Luận án: Phòng ngừa tội phạm tham nhũng trong tư pháp Việt Nam - Đậu Quang Dũng

Nghiên cứu luận án về phòng chống tham nhũng trong tư pháp Việt Nam, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phù hợp hiện nay.

Chuyên ngành

Luật học

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ

Năm xuất bản

Số trang

177

Thời gian đọc

27 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I.Phòng ngừa tham nhũng tư pháp Tính cấp thiết

Phần này giới thiệu tính cấp thiết của việc phòng ngừa tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam. Tội phạm tham nhũng (TPTN) tồn tại từ lâu, phát triển phức tạp qua các thời kỳ lịch sử. Trong bối cảnh hiện nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN). Thực tiễn cho thấy TPTN trong hoạt động tư pháp (HĐTP) đang diễn biến rất phức tạp, có xu hướng gia tăng về tính chất và mức độ, gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

1.1. Bối cảnh và sự phức tạp của tội phạm tham nhũng

Tham nhũng xuất hiện ở mọi hình thái kinh tế - xã hội. Ở Việt Nam, công tác phòng, chống tham nhũng là ưu tiên hàng đầu. Tình trạng tham nhũng ngày càng phức tạp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế - xã hội. Tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp có những đặc điểm riêng. Diễn biến loại tội phạm này có xu hướng gia tăng tính chất và mức độ. Thống kê cho thấy con số vụ án và bị can phạm tội tham nhũng trong HĐTP khá lớn, đòi hỏi biện pháp kiểm soát chặt chẽ.

1.2. Hậu quả nghiêm trọng của tham nhũng tư pháp

Tội phạm tham nhũng trong HĐTP gây tác hại nghiêm trọng. Hậu quả không chỉ giới hạn ở khía cạnh kinh tế. Nó còn trực tiếp ảnh hưởng đến sự nghiêm minh của pháp luật. Tính vô tư, công bằng, khách quan trong giải quyết các vụ án bị suy giảm. Các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động đều đối mặt với rủi ro. Điều này làm xói mòn các nguyên tắc cơ bản của hệ thống tư pháp Việt Nam.

1.3. Thách thức đối với niềm tin nhân dân

Tình hình tham nhũng tư pháp gây ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin. Niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng, Nhà nước suy yếu. Các cơ quan bảo vệ pháp luật và người thực thi pháp luật cũng chịu tác động. Đặc biệt, người có chức vụ, quyền hạn trong giải quyết vụ án bị nghi ngờ. Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này. Chúng xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước. Mục tiêu là gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phòng ngừa tham nhũng là nhiệm vụ cấp bách, bảo vệ sự ổn định xã hội.

II.Lý luận về phòng ngừa tham nhũng trong tư pháp

Phần này đi sâu vào cơ sở lý luận của việc phòng ngừa tội phạm tham nhũng trong hệ thống tư pháp Việt Nam. Các khái niệm, thông số đo lường, nguyên nhân và điều kiện phát sinh tham nhũng trong hoạt động tư pháp được phân tích. Từ đó, xây dựng nền tảng vững chắc cho các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

2.1. Khái niệm tham nhũng tư pháp và yếu tố ảnh hưởng

Tham nhũng tư pháp là hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn vì lợi ích cá nhân hoặc nhóm. Hành vi này xảy ra trong hoạt động của các cơ quan tư pháp. Các thông số đặc trưng bao gồm số lượng vụ việc, đối tượng vi phạm, thiệt hại gây ra. Yếu tố ảnh hưởng bao gồm kẽ hở pháp luật, sự thiếu minh bạch. Năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ tư pháp cũng là yếu tố quan trọng. Việc làm rõ khái niệm giúp định hình phương pháp phòng ngừa chính xác.

2.2. Cơ sở lý luận phòng ngừa hiệu quả

Phòng ngừa tham nhũng tư pháp dựa trên các nguyên lý khoa học. Lý thuyết tội phạm học cung cấp cái nhìn tổng quan về nguyên nhân và điều kiện. Công tác phòng ngừa bao gồm nhiều cấp độ. Đó là phòng ngừa chung, phòng ngừa riêng, và phòng ngừa tình hình. Một chiến lược phòng ngừa hiệu quả cần đồng bộ. Chiến lược này kết hợp các giải pháp pháp luật, kinh tế, xã hội, giáo dục. Mục tiêu là triệt tiêu các điều kiện phát sinh tham nhũng từ gốc rễ.

2.3. Các thông số và nguyên nhân chính

Thông số tình hình tham nhũng bao gồm số vụ, mức độ nghiêm trọng, địa điểm xảy ra. Nguyên nhân chính thường là do sơ hở trong thể chế và pháp luật. Quy định chưa chặt chẽ, thiếu minh bạch tạo điều kiện cho tham nhũng. Quyền lực tập trung ở một số vị trí nhưng thiếu kiểm soát. Năng lực và đạo đức của một bộ phận cán bộ tư pháp còn hạn chế. Các mối quan hệ xã hội phức tạp và áp lực kinh tế cũng góp phần thúc đẩy hành vi tham nhũng.

III.Thực trạng tham nhũng tư pháp và công tác phòng ngừa

Mục này phân tích thực trạng tình hình tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam những năm qua. Đồng thời, đánh giá công tác phòng ngừa tham nhũng đã được triển khai, chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại.

3.1. Diễn biến tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp

Tình hình tham nhũng tư pháp tại Việt Nam diễn biến phức tạp. Từ năm 2008 đến 2018, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao ghi nhận 196 vụ, 211 bị can phạm tội tham nhũng. Các hành vi phạm tội đa dạng. Chúng bao gồm hối lộ, lợi dụng chức vụ, lạm dụng tín nhiệm. Đối tượng thường là người có quyền hạn trong các cơ quan tố tụng. Sự tinh vi của thủ đoạn gây khó khăn cho công tác phát hiện và xử lý.

3.2. Đánh giá công tác phòng ngừa hiện tại

Công tác phòng ngừa tham nhũng đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Nhiều văn bản pháp luật về PCTN được ban hành, hoàn thiện. Các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát nội bộ. Nhiều vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý nghiêm. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn những hạn chế. Năng lực phòng ngừa chưa đồng đều giữa các đơn vị. Sự phối hợp giữa các cơ quan đôi khi còn thiếu chặt chẽ. Hiệu quả ngăn chặn chưa đạt mức tối đa.

3.3. Nhận xét và hạn chế của thực trạng

Tình trạng tham nhũng tư pháp vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Các phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, khó phát hiện. Nhận thức về PCTN ở một số nơi chưa thực sự sâu rộng. Cơ chế kiểm soát quyền lực còn chưa hoàn thiện, tạo kẽ hở. Công tác cán bộ vẫn còn những tồn tại nhất định. Những hạn chế này đòi hỏi cần có các giải pháp toàn diện, quyết liệt hơn trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả phòng ngừa.

IV.Giải pháp tăng cường phòng ngừa tham nhũng tư pháp

Phần này đưa ra các dự báo, quan điểm và giải pháp chiến lược nhằm tăng cường hiệu quả phòng ngừa tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam. Các giải pháp tập trung vào hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực và trách nhiệm của các chủ thể liên quan.

4.1. Quan điểm chỉ đạo công tác phòng ngừa

Công tác phòng ngừa tham nhũng cần dựa trên quan điểm nhất quán. Đó là kiên quyết, kiên trì, không ngừng nghỉ. Việc này gắn liền với xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Tăng cường phòng ngừa phải đi đôi với xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Lợi ích của nhân dân phải đặt lên hàng đầu. Đảm bảo công khai, minh bạch trong mọi hoạt động. Huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội để đấu tranh chống tham nhũng.

4.2. Các giải pháp cụ thể và đồng bộ

Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật về PCTN. Đặc biệt là trong lĩnh vực tư pháp. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát thường xuyên và đột xuất. Nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ tư pháp. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào quản lý, điều hành. Xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tố giác tham nhũng. Tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác phòng, chống tham nhũng.

4.3. Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

Nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật hiện hành. Đảm bảo mọi hành vi tham nhũng đều bị xử lý nghiêm minh, kịp thời. Không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Nâng cao nhận thức của cộng đồng về PCTN. Góp phần xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp ở việt nam hiện nay luận án tiến sĩ

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (177 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐẬU QUANG DŨNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG HOẠT ÐỘNG TƢ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐẬU QUANG DŨNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG HOẠT ÐỘNG TƢ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm Mã số: 9.05 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. ĐƢỜNG MINH GIỚI HÀ NỘI - 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, đây là nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực và chưa từng được dùng để bảo vệ một học vị nào. Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận án Đậu Quang Dũng MỤC LỤC MỞ ĐẦU. 1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN. Tình hình nghiên cứu có liên quan ở nước ngoài. Tình hình nghiên cứu có liên quan ở trong nước.

Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án. 35 Chƣơng 2: LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG HOẠT ĐỘNG TƢ PHÁP Ở VIỆT NAM. Khái niệm, các thông số và nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp.

Lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp. 50 Chƣơng 3: TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG HOẠT ĐỘNG TƢ PHÁP VÀ THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG HOẠT ĐỘNG TƢ PHÁP Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA. Tình hình tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam những năm qua. Thực trạng phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam những năm qua.

Nhận xét, đánh giá. 108 Chương 4: DỰ BÁO, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. Quan điểm phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp thời gian tới. Giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay.

149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN. 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 152 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN CAND Công an nhân dân CQTP Cơ quan tư pháp HĐND Hội đồng nhân dân HĐTP Hoạt động tư pháp PCTN Phòng, chống tham nhũng TAND Tòa án nhân dân TPTN Tội phạm tham nhũng UBND Ủy ban nhân dân VKSND Viện Kiểm sát nhân dân MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tham nhũng và tội phạm tham nhũng (TPTN) đã phát sinh, phát triển từ rất lâu đời.

Ở các hình thái kinh tế - xã hội và các kiểu nhà nước khác nhau mà nhân loại đã trải qua đều tồn tại vấn đề tham nhũng và TPTN. Trong quá trình phát triển đất nước và thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và đặc biệt quan tâm tiến hành công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN). Điều đó một phần xuất phát từ thực tiễn diễn biến và phát triển hoạt động của loại tội phạm này ngày càng phức tạp, đã và đang gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, ảnh hưởng tiêu cực đến các mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta. Trong các TPTN nói chung, TPTN xảy ra trong hoạt động tư pháp (HĐTP) có những đặc điểm, đặc trưng riêng so với TPTN xảy ra trên các lĩnh vực khác.

Những năm qua, cùng với xu hướng phức tạp, gia tăng của các loại tội phạm và vi phạm pháp luật ở nước ta, tình hình TPTN trong HĐTP cũng đã và đang diễn biến rất phức tạp, có xu hướng gia tăng cả về tính chất, mức độ. Theo thống kê của Cục Điều tra - Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao, từ năm 2008 đến hết năm 2018, các cơ quan tiến hành tố tụng đã phát hiện, khởi tố và điều tra tổng cộng 196 vụ, 211 bị can phạm tội tham nhũng trong HĐTP. Thực tế cho thấy, hậu quả tác hại mà tình hình TPTN trong HĐTP gây ra cho xã hội là hết sức nghiêm trọng, không chỉ ở góc độ kinh tế mà còn ảnh hưởng đến sự nghiêm minh của pháp luật; sự vô tư, công bằng, khách quan của quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động. Thực tiễn diễn biến và hậu quả, tác hại mà tình hình TPTN trong HĐTP ở nước ta gây ra cho xã hội những năm qua cho thấy, nếu để hoạt động của loại tội phạm này tiếp tục phức tạp, kéo dài sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tiêu cực làm ảnh hưởng đến niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật, người thực thi pháp luật, nhất là những người có chức vụ, quyền hạn được phân công tham gia giải 1 quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động.

Bên cạnh đó, lợi dụng những vấn đề có liên quan đến các đối tượng có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan thực thi pháp luật phạm tội tham nhũng trong HĐTP nên các thế lực thù địch, phản động ở cả trong và ngoài nước sẽ tìm mọi cách để lợi dụng xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, kích động quần chúng nhân dân nhằm gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhận thức rõ hậu quả tác hại đặc biệt nghiêm trọng mà tình hình TPTN trong HĐTP gây ra cho xã hội, đồng thời thực hiện quyết tâm tiến hành cải cách, làm trong sạch và nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của HĐTP ở nước ta, những năm qua, Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các Bộ, ngành liên quan, nhất là các cơ quan tư pháp (CQTP) và cơ quan tham gia vào HĐTP ở nước ta đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai hoạt động phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP. Quá trình đó đã và đang được triển khai thường xuyên hơn, với các hình thức đa dạng hơn, bước đầu thu hút sự tham gia của các cấp, các ngành, các cơ quan, đoàn thể, quần chúng nhân dân và đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Cùng với cuộc đấu tranh PCTN do Đảng, Nhà nước ta phát động rộng rãi và ngày càng hiệu quả hiện nay, nhiều vụ án tham nhũng trong HĐTP cũng đã được phát hiện, khởi tố, điều tra xử lý, tạo ra những hiệu ứng hết sức tích cực đối với công tác phòng, chống tội phạm nói chung và phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP nói riêng.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai hoạt động phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP những năm qua vẫn bộc lộ một số hạn chế, thiếu sót nhất định như: Cơ sở pháp lý phục vụ triển khai công tác PCTN nói chung và phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP nói riêng tuy đã được các cơ quan chức năng xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện nhưng chưa đầy đủ; hiệu lực, hiệu quả chưa cao, chưa có các quy định riêng mang tính hệ thống về phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP; số lượng vụ án tham nhũng trong HĐTP được phát hiện, điều tra, xử lý thời gian qua chưa cao, chưa tương xứng với thực tiễn diễn biến của loại tội phạm 2 này; nhìn chung TPTN trong HĐTP vẫn có độ ẩn cao so với các loại tội phạm khác; công tác tuyên truyền, giáo dục phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP chưa được tiến hành thường xuyên và trên diện rộng, vẫn chủ yếu tập trung vào các đối tượng là cán bộ, công chức trong các cơ quan thực thi pháp luật, nhất là trong các cơ quan tư pháp và ở cấp Trung ương, chưa chú trọng tuyên truyền, giáo dục phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP cho các đối tượng khác và đến cấp cơ sở, đặc biệt là các tổ chức, đoàn thể và quần chúng nhân dân; hoạt động phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP chưa huy động được sự tham gia đông đảo của các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, đoàn thể và quần chúng nhân dân, do đó chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; hoạt động của các cơ quan, đơn vị chuyên trách PCTN ở Trung ương và của cơ quan Công an, VKSND, TAND, Cơ quan thi hành án tuy có cải thiện hơn so với những năm trước đây nhưng nhìn chung hiệu quả chưa cao, chưa tương xứng với thực tiễn tình hình; công tác điều tra, xử lý TPTN trong HĐTP đôi khi còn chưa triệt để và nghiêm minh, vẫn còn xảy ra tình trạng nể nang của một số cán bộ có thẩm quyền nên hiệu quả trong giáo dục, răn đe với các đối tượng khác còn hạn chế; quan hệ phối hợp giữa các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, đoàn thể quần chúng nói chung và giữa các cơ quan chuyên trách PCTN trong HĐTP với các cơ quan khác chưa được tiến hành thường xuyên; quan hệ hợp tác quốc tế trong tổ chức các biện pháp nhằm phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP chưa thực sự được mở rộng, nội dung và hình thức chưa đa dạng nên hiệu quả còn rất hạn chế… Bên cạnh đó, hiện nay hệ thống lý luận về TPTN trong HĐTP và hoạt động phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP chưa được nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, đồng thời chưa có đề tài luận án tiến sĩ nào nghiên cứu về vấn đề này. Từ những lý do nêu trên có thể khẳng định việc chọn đề tài luận án tiến sĩ “Phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu đã đáp ứng đòi hỏi cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn nước ta hiện nay. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án - Mục đích nghiên cứu: Làm rõ lý luận và thực tiễn hoạt động phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP; đưa ra dự báo cũng như các giải pháp mang tính toàn diện và khả thi góp phần tăng cường hoạt động phòng ngừa tình hình TPTN trong HĐTP ở Việt Nam thời gian tới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Phòng ngừa tội phạm tham nhũng trong tư pháp ở Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu luận án về phòng chống tham nhũng trong tư pháp Việt Nam, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phù hợp hiện nay.

Luận án "Phòng ngừa tội phạm tham nhũng trong tư pháp ở Việt Nam" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2019.

Luận án "Phòng ngừa tội phạm tham nhũng trong tư pháp ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Phòng ngừa tội phạm tham nhũng trong tư pháp ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật học. Danh mục: Luật Hình Sự.

Luận án "Phòng ngừa tội phạm tham nhũng trong tư pháp ở Việt Nam" có bao nhiêu trang?

Luận án "Phòng ngừa tội phạm tham nhũng trong tư pháp ở Việt Nam" có 177 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Phòng ngừa tội phạm tham nhũng trong tư pháp ở Việt Nam" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter