn viên cười hở răng phá vỡ quy tắc "cười mỉm không lộ răng" thanh tao của múa cổ điển; phông màn vẽ tay ước lệ có chiều sâu bị thay thế bằng màn hình LED phẳng gây cảm giác nhân tạo, xơ cứng.

Implications đa chiều

  • Về lý thuyết: Cung cấp luận cứ khoa học xác lập chuyên ngành Văn hóa học Nghệ thuật tại Việt Nam, đóng góp một mô hình mẫu về giải mã di sản diễn xướng tộc người thiểu số từ lý thuyết cấu trúc - chức năng và tiếp biến văn hóa.
  • Về phương pháp luận: Định hình quy trình điền dã giải mã ngôn ngữ múa hình thể (Dance Notation & Semiotics) kết hợp phỏng vấn sâu người thực hành di sản, có thể nhân rộng nghiên cứu cho múa Chăm, múa dân gian Thái, Tày, Mường.
  • Về thực tiễn bảo tồn: Đề xuất mô hình "bảo tồn sống" (Living Heritage Conservation): đưa múa truyền thống vào không gian sinh hoạt phum sóc tại chùa Khmer, tích hợp 12 điệu múa cơ bản vào chương trình đào tạo đại học và cao đẳng nghệ thuật; thành lập các câu lạc bộ múa thanh thiếu niên thay vì chỉ dựa vào biên chế các đoàn nghệ thuật nhà nước.
  • Về chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng trong việc xây dựng hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cho nghệ thuật Rô-băm và Dù-kê; kiến nghị cơ chế đãi ngộ đặc thù cho các nghệ nhân dân gian chưa thuộc biên chế công lập.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn nhìn nhận các giới hạn học thuật:

  1. Giới hạn địa bàn khảo sát: Tập trung chính vào vùng hạ lưu sông Cửu Long (Trà Vinh, Sóc Trăng); chưa mở rộng khảo sát tương xứng tại vùng Thất Sơn - An Giang, Kiên Giang và Bình Phước – nơi cộng đồng Khmer có môi trường sinh thái đồi núi và giao lưu biên giới đặc thù.
  2. Thiếu vắng kỹ thuật ghi âm - ghi hình động học chuyển động 3D (Motion Capture): Việc phân tích góc độ giải phẫu cơ thể của các thế tay, chân múa truyền thống chủ yếu dựa trên quan sát mô tả và hình ảnh tĩnh 2D, chưa ứng dụng công nghệ phân tích động học kỹ thuật số.
  3. Độ sâu phân tích tâm lý tiếp nhận của thế hệ Gen Z Khmer: Chưa khảo sát định lượng diện rộng về thái độ và thị hiếu tiêu dùng văn hóa nghệ thuật của giới trẻ Khmer trong kỷ nguyên bùng nổ mạng xã hội (TikTok, YouTube).

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):

  • Hướng 1: Mở rộng nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia (Transnational comparative study) giữa múa Khmer Nam Bộ với múa dân gian các tỉnh biên giới Campuchia (Svay Rieng, Takeo) và múa Nam Á (Thái Lan, Lào).
  • Hướng 2: Số hóa 3D toàn bộ kho tàng động tác và trang phục, mặt nạ múa Rô-băm phục vụ bảo tồn số và công nghiệp văn hóa thực tế ảo (VR/AR).
  • Hướng 3: Nghiên cứu kinh tế văn hóa di sản: mô hình thương mại hóa bền vững múa Khmer gắn với chuỗi giá trị du lịch văn hóa tâm linh tại ĐBSCL.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án mang lại tác động học thuật và xã hội sâu rộng:

  • Ảnh hưởng học thuật: Trở thành tài liệu tham khảo chuẩn mực trong đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học và Nghệ thuật học; dự báo tạo lập nguồn trích dẫn nền tảng cho các nghiên cứu về nhân học biểu diễn (Anthropology of Performance) tại Đông Nam Á.
  • Chuyển đổi thực hành biểu diễn: Cung cấp khung đối sánh chuẩn xác giúp các biên đạo múa tại các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp (Ánh Bình Minh, Đoàn Nghệ thuật Khmer Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang) tránh việc cải biên tùy tiện làm lai căng, biến dạng di sản khi tham gia các kỳ hội diễn toàn quốc.
  • Tác động chính sách xã hội: Thúc đẩy chính quyền các tỉnh Tây Nam Bộ ban hành chính sách hỗ trợ kinh phí trực tiếp cho các gánh Rô-băm tư nhân duy nhất còn sót lại (như Đội Rô-băm Giồng Lức của NNƯT Thạch Sang), cứu vãn nguy cơ thất truyền của di sản trước khi các nghệ nhân cao tuổi qua đời.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh & Giới học giả: Tiếp cận một khung lý thuyết liên ngành hoàn chỉnh, tường minh về phương pháp luận điền dã nghệ thuật học hình thể và nguồn tư liệu sơ cấp chuẩn xác phiên âm tiếng Khmer.
  • Giảng viên & Sinh viên chuyên ngành Nghệ thuật: Tài liệu giáo trình chuẩn hóa hệ thống 12 điệu múa cơ bản và các trích đoạn kinh điển (Moni Mê-kha-la & Ream Ey Sô, Kịch múa Nàng A-ma-ra) phục vụ giảng dạy tại Đại học Trà Vinh và các trường văn hóa nghệ thuật khu vực ĐBSCL.
  • Nhà quản lý văn hóa & Biên đạo múa: Căn cứ khoa học chuẩn xác để thẩm định, định hướng sáng tác, phân định ranh giới giữa bảo tồn giá trị truyền thống cốt lõi và phát triển nghệ thuật đương đại.
  • Cộng đồng người Khmer Nam Bộ: Được tôn vinh bản sắc văn hóa tộc người, nâng cao ý thức tự hào dân tộc và vị thế chủ thể sáng tạo văn hóa trong khối đại đoàn kết 54 dân tộc Việt Nam.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Trả lời: Đóng góp độc đáo nhất là việc vận dụng và phát triển thành công Thuyết Văn hóa học Nghệ thuật của Phan Thị Thu Hiền (2006, 2016) để giải mã múa Khmer Nam Bộ như một hệ thống cấu trúc - chức năng thích ứng văn hóa. Luận án đã bác bỏ quan điểm phiến diện coi múa Khmer Nam Bộ là bản sao thu nhỏ của múa cung đình Angkor, chứng minh rằng quá trình dân gian hóa gắn với môi trường sinh thái nông nghiệp lúa nước và bối cảnh cộng cư đa tộc người (Việt - Khmer - Hoa) đã kiến tạo nên một thực thể văn hóa độc lập, mang tính dung hợp và phản ánh căn tính tộc người sâu sắc.

2. Đổi mới phương pháp luận thể hiện như thế nào khi so sánh với các công trình đi trước? Trả lời: So với các nghiên cứu thuần túy mô tả hình thái của Lê Ngọc Canh (1997, 2013) hay phân tích kịch bản sân khấu của Sang Sết (2020), luận án tạo đột phá phương pháp luận bằng cách kết hợp vị thế nhà nghiên cứu "người trong cuộc" (Emic approach) với kỹ thuật tam giác đạc dân tộc chí. Nghiên cứu sinh trực tiếp tham gia trình diễn, sử dụng thành thạo tiếng Khmer để phỏng vấn sâu 15 nghệ nhân lão thành và đối sánh trực tiếp dữ liệu thực địa với các bộ tư liệu gốc của Campuchia (Pich Tum Kravel, Pruong Chean) và tư liệu quốc tế của UNESCO.

3. Phát hiện nào gây bất ngờ nhất về mặt dữ liệu thực chứng? Trả lời: Phát hiện bất ngờ nhất là sự đứt gãy nghiêm trọng giữa tri thức văn hóa múa cổ điển và thực hành của diễn viên trẻ hiện nay: có tới hơn 80% các nghi thức múa thiêng gắn liền với nghi lễ vòng đời (đám cưới, chữa bệnh) đã biến mất trong đời sống thường nhật; đồng thời xuất hiện sự "lai căng vô thức" như việc đưa giày múa vào múa dân gian, phá vỡ nguyên lý kết nối chân trần với đất mẹ – một đặc trưng bản thể học tối thượng của cư dân nông nghiệp lúa nước Nam Bộ.

4. Luận án có cung cấp giao thức tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không? Trả lời: Luận án cung cấp tường minh toàn bộ giao thức nghiên cứu qua hệ thống 8 phụ lục chi tiết (trên 70 trang), bao gồm: Bảng câu hỏi phỏng vấn sâu bán cấu trúc, danh mục nhân chứng lịch sử có thông tin liên lạc xác thực, bảng ký âm - giải phẫu động tác 12 điệu múa cơ bản, hệ thống phân loại mặt nạ/mão/trang phục Rô-băm, và nhật ký điền dã có tọa độ không gian chính xác tại Trà Vinh và Sóc Trăng.

5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình ra sao? Trả lời: Lộ trình tập trung vào 3 mũi nhọn: (1) Xây dựng Ngân hàng dữ liệu số di sản múa Khmer Nam Bộ ứng dụng công nghệ quét chuyển động 3D; (2) Xuất bản bộ giáo trình chuẩn hóa chuyển ngữ song ngữ Việt - Khmer về kỹ thuật múa Rô-băm và Dù-kê; (3) Triển khai dự án phục dựng hoàn chỉnh 3 điệu múa nghi lễ cổ đã thất truyền (Rom Chui-chai, Rom Hum-rông, Rom Buông-suông) tại không gian văn hóa chùa Khmer ĐBSCL.

Kết luận

Luận án Tiến sĩ "Múa Khmer Nam Bộ: truyền thống và biến đổi" của tác giả Sơn Cao Thắng xác lập 5 đóng góp học thuật cốt lõi:

  1. Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận Văn hóa học nghệ thuật, phân loại chuẩn xác 3 thể loại múa Khmer Nam Bộ (múa cổ điển Rô-băm, múa dân gian, múa sân khấu Dù-kê/Dì-kê).
  2. Giải mã cấu trúc ngôn ngữ hình thể và biểu tượng động tác, chứng minh nguồn gốc lao động sản xuất lúa nước và triết lý trọng nữ bản địa của tộc người.
  3. Đánh giá khách quan diện mạo biến đổi của múa hiện nay ở cả hai mặt tích cực (nâng tầm nghệ thuật chuyên nghiệp, đoạt nhiều giải thưởng quốc gia và quốc tế) và tiêu cực (mai một nghi lễ thiêng, biến dạng thẩm mỹ truyền thống).
  4. Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực chứng vô giá về nghệ nhân, nghệ sĩ ưu tú, nhạc khí và tích truyện kinh điển của văn hóa Khmer ĐBSCL.
  5. Đề xuất hệ giải pháp bảo tồn sống khả thi, gắn kết giữa bảo tồn di sản phum sóc với đào tạo học đường và phát triển du lịch văn hóa bền vững.

Công trình không chỉ mở ra hướng tiếp cận liên ngành mới cho ngành Văn hóa học Việt Nam mà còn là di sản học thuật chuẩn mực, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trong dòng chảy hội nhập quốc tế.