Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam giai đoạn 1986 đến nay - Luận án tiến sĩ Quản lý văn hóa
"Nghiên cứu thị trường hội họa Việt Nam (1986-nay), phân tích xu hướng thị trường và các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị và giá bán của tác phẩm trong giai đoạn này."
Năm xuất bản
Số trang
238
Thời gian đọc
36 phút
Lượt xem
1
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam từ 1986
- Số trang:
- 238 trang
- Chuyên ngành:
- Quản lý văn hóa
- Tác giả:
- Đỗ Quốc Việt
- Năm:
- 2021
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam từ 1986
Thị trường mỹ thuật Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn biến chuyển quan trọng. Mốc khởi nguồn bắt đầu từ năm 1925 với trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Giai đoạn chiến tranh khiến các hoạt động giao thương mỹ thuật bị gián đoạn kéo dài. Bước sang năm 1986, chính sách Đổi Mới mở ra bước ngoặt quyết định. Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam dần tái lập và phát triển mạnh mẽ. Các hoạt động trưng bày, giao lưu quốc tế diễn ra sôi nổi trên cả nước. Hội họa thời kỳ Đổi Mới ghi nhận sự bùng nổ về số lượng giao dịch và sự quan tâm của công chúng. Nền kinh tế mở cửa thúc đẩy mỹ thuật trở thành một ngành kinh tế văn hóa giàu tiềm năng.
1.1. Bối cảnh lịch sử và tiền đề mỹ thuật Đông Dương
Mỹ thuật Việt Nam hiện đại hình thành từ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1925. Nơi đây đào tạo nên các thế hệ danh họa tiên phong của dân tộc. Hoạt động sáng tác và chuyển nhượng tác phẩm bắt đầu hình thành từ giai đoạn này. Các tác phẩm thời kỳ này tạo nên thương hiệu và chuẩn mực nghệ thuật vững chắc. Tuy nhiên, giai đoạn chiến tranh sau đó đã ngắt quãng dòng chảy thương mại tự do. Hoạt động mua bán tranh gần như biến mất trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Tác phẩm mỹ thuật thời kỳ đó phục vụ mục đích tuyên truyền và cổ động cách mạng. Tiền đề lịch sử này tạo nền móng cho sự hồi sinh thị trường sau năm 1986.
1.2. Bước chuyển mình của hội họa thời kỳ Đổi Mới
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đặt nền móng cho công cuộc Đổi Mới toàn diện. Lĩnh vực văn hóa nghệ thuật đón nhận luồng gió tự do sáng tác mới. Hội họa thời kỳ Đổi Mới nhanh chóng khởi sắc với hàng loạt triển lãm trong và ngoài nước. Các nghệ sĩ chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy bao cấp sang tư duy kinh tế thị trường. Khách quốc tế và kiều bào bắt đầu tìm kiếm, sưu tầm tranh Việt Nam với số lượng lớn. Nhu cầu thưởng thức nghệ thuật trong nước cũng từng bước được đánh thức. Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam chuyển mình từ trạng thái đóng kín sang hội nhập quốc tế sôi động.
II. Cung cầu trong thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam
Mối quan hệ cung cầu quyết định sự vận động của thị trường hội họa đương đại Việt Nam. Lực lượng sáng tác ngày càng đông đảo với phong cách đa dạng và độc đáo. Họa sĩ đóng vai trò là chủ thể nguồn cung sản phẩm nghệ thuật. Nhu cầu tiêu thụ đến từ tầng lớp trung lưu mới nổi và người nước ngoài. Kinh tế học nghệ thuật giải thích rõ sự chuyển dịch giá trị thẩm mỹ thành giá trị tài chính. Sự mất cân đối cung cầu từng gây ra nhiều đợt sốt giá ảo. Việc hiểu rõ quy luật cung cầu giúp thiết lập nền tảng giao dịch minh bạch, bền vững.
2.1. Người nghệ sĩ và nguồn cung tác phẩm mỹ thuật
Họa sĩ là nhân tố trung tâm tạo ra nguồn cung trong thị trường mỹ thuật Việt Nam. Cơ chế thị trường giải phóng tiềm năng sáng tạo của người làm nghệ thuật. Họa sĩ không còn phụ thuộc vào trợ cấp nhà nước để duy trì hoạt động nghề nghiệp. Họ chủ động tìm kiếm ngôn ngữ hội họa mới và xây dựng phong cách cá nhân. Nguồn cung tác phẩm phong phú từ chất liệu sơn mài, lụa, sơn dầu đến nghệ thuật ý niệm. Nhiều họa sĩ tự tiếp thị tác phẩm và quản lý thương hiệu cá nhân hiệu quả. Sự cạnh tranh đòi hỏi mỗi nghệ sĩ không ngừng đổi mới chất lượng nghệ thuật.
2.2. Nhà sưu tập nghệ thuật và xu hướng tiêu dùng
Nhà sưu tập nghệ thuật đóng vai trò động lực chính thúc đẩy sức mua trên thị trường. Thập niên 1990 chứng kiến sự áp đảo của các nhà sưu tập quốc tế. Hiện nay, giới sưu tập nội địa đang gia tăng nhanh chóng về số lượng và tiềm lực tài chính. Động cơ mua tranh chuyển dịch từ trang trí đơn thuần sang tích sản và đầu tư tài chính. Tầng lớp thượng lưu xem việc sở hữu hội họa đương đại Việt Nam là biểu tượng đẳng cấp. Thị hiếu người tiêu thụ ngày càng tinh tế, đòi hỏi tác phẩm có hồ sơ xuất xứ minh bạch và giá trị nghệ thuật cao.
III. Kênh phân phối thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam
Hệ thống kênh phân phối là cầu nối thiết yếu giữa nghệ sĩ và người mua. Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam phát triển nhiều hình thức trung gian đa dạng. Các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Hội An quy tụ nhiều cơ sở giao dịch. Phòng tranh gallery mỹ thuật xuất hiện dày đặc để phục vụ du khách và người yêu nghệ thuật. Hoạt động phân phối tranh hiện đại ứng dụng cả nền tảng số và sàn thương mại trực tuyến. Sự chuyên nghiệp hóa mạng lưới phân phối nâng cao uy tín cho mỹ thuật Việt Nam trên trường quốc tế.
3.1. Vai trò của phòng tranh gallery mỹ thuật
Phòng tranh gallery mỹ thuật giữ vai trò trụ cột trong việc trưng bày và tiếp thị tác phẩm. Từ sau năm 1986, số lượng gallery tư nhân bùng nổ tại các trung tâm văn hóa lớn. Gallery chuyên nghiệp hỗ trợ họa sĩ tổ chức triển lãm cá nhân và quảng bá tên tuổi. Họ thiết lập mạng lưới khách hàng trung thành và định hướng thị hiếu thẩm mỹ công chúng. Tuy nhiên, nhiều phòng tranh thương mại vẫn hoạt động theo dạng cửa hàng lưu niệm đơn thuần. Sự thiếu vắng các hợp đồng đại diện độc quyền dài hạn làm giảm tính chuyên nghiệp của hệ thống gallery trong nước.
3.2. Sàn đấu giá nghệ thuật và giám tuyển nghệ thuật
Sàn đấu giá nghệ thuật đem lại cơ chế minh bạch hóa giá cả cho thị trường thứ cấp. Các nhà đấu giá quốc tế liên tục thiết lập kỷ lục giá cho tranh Việt Nam. Gần đây, một số sàn đấu giá trong nước bắt đầu ra đời và vận hành chuyên nghiệp. Song song đó, giám tuyển nghệ thuật trở thành vị trí then chốt định hình xu hướng triển lãm. Giám tuyển đóng vai trò nghiên cứu, tuyển chọn và xây dựng câu chuyện học thuật cho tác phẩm. Sự kết hợp giữa sàn đấu giá và giám tuyển giúp nâng tầm giá trị hội họa Việt Nam.
IV. Vấn đề bản quyền thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam
Bản quyền và tính xác thực là yếu tố sống còn của thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam. Nền mỹ thuật từng chịu nhiều tổn hại nghiêm trọng do tranh nhái và tranh chép lộng hành. Vấn nạn này làm xói mòn niềm tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tranh giả và bản quyền mỹ thuật trở thành thách thức lớn nhất đối với sự phát triển bền vững. Khung pháp lý sở hữu trí tuệ đã được ban hành nhưng khâu thực thi còn nhiều lỗ hổng. Thị trường đòi hỏi các biện pháp kiểm định khoa học nghiêm ngặt để bảo vệ quyền lợi nghệ sĩ.
4.1. Thực trạng tranh giả và bản quyền mỹ thuật
Tranh giả và bản quyền mỹ thuật là vấn nạn nhức nhối kéo dài nhiều thập kỷ qua. Việc sao chép tranh của các bậc thầy Đông Dương diễn ra công khai tại nhiều tuyến phố du lịch. Tình trạng vi phạm bản quyền tác giả xuất hiện tràn lan trên cả không gian mạng. Nhiều tác phẩm nghi vấn tranh giả thậm chí xuất hiện tại các bảo tàng và triển lãm lớn. Hành vi này phá hủy uy tín của nền hội họa và gây thiệt hại kinh tế nặng nề. Ý thức đăng ký xác lập quyền tác giả của nghệ sĩ Việt Nam vẫn còn hạn chế.
4.2. Cơ chế định giá tác phẩm hội họa và thẩm định
Định giá tác phẩm hội họa tại Việt Nam hiện nay còn thiếu các tiêu chí khoa học thống nhất. Kinh tế học nghệ thuật chỉ ra giá trị tác phẩm phụ thuộc vào danh tiếng, tính nguyên bản và độ hiếm. Tuy nhiên, tình trạng thổi giá và giao dịch ngầm làm sai lệch giá trị thị trường thực tế. Hoạt động thẩm định tranh chủ yếu dựa vào cảm tính cá nhân thay vì phương pháp giám định khoa học. Việc thiếu các hội đồng giám định độc lập có thẩm quyền pháp lý tạo ra khoảng trống quản lý lớn. Thị trường cần sớm chuẩn hóa quy trình định giá và cấp chứng thư xuất xứ tác phẩm.
V. Giải pháp cho thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam
Phát triển thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam đòi hỏi chiến lược đồng bộ từ nhiều phía. Nhà nước cần hoàn thiện thể chế và chính sách thuế ưu đãi cho hoạt động mỹ thuật. Các tổ chức nghề nghiệp phải nâng cao vai trò kết nối và bảo vệ quyền tác giả. Doanh nghiệp nghệ thuật cần đầu tư bài bản vào công nghệ thẩm định và lưu trữ dữ liệu. Công tác đào tạo nguồn nhân lực giám tuyển và quản lý nghệ thuật cần được chú trọng đặc biệt. Sự phát triển lành mạnh của thị trường góp phần đưa văn hóa Việt Nam vươn tầm thế giới.
5.1. Hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước giữ vai trò kiến tạo hành lang pháp lý minh bạch cho thị trường mỹ thuật. Cơ quan chức năng cần hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về bản quyền và sở hữu trí tuệ. Cần xây dựng chế tài xử phạt nghiêm minh đối với hành vi sản xuất và buôn bán tranh giả. Nhà nước nên ban hành chính sách ưu đãi thuế để khuyến khích các nhà sưu tập hiến tặng hoặc lưu giữ di sản. Việc thành lập trung tâm giám định mỹ thuật quốc gia có đủ trang thiết bị hiện đại là nhiệm vụ cấp bách. Cơ chế thông thoáng sẽ thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển mạnh mẽ.
5.2. Chuyên nghiệp hóa hệ sinh thái mỹ thuật
Hệ sinh thái mỹ thuật cần vận hành theo các chuẩn mực quốc tế tiên tiến. Các trường nghệ thuật cần bổ sung chương trình đào tạo về kinh tế học nghệ thuật và quản lý văn hóa. Phòng tranh gallery mỹ thuật và nhà đấu giá cần liên kết chặt chẽ để tạo dựng thị trường sơ cấp và thứ cấp vững mạnh. Cần ứng dụng công nghệ số như chứng chỉ xác thực số để minh bạch hóa lịch sử chuyển nhượng tranh. Đẩy mạnh hoạt động giáo dục thẩm mỹ công chúng nhằm mở rộng tệp người mua tiềm năng. Một hệ sinh thái chuyên nghiệp sẽ bảo vệ giá trị bền vững của nền hội họa.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (238 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bội LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam từ năm 1986 đến nay là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng. Các kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác. Hà Nội, ngày tháng năm 2021 Nghiên cứu sinh Đỗ Quốc Việt ii MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN .…………… i DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN ……………….…………… iii DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG.
iv MỞ ĐẦU. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN ………………………………. Tổng quan tình hình nghiên cứu ……………………………. Tổng quan về đối tượng nghiên cứu …………………………………….
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TÁC PHẨM HỘI HỌA ………. Người họa sĩ trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường …. Thị trường tác phẩm hội họa …………………………………………… 74 2. Người tiêu thụ tác phẩm hội họa.
Thành tố tác động thị trường tác phẩm hội họa: bản quyền ………. PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÁC PHẨM HỘI HỌA, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP .……… 173 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ ………. 177 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 189 iii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ BRIC Brasil, Nga (Russia), Ấn độ (Indian) và Trung quốc (China) CNVH Công nghiệp văn hóa CNXH Chủ nghĩa xã hội CĐMTĐD Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương H.
Hà Nội MTĐD Mỹ thuật Đông Dương MTNATL Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm MTVN Mỹ thuật Việt Nam NCPBMT Nghiên cứu phê bình mỹ thuật NCS Nghiên cứu sinh NTTH Nghệ thuật tạo hình Nxb Nhà xuất bản QLNN Quản lý nhà nước SHTT Sở hữu trí tuệ Tp.HCM Thành phố Hồ Chí Minh UBND Ủy ban Nhân dân USD Đô la Mỹ VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật VHTT Văn hóa - Thông tin VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch WIPO Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới XHCN Xã hội chủ nghĩa iv DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG Sơ đồ 1. Mô hình diễn biến thị trường tác phẩm hội họa trước năm 1986 tại Việt Nam Sơ đồ 1. Mô hình diễn biến thị trường tác phẩm hội họa từ sau năm 1986 đến nay tại Việt Nam Bảng 2. Đồ thị phân bố hội viên Hội MTVN ở Việt Nam Bảng 2.
Đồ thị diễn biến thay đổi về số lượng gallery/phòng tranh tại Hà Nội, Tp.HCM, phố cổ Hội An - Quảng Nam và các tỉnh thành phố khác trong phạm vi cả nước (các năm 1986, 1996, 2006, 2016 và 2020) Bảng 2. Đồ thị chỉ số thống kê việc đăng ký bản quyền tác phẩm mỹ thuật và mỹ thuật ứng dụng ở Việt Nam (3 năm từ 2006 - 2008 và 5 năm từ 2015 - 2019) 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thị trường tác phẩm hội họa là một hiện tượng xã hội văn hóa nhưng một khái niệm chung nhất có thể hiểu là nơi chuyển giao quyền sở hữu tác phẩm hội họa và các hoạt động dịch vụ có liên quan nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về tác phẩm hội họa theo các quy định pháp luật. Phát triển thị trường văn hóa nghệ thuật, trong đó có hội họa, là nhu cầu cấp thiết, đồng thời cũng là xu hướng tất yếu để góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế.
Hiện nay, Việt Nam xếp hạng 42 trên tổng số 131 nền kinh tế được đánh giá trong Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII - Global Innovation Index) nhưng Việt Nam vẫn chưa có một thị trường tác phẩm hội họa phát triển một cách lành mạnh, đúng với tiềm năng khi yếu tố bản quyền tác phẩm được đề cao và vai trò quản lý của cơ quan QLNN trong hoạch định cơ chế, chính sách được phát huy. Mùa thu 1925, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (École des Beaux - Arts de l’Indochine) khai giảng khóa đầu tiên với ba chuyên ngành: Hội họa, Điêu khắc và Kiến trúc, chuyên ngành Hội họa có nhiều người theo học nhất và từ đó đã xuất hiện những hoạt động sáng tác, trưng bày giới thiệu, bán, mua những tác phẩm tạo hình hiện đại (chủ yếu là hội họa). Tuy chưa thực sự đầy đủ nhưng vẫn có thể coi đó là tiền đề của thị trường tác phẩm mỹ thuật nói chung hay thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam nói riêng. Kể từ khi khai mở và kết thúc sau 20 năm tồn tại, cái tên “Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương” hay gọi tắt là “Mỹ thuật Đông Dương” mà sau này trở thành thương hiệu hoặc gắn với sự chuẩn mực khi nói đến những nghệ danh, nghệ phẩm tạo hình Việt Nam hiện đại.
Kể từ sự kết thúc đó, cùng với những năm tháng khốc liệt của các cuộc chiến tranh ở Việt Nam, hoạt động công khai của thị trường này gần như đứt mạch. Phải đợi tới nửa thế kỷ sau, đến những năm 90, khi Đổi Mới đi vào đời sống xã hội, “hoạt động triển lãm trong nước cũng như giao lưu quốc tế ngày một sôi động. Các gallery tự do phát triển, hình thành nên thị trường nghệ thuật ngay tại Việt Nam” [121, tr. Một thị trường hội họa non trẻ diễn triển trong sự tự phát, đã có lúc tưng bừng, nhộn nhịp nhưng sau lại mờ nhạt, trì trệ rồi suy thoái cho đến ngày nay.
Nhiều yếu tố được xác định là nguyên nhân, nhưng đa phần đều cho rằng đó là vấn đề quan trọng về bản quyền, họa sĩ, công chúng và những nhà sưu tầm ngoại, nội địa. 2 Theo Fracis Gurry (2008) Thông điệp của Tổng giám đốc WIPO năm 2008, “Các quyền sở hữu trí tuệ đã giúp nuôi dưỡng và mở đường cho sức sáng tạo, làm cho nó trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội”. Vũ Ngọc Hoan (2009) Một số ý kiến về bảo hộ quyền tác phẩm mỹ thuật tại Việt Nam cho rằng, “sở hữu trí tuệ là một trong những yếu tố tiên quyết cho phát triển sáng tạo, góp phần thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đời sống văn hóa, xã hội, đồng thời là động lực phát triển kinh tế tại mỗi quốc gia”. Tuy nhiên, những điều đó còn khá xa rời với thực tế ở nước ta, đặc biệt là bản quyền tác giả tác phẩm hội họa.
35 năm đã qua kể từ khi đất nước Đổi Mới, 15 năm Luật SHTT có hiệu lực, Việt Nam từ một nước nghèo nàn lạc hậu nay vào nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới nhưng chưa có được đột phá đáng kể về diện cũng như về chất để mang lại hiệu quả tích cực cho thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam. Thị trường này tiếp tục duy trì tình trạng bất ổn, không ít bán tín bán nghi bởi một diện mạo méo mó xuất hiện từ nhiều thập kỷ về trước khi tình trạng thật - giả lẫn lộn do dữ liệu thông tin về tác giả, tác phẩm khó kiểm chứng và còn nhiều những lý do khác nên việc bán - mua vẫn sơ khai, chưa chuyên nghiệp, phần nhiều dựa vào niềm tin, những thỏa thuận cá nhân với nhau, chấp nhận may rủi, thuế thu nộp ngân sách nhà nước chưa đúng với thực tế trong khi vai trò của cơ quan quản lý mờ nhạt. Mặc dù, thị trường này ở khu vực và trên thế giới đã phát triển đạt tới đỉnh cao. Chợ mỹ thuật, nhà đấu giá mỹ thuật ở một số thành phố lớn đã biến nơi đó thành trung tâm mỹ thuật uy tín, trở thành thương hiệu là nơi cung cấp những sản phẩm mỹ thuật, tác phẩm hội họa đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng trên toàn thế giới và đồng thời tạo cũng tạo thành chuỗi cung ứng dịch vụ phụ trợ đem lại nhiều việc làm, những giá trị lợi ích khổng lồ trong sự phát triển kinh tế xanh từ hoạt động giao thương nghệ thuật như thế.
Tác phẩm hội họa Việt Nam đã đóng góp vào chuỗi giá trị đó. NCS nghiên cứu thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay vì giai đoạn này nền mỹ thuật và thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam có rất nhiều biến đổi. Ở mỗi thị trường mỹ thuật không chỉ Việt Nam, tác phẩm hội họa luôn là thành phần chính yếu, mang tính kiến tạo, dẫn dắt tạo nên thị trường. Thị trường tác phẩm hội họa ở Hà Nội là phần quan trọng nhất của thị trường tác phẩm hội họa tại Việt Nam.
Hà Nội là nơi đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện các tác phẩm hội họa do những họa sĩ người Việt có danh sáng tác, được trưng bày 3 giới thiệu cùng với hoạt động bán - mua, tiền đề hình thành thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam hiện đại. Từ dữ liệu trong những lần trao đổi phỏng vấn họa sĩ, người bán, v. những chuyến công tác, khảo sát, điền dã ở một số trung tâm mỹ thuật khác ngoài Hà Nội như Tp.HCM, Hội An, thành phố Huế, Singapore, Hồng Kông, v. của NCS được sử dụng để cập nhật, bổ sung một cách đầy đủ hơn những vấn đề lớn để có thể làm rõ thêm những nghiên cứu về diện mạo của thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam.
Thị trường tác phẩm hội họa được hoàn thiện sẽ trở thành thị trường đúng nghĩa, có uy tín, thương hiệu khi yếu tố tiên quyết như bản quyền được đề cao, cơ sở dữ liệu thông tin được kiểm chứng minh bạch, truyền thông hoạt động tích cực, quyền và nghĩa vụ thuế được thực hiện đầy đủ, v. thì thị trường này sẽ là một trong yếu tố quan trọng góp phần hiệu quả cho thành công của Chiến lược phát triển các ngành CNVH, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra quốc tế. Với vị trí công tác và hoạt động nghề nghiệp của NCS trong thời gian qua ở các lĩnh vực: giáo dục đào tạo mỹ thuật, báo chí và công tác QLNN lĩnh vực mỹ thuật, nghệ thuật, đồng thời là hoạ sĩ sáng tác, người tư vấn giới thiệu mua bán tác phẩm mỹ thuật. Từ trải nghiệm thực tế của mình, NCS nhận thấy cần có những nghiên cứu mang tính chất tổng hợp, nhân học thực địa, điều tra, thu thập dữ liệu chi tiết, chính xác trên cơ sở tiếp cận khách quan từ nhiều nguồn, nhiều giác độ khác nhau để có những đánh giá, đề xuất những giải pháp nhằm mục đích phát triển thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam.
Do đó, tác giả lựa chọn đề tài: Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam từ năm 1986 đến nay làm luận án Tiến sĩ Quản lý Văn hóa. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Đỗ Quốc Việt (2021). Luận án tiến sĩ thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam (1986-nay) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/my-thuat/luan-an-tien-si-thi-truong-tac-pham-hoi-hoa-viet-nam-1986-den-nay
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án tiến sĩ thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam (1986-nay)" nghiên cứu về vấn đề gì?
"Nghiên cứu thị trường hội họa Việt Nam (1986-nay), phân tích xu hướng thị trường và các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị và giá bán của tác phẩm trong giai đoạn này."
Luận án "Luận án tiến sĩ thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam (1986-nay)" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án tiến sĩ thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam (1986-nay)" thuộc chuyên ngành Quản lý văn hóa. Danh mục: Mỹ Thuật.
Luận án "Luận án tiến sĩ thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam (1986-nay)" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án tiến sĩ thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam (1986-nay)" có 238 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam (1986-nay)" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.