Pháp luật đại diện lao động Việt Nam: Thực trạng, hoàn thiện (Luận án TS Đào Mộng Điệp)
Luận án tiến sĩ phân tích thực trạng pháp luật đại diện lao động Việt Nam, chỉ ra hạn chế và đề xuất giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả đại diện lao động.
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Luật Kinh tế
Luan An
Luận án
Năm xuất bản
Số trang
247
Thời gian đọc
38 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I.Lý luận Đại diện Lao động và Pháp luật tại Việt Nam
Đại diện lao động là khái niệm trung tâm trong quan hệ lao động. Khái niệm này được nghiên cứu rộng rãi, quy định trong công ước quốc tế và pháp luật quốc gia. Tại Việt Nam, Nghị định 233/HĐBT (1990) và 18/CP (1992) đã xác định rõ đại diện lao động. Đó là tổ chức công đoàn hoặc người được tập thể lao động cử ra. Pháp luật lao động hiện hành coi công đoàn là tổ chức duy nhất đại diện, bảo vệ quyền lợi người lao động. Các văn bản như Hiến pháp 1992, Luật Công đoàn (1990, 2012), Bộ luật Lao động (1994, 2012) đều củng cố vị trí này. Hệ thống pháp luật này tạo hành lang pháp lý vững chắc cho Công đoàn Việt Nam.
1.1. Quan niệm về Đại diện lao động
Đại diện lao động được hiểu là thực thể hành động thay mặt người lao động. Mục đích là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Thực thể này có thể là một cá nhân hoặc tổ chức. Tại Việt Nam, công đoàn là đại diện chính yếu. Pháp luật quốc gia định nghĩa rõ vai trò này trong Luật lao động Việt Nam.
1.2. Vai trò của Đại diện lao động trong quan hệ lao động
Đại diện lao động giữ vai trò quan trọng trong quan hệ lao động Việt Nam. Tổ chức này đảm bảo cân bằng quyền lực giữa người lao động và người sử dụng lao động. Đại diện lao động tham gia đối thoại xã hội, thương lượng tập thể. Hoạt động này góp phần giải quyết tranh chấp lao động, duy trì ổn định. Bảo vệ quyền lợi người lao động là nhiệm vụ cốt lõi.
1.3. Khái niệm Pháp luật về Đại diện lao động
Pháp luật về đại diện lao động là hệ thống quy phạm pháp luật. Hệ thống này điều chỉnh việc thành lập, tổ chức, hoạt động của đại diện lao động. Các quy định bao gồm quyền và nghĩa vụ của đại diện lao động. Mục tiêu là tạo cơ chế hiệu quả bảo vệ người lao động. Luật lao động Việt Nam có nhiều văn bản liên quan.
II.Thực trạng Pháp luật về Đại diện Lao động hiện hành
Pháp luật Việt Nam hiện hành đã thiết lập khung pháp lý cho đại diện lao động. Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập. Tổ chức công đoàn vẫn là đại diện duy nhất được quy định trong Bộ luật Lao động 2012. Việc thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp còn hạn chế. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của công đoàn đã rõ ràng. Tuy nhiên, tính hiệu quả trong thực thi cần được đánh giá thêm. Những đảm bảo pháp lý cho hoạt động đại diện lao động vẫn chưa đủ mạnh. Điều này ảnh hưởng đến khả năng bảo vệ quyền lợi người lao động. Cần xem xét lại các quy định để phù hợp hơn với thực tiễn quan hệ lao động Việt Nam.
2.1. Quy định thành lập Tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp
Pháp luật hiện hành tập trung vào vai trò của Công đoàn Việt Nam. Quy định về thành lập các tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp khác còn hạn chế. Điều này tạo ra một số thách thức. Sự đa dạng hóa hình thức đại diện lao động chưa được khuyến khích đầy đủ. Cần có cơ chế mở hơn cho việc thành lập theo Luật lao động Việt Nam.
2.2. Quyền và nghĩa vụ của Đại diện lao động Công đoàn
Công đoàn cơ sở có nhiều quyền và trách nhiệm. Bao gồm đại diện, bảo vệ quyền lợi người lao động, tham gia xây dựng quy chế. Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở cũng có vai trò giám sát, hỗ trợ. Tuy nhiên, việc thực thi quyền và nghĩa vụ của đại diện lao động gặp khó khăn. Một số quy định chưa cụ thể, chưa đảm bảo hiệu quả thực chất.
2.3. Đảm bảo pháp lý cho hoạt động của Công đoàn Việt Nam
Pháp luật có các quy định về bảo vệ cán bộ công đoàn, kinh phí hoạt động. Tuy nhiên, các biện pháp đảm bảo này chưa thực sự đủ mạnh. Vẫn còn tình trạng người sử dụng lao động can thiệp vào hoạt động công đoàn. Điều này làm giảm tính độc lập và hiệu quả của Công đoàn Việt Nam. Cần củng cố thêm các chế tài bảo vệ.
III.Sự cần thiết Hoàn thiện Pháp luật Đại diện Lao động
Việc hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động là cấp thiết. Hệ thống pháp luật hiện hành bộc lộ nhiều bất cập. Các quy định chưa theo kịp sự phát triển của quan hệ lao động Việt Nam. Đặc biệt, yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng cao. Việt Nam cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Điều này đòi hỏi pháp luật phải thay đổi. Bộ luật Lao động 2019 cũng đặt ra những yêu cầu mới. Mục tiêu cuối cùng là bảo vệ quyền lợi người lao động hiệu quả hơn. Đồng thời, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định.
3.1. Khắc phục bất cập của pháp luật về Đại diện lao động
Pháp luật hiện hành còn nhiều điểm chưa rõ ràng. Các quy định về cơ cấu, thành lập đại diện lao động cần được làm rõ. Quyền và nghĩa vụ của đại diện lao động cũng cần cụ thể hóa. Điều này giúp tránh chồng chéo, tăng hiệu quả hoạt động. Việc khắc phục bất cập là bước đầu quan trọng trong Luật lao động Việt Nam.
3.2. Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và Bộ luật Lao động 2019
Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do. Các hiệp định này thường đi kèm với các cam kết lao động quốc tế. Pháp luật về đại diện lao động cần tương thích. Bộ luật Lao động 2019 mở ra khả năng thành lập tổ chức của người lao động khác. Điều này đòi hỏi các văn bản hướng dẫn chi tiết, đồng bộ.
3.3. Bảo vệ quyền lợi người lao động tốt hơn
Mục tiêu cao nhất của pháp luật lao động là bảo vệ người lao động. Việc hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động sẽ tăng cường khả năng này. Nó tạo cơ hội cho người lao động có tiếng nói mạnh mẽ hơn. Qua đó, quyền và lợi ích hợp pháp của họ được đảm bảo đầy đủ, minh bạch.
IV.Hướng Hoàn thiện Pháp luật về Đại diện Lao động Việt Nam
Hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện. Cần dựa trên điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của Việt Nam. Đồng thời, tiếp cận các tiêu chuẩn lao động quốc tế là cần thiết. Pháp luật mới phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Quá trình hoàn thiện cũng cần đồng bộ với các chế định khác của Bộ luật Lao động 2019. Điều này tạo nên một hệ thống pháp luật lao động vững chắc, hiệu quả. Mục tiêu là thúc đẩy quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.
4.1. Hoàn thiện quy định về Tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp
Cần mở rộng quy định về các hình thức tổ chức của người lao động. Ngoài Công đoàn Việt Nam, cần có khung pháp lý cho các tổ chức khác. Quy định về thành lập, hoạt động phải rõ ràng, minh bạch. Điều này giúp người lao động có nhiều lựa chọn hơn trong việc đại diện. Nó cũng thúc đẩy sự đa dạng, dân chủ trong quan hệ lao động.
4.2. Nâng cao quyền và nghĩa vụ của Đại diện lao động
Pháp luật cần tăng cường quyền tham gia của đại diện lao động. Các quy định về thương lượng tập thể, đối thoại xã hội cần cụ thể hơn. Nâng cao nghĩa vụ của đại diện lao động trong việc thông tin, lấy ý kiến. Điều này giúp họ thực sự đại diện hiệu quả cho người lao động.
4.3. Đảm bảo pháp lý cho Thương lượng tập thể Đối thoại xã hội
Cần có các chế tài mạnh mẽ hơn để đảm bảo thực thi thương lượng tập thể. Quy trình đối thoại xã hội cần được chuẩn hóa. Các quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực này phải nghiêm minh. Điều này sẽ tạo môi trường thuận lợi cho việc giải quyết mâu thuẫn. Góp phần xây dựng quan hệ lao động bền vững.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (247 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ______________ ĐÀO MỘNG ĐIỆP PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2014 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ______________ ĐÀO MỘNG ĐIỆP PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN Chuyên ngành: Luật Kinh tế Mã số: 62 38 50 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: 1. LÊ THỊ HOÀI THU 2. NGUYỄN THỊ KIM PHỤNG HÀ NỘI – 2014 2 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trong luận án là trung thực.
Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Đào Mộng Điệp 3 MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC MỞ ĐẦU.7 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG.1 Tình hình nghiên cứu và các vấn đề đã được nghiên cứu.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về đại diện lao động và pháp luật về đại diện lao động.2 Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện lao động.3 Tình hình nghiên cứu hướng hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động .2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về đại diện lao động và pháp luật về đại diện lao động 25 1.1 Những kết quả nghiên cứu luận án được kế thừa.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu.3 Phương pháp nghiên cứu. 27 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1. 29 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG.1 Đại diện lao động trong quan hệ lao động.
Quan niệm về đại diện lao động.2 Vai trò của đại diện lao động trong quan hệ lao động.3 Các loại đại diện lao động.2 Pháp luật về đại diện lao động.1 Khái niệm pháp luật về đại diện lao động.2 Các nguyên tắc pháp luật về đại diện lao động.3 Nội dung pháp luật về đại diện lao động.4 Ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật về đại diện lao động trong nền kinh tế thị trường. 90 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2. 94 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG.1 Thành lập và tổ chức đại diện lao động.1 Quy định về nguyên tắc thành lập tổ chức đại diện lao động.2 Quy định về đối tượng thành lập tổ chức đại diện lao động.3 Quy định về thành lập tổ chức đại diện lao động.4 Quy định về cơ cấu tổ chức đại diện lao động.2 Quyền và trách nhiệm của tổ chức đại diện lao động.1 Quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn cơ sở.2 Quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở .3 Những đảm bảo pháp lý cho hoạt động của tổ chức đại diện lao động. 143 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3.
149 CHƯƠNG 4: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động.1 Khắc phục những bất cập của pháp luật hiện hành về đại diện lao động151 4.2 Đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.2 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động ở Việt Nam.1 Căn cứ điều kiện kinh tế chính trị xã hội của Việt Nam.2 Tiếp cận các tiêu chuẩn lao động quốc tế.3 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.4 Đặt trong quá trình hoàn thiện pháp luật về đại diện người sử dụng lao động và đồng bộ với quá trình hoàn thiện các chế định khác của Bộ luật Lao động.3 Hướng hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động ở Việt Nam.1 Hoàn thiện các quy định về thành lập và tổ chức đại diện lao động.2 Hoàn thiện các quy định về quyền và trách nhiệm của tổ chức đại diện lao động.3 Hoàn thiện các quy định về đảm bảo pháp lý cho hoạt động của tổ chức đại diện lao động. 190 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4. 195 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ. 198 LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN.
198 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Đại diện lao động là một thuật ngữ được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, được quy định trong các công ước quốc tế cũng như trong hệ thống pháp luật quốc gia. Ở Việt Nam, trong Nghị định số 233/HĐBT ngày 22/6/1990 và Nghị định số18/CP ngày 26/12/1992 đều đã quy định về đại diện lao động trong đó xác định đại diện lao động là tổ chức công đoàn được thành lập để đại diện và bảo vệ quyền lợi của tập thể lao động hoặc là người do tập thể lao động cử ra đại diện cho tập thể lao động ở nơi chưa có tổ chức công đoàn. Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, tổ chức công đoàn là tổ chức duy nhất được thực hiện chức năng đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể người lao động trong quan hệ lao động.
Để khẳng định vị trí, vai trò của tổ chức công đoàn, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật như: Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001); Luật Công đoàn năm 1990; Luật Công đoàn năm 2012; Bộ luật Lao động 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002, 2006, 2007; Bộ luật Lao động 2012… Có thể nói, hệ thống văn bản pháp luật này đã tạo hành lang pháp lý cho tổ chức công đoàn thực hiện chức năng của mình. Như vậy, vị trí, vai trò của tổ chức công đoàn được pháp luật ghi nhận và theo đó công đoàn có vị trí vai trò và chức năng đặc biệt, “là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Điều 10 Hiến pháp 2013). Pháp luật cũng khẳng định: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng rãi của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, 7 là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác, cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (Điều 1 Luật Công đoàn). Trong quá trình hình thành và phát triển, tổ chức công đoàn đã luôn hoạt động theo đường lối chủ trương của Đảng và phát huy được chức năng, sứ mạng của mình.
Nội dung và phương pháp hoạt động của tổ chức công đoàn đã có những bước tiến đáng kể. Cơ cấu của tổ chức công đoàn cũng ngày càng được hoàn thiện theo hướng đơn giản cho phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện nay. Đặc biệt là pháp luật đã quy định cho công đoàn nhiều quyền để thực hiện chức năng đại diện và bảo vệ quyền lợi, lợi ích của người lao động như: tham gia thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể; tham gia xây dựng nội quy lao động; tham gia giải quyết việc làm, giám sát việc bảo đảm việc làm và tiền lương cho người lao động; tham gia xử lý kỷ luật lao động; đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp; tham gia giải quyết tranh chấp lao động và lãnh đạo tập thể lao động đình công. Bên cạnh đó, công đoàn còn được tổ chức đối thoại giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động góp phần duy trì quan hệ lao động hài hòa, ổn định, ngăn ngừa và hạn chế các tranh chấp lao động phát sinh, khẳng định vị thế bình đẳng của người lao động với người sử dụng lao động trong quan hệ lao động.
Hoạt động của tổ chức công đoàn cũng góp phần vào ổn định chính trị, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho xã hội trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù đã có nhiều giải pháp nhằm nâng cao vị thế đại diện trong quan hệ lao động nhưng tổ chức công đoàn vẫn gặp phải những khó khăn, vướng mắc và hạn chế trong quá trình hoạt động. Việc thành lập và hoạt động của tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn hạn 8 chế.Hoạt động của tổ chức công đoàn tại nhiều địa phương, doanh nghiệp còn mang tính phong trào và hình thức là chủ yếu. Trong khối doanh nghiệp, tổ chức công đoàn chưa thu hút được sự hưởng ứng, tham gia của người lao động, còn có nhiều công đoàn viên chưa gắn bó với tổ chức công đoàn.
Tổ chức công đoàn chưa phát huy tốt vai trò tập hợp người lao động; vai trò đại diện cho người lao động trong doanh nghiệp còn mờ nhạt. Chính vì vậy, một cách tự nhiên, tại một số nơi không có tổ chức công đoàn (hoặc có tổ chức công đoàn nhưng hoạt động không hiệu quả) đã xuất hiện tổ chức đại diện của người lao động. Tư cách đại diện này mặc dù đã từng được pháp luật quy định (Điều 172a Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung 2006) nhưng trên thực tế thường mang tính tự phát, theo những vụ việc nhỏ, lẻ. Tuy nhiên, Bộ luật Lao động 2012 chỉ thừa nhận vai trò đại diện của tập thể lao động thông qua một tổ chức duy nhất đó chính là công đoàn.
Như vậy, pháp luật về đại diện lao động cũng có sự thay đổi theo thời gian và hiện nay, mặc dù đã được quy định chính thức trong Bộ luật Lao động nhưng trên thực tế vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau về đại diện lao động.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Pháp luật về đại diện lao động Việt Nam: Thực trạng và hoàn thiện" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ phân tích thực trạng pháp luật đại diện lao động Việt Nam, chỉ ra hạn chế và đề xuất giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả đại diện lao động.
Luận án "Pháp luật về đại diện lao động Việt Nam: Thực trạng và hoàn thiện" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Năm bảo vệ: 2014.
Luận án "Pháp luật về đại diện lao động Việt Nam: Thực trạng và hoàn thiện" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Pháp luật về đại diện lao động Việt Nam: Thực trạng và hoàn thiện" thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế. Danh mục: Luật Học.
Luận án "Pháp luật về đại diện lao động Việt Nam: Thực trạng và hoàn thiện" có bao nhiêu trang?
Luận án "Pháp luật về đại diện lao động Việt Nam: Thực trạng và hoàn thiện" có 247 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Pháp luật về đại diện lao động Việt Nam: Thực trạng và hoàn thiện" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.