Luận án TS Trần Thị Quỳnh: Miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam
Nghiên cứu chi tiết về miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam. Phân tích căn cứ, điều kiện và thủ tục pháp lý.
Luật hình sự và tố tụng hình sự
Luan An
Luận án
Năm xuất bản
Số trang
168
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I. Tổng quan miễn giảm hình phạt Chính sách nhân đạo
Chế định miễn, giảm hình phạt là một phần quan trọng của pháp luật hình sự Việt Nam. Nó thể hiện tính nhân đạo sâu sắc của Nhà nước. Mục đích không chỉ trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục, cải tạo họ. Chế định này giúp cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Nó đảm bảo sự công bằng, phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Việc miễn, giảm hình phạt không làm giảm tính răn đe. Quyết định này chỉ áp dụng khi hình phạt là không cần thiết hoặc mức giảm đã đủ sức răn đe. Tài liệu này nghiên cứu các khía cạnh của miễn, giảm hình phạt. Nó phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn áp dụng. Từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định. Chế định miễn, giảm hình phạt góp phần vào công cuộc phòng chống tội phạm. Nó đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện chính sách hình sự nhân đạo.
1.1. Mục đích và ý nghĩa của miễn giảm hình phạt.
Mục đích chính của miễn, giảm hình phạt là giáo dục, cải tạo người phạm tội. Nó giúp họ tái hòa nhập cộng đồng. Việc này phù hợp với chính sách hình sự nhân đạo của Việt Nam. Chế định này cho phép Tòa án linh hoạt khi quyết định hình phạt. Tòa án xem xét nhiều yếu tố. Ví dụ như tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng được cân nhắc. Người phạm tội có thể được miễn hoặc giảm hình phạt. Điều này xảy ra khi họ có nhiều tiến bộ. Họ có thể đã khắc phục hậu quả. Hoặc họ có hoàn cảnh đặc biệt đáng được khoan hồng.
1.2. Vai trò trong chính sách hình sự nhân đạo Việt Nam.
Chế định miễn, giảm hình phạt khẳng định tính nhân đạo của pháp luật. Nó tạo cơ hội cho người phạm tội sửa chữa lỗi lầm. Đặc biệt, đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, chính sách này càng được ưu tiên. Nó giúp họ có cơ hội làm lại cuộc đời. Chế định cũng giúp pháp luật hình sự linh hoạt hơn. Nó tránh áp dụng hình phạt cứng nhắc. Thay vào đó là quyết định hình phạt phù hợp. Điều này giảm gánh nặng cho hệ thống tư pháp. Đồng thời, nó tăng cường niềm tin của người dân vào công lý.
II. Lý luận lịch sử miễn giảm hình phạt Bộ luật Hình sự
Nghiên cứu lý luận về miễn, giảm hình phạt là cần thiết. Nó làm rõ bản chất, cơ sở pháp lý của chế định. Chế định này liên quan chặt chẽ đến trách nhiệm hình sự. Nó là phương thức để cá thể hóa việc áp dụng pháp luật. Lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam đã ghi nhận sự phát triển của chế định. Từ thời phong kiến, các bộ luật đã có quy định tương tự. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, các văn bản pháp luật đơn lẻ cũng đề cập. Đến khi pháp điển hóa, Bộ luật Hình sự Việt Nam chính thức ghi nhận. Các bản Bộ luật Hình sự 1985, 1999 và 2015 đều có quy định. Điều này thể hiện sự tiến bộ trong tư duy pháp lý.
2.1. Cơ sở lý luận về miễn giảm hình phạt.
Miễn, giảm hình phạt dựa trên nền tảng lý luận về hình phạt. Mục đích là trừng trị và giáo dục. Nó cũng dựa trên nguyên tắc nhân đạo, công bằng. Trách nhiệm hình sự là cơ sở để áp dụng hình phạt. Miễn, giảm hình phạt là trường hợp đặc biệt. Nó cho phép Tòa án không áp dụng hoặc giảm hình phạt. Điều này khi các điều kiện luật định được thỏa mãn. Các điều kiện này thường liên quan đến sự ăn năn hối cải. Hoặc liên quan đến nỗ lực khắc phục hậu quả. Cơ sở lý luận cũng xem xét tác động xã hội. Nó đảm bảo quyết định hình phạt đạt hiệu quả cao nhất. Việc miễn trách nhiệm hình sự là một trường hợp khác. Nó thường áp dụng khi hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội.
2.2. Lịch sử phát triển quy định miễn giảm hình phạt.
Lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam cho thấy sự tiến hóa. Chế định miễn, giảm hình phạt có từ Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long. Sau 1945, các sắc lệnh, thông tư cũng có quy định rải rác. Các văn bản này là tiền đề quan trọng. Chúng định hình tư duy về sự khoan hồng của pháp luật. Đến Bộ luật Hình sự 1985, chế định được hệ thống hóa. Bộ luật Hình sự 1999 và 2015 tiếp tục hoàn thiện. Xu hướng là mở rộng đối tượng, điều kiện miễn, giảm. Điều này phản ánh sự tiến bộ của chính sách hình sự. Nó ngày càng phù hợp với bối cảnh xã hội mới.
III. Quy định miễn giảm hình phạt BLHS Việt Nam
Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định chi tiết về miễn, giảm hình phạt. Các quy định này nằm ở nhiều điều khoản khác nhau. Chúng bao gồm điều kiện, thẩm quyền, thủ tục áp dụng. Quy định nhằm cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Đồng thời, nó đảm bảo tính nhân đạo của pháp luật. Tòa án là cơ quan có thẩm quyền quyết định hình phạt. Tòa án xem xét kỹ lưỡng các trường hợp được miễn hoặc giảm. Quyết định này phải dựa trên cơ sở pháp luật. Nó phải phù hợp với tình tiết cụ thể của vụ án. Mục tiêu là đạt được hiệu quả giáo dục, phòng ngừa tội phạm.
3.1. Các trường hợp miễn hình phạt theo Bộ luật Hình sự.
Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định rõ các trường hợp miễn hình phạt. Người phạm tội có thể được miễn hình phạt khi đáp ứng các điều kiện cụ thể. Ví dụ, họ đã lập công chuộc tội. Hoặc họ đã khắc phục hết hậu quả thiệt hại. Người phạm tội có thể là phụ nữ có thai, người già yếu. Hoặc họ mắc bệnh hiểm nghèo, không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội. Việc miễn chấp hành hình phạt cũng được xem xét. Nó áp dụng khi người phạm tội đã cải tạo tốt. Hoặc thời hiệu thi hành án đã hết. Quyết định miễn hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Nó tạo cơ hội cho người phạm tội trở lại cuộc sống bình thường.
3.2. Điều kiện giảm hình phạt và tình tiết giảm nhẹ.
Giảm hình phạt áp dụng cho những trường hợp chưa đủ điều kiện miễn. Tuy nhiên, người phạm tội có những tình tiết đặc biệt. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Bộ luật Hình sự. Ví dụ như thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại. Hoặc phạm tội lần đầu, ít nghiêm trọng. Người phạm tội có hoàn cảnh gia đình đặc biệt. Tòa án sẽ căn cứ vào các tình tiết này. Tòa án quyết định giảm nhẹ hình phạt. Mức giảm phải phù hợp với tính chất vụ án. Nó cũng phải đảm bảo mục đích giáo dục, phòng ngừa.
3.3. So sánh quy định Việt Nam và một số nước.
Quy định về miễn, giảm hình phạt không chỉ có ở Việt Nam. Nhiều nước trên thế giới cũng có chế định tương tự. So sánh cho thấy sự tương đồng và khác biệt. Các nước thường có chính sách khoan hồng. Tuy nhiên, điều kiện và phạm vi áp dụng có thể khác nhau. Ví dụ, một số nước tập trung vào các biện pháp thay thế hình phạt tù. Việt Nam có các quy định rõ ràng về miễn, giảm hình phạt. Điều này phản ánh đặc thù chính sách hình sự. Nó cũng thể hiện truyền thống nhân đạo của dân tộc. Việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế giúp hoàn thiện pháp luật. Nó giúp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này.
IV. Thực tiễn áp dụng Hoàn thiện miễn giảm hình phạt
Thực tiễn áp dụng quy định miễn, giảm hình phạt của Tòa án nhân dân các cấp là rất quan trọng. Nó cho thấy hiệu quả của pháp luật. Việc này cũng bộc lộ những vướng mắc, bất cập. Giai đoạn 2010-2020, số liệu thống kê từ Tòa án nhân dân Tối cao chỉ ra xu hướng. Có sự tăng giảm trong các trường hợp miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự. Đặc biệt, việc miễn hình phạt có điều kiện đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cần được quan tâm. Tài liệu này phân tích sâu các trường hợp thực tế. Nó đánh giá sự phù hợp của quyết định hình phạt. Mục tiêu là đảm bảo tính công bằng, nhân đạo.
4.1. Thực trạng áp dụng miễn giảm hình phạt của Tòa án.
Tòa án nhân dân các cấp đã áp dụng miễn, giảm hình phạt. Việc này thể hiện sự linh hoạt của pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy một số hạn chế. Có thể có sự thiếu thống nhất trong việc đánh giá tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Một số trường hợp áp dụng chưa thực sự hiệu quả. Việc miễn chấp hành hình phạt cần được giám sát chặt chẽ hơn. Dữ liệu từ Tòa án nhân dân Tối cao cung cấp cái nhìn tổng thể. Nó giúp xác định những điểm mạnh và điểm yếu. Từ đó, cần có biện pháp khắc phục. Mục tiêu là nâng cao chất lượng xét xử.
4.2. Những yêu cầu hoàn thiện pháp luật về miễn giảm hình phạt.
Pháp luật về miễn, giảm hình phạt cần tiếp tục được hoàn thiện. Yêu cầu đặt ra là đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng. Điều kiện áp dụng cần được cụ thể hóa hơn. Việc này tránh sự tùy tiện trong quyết định hình phạt. Pháp luật cần phù hợp với thực tiễn xã hội. Nó cần đáp ứng yêu cầu của chính sách hình sự nhân đạo. Cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự Việt Nam. Điều này nhằm khắc phục những bất cập. Nó cũng giúp đồng bộ với các luật liên quan. Việc hoàn thiện pháp luật góp phần xây dựng hệ thống tư pháp công bằng, văn minh.
4.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng miễn giảm hình phạt.
Để nâng cao hiệu quả, nhiều giải pháp cần được triển khai. Đầu tiên, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cho thẩm phán. Họ cần nắm vững các quy định về miễn, giảm hình phạt. Việc thống nhất nhận thức pháp luật là rất quan trọng. Cần có hướng dẫn cụ thể từ Tòa án nhân dân Tối cao. Nó giúp áp dụng đúng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát là cần thiết. Điều này đảm bảo các quyết định hình phạt được đưa ra khách quan. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý án. Nó giúp theo dõi quá trình chấp hành án. Từ đó, quyết định miễn chấp hành hình phạt có cơ sở vững chắc. Các giải pháp này góp phần thực hiện chính sách hình sự nhân đạo hiệu quả hơn.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (168 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ QUỲNH MIỄN, GIẢM HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI, 2020 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ QUỲNH MIỄN, GIẢM HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số: 9.04 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS. Cao Thị Oanh HÀ NỘI, 2020 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học. Các số liệu trong Luận án bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết quả nghiên cứu nêu trong Luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả Luận án Trần Thị Quỳnh MỤC LỤC MỞ ĐẦU. 1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU. Tình hình nghiên cứu. Đánh giá các công trình khoa học và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu.
26 Chƣơng 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ MIỄN, GIẢM HÌNH PHẠT. Những vấn đề lý luận về miễn, giảm hình phạt trong pháp luật hình sự. Lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về miễn, giảm hình phạt từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015. 57 Chƣơng 3: QUY ĐỊNH VỀ MIỄN, GIẢM HÌNH PHẠT TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI.
Quy định về miễn, giảm hình phạt trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015. Quy định về miễn, giảm hình phạt trong Bộ luật Hình sự một số nước trên thế giới. 87 Chƣơng 4: THỰC TIỄN ÁP DỤNG, NỘI DUNG HOÀN THIỆN VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH VỀ MIỄN, GIẢM HÌNH PHẠT. Thực tiễn áp dụng quy định Bộ luật Hình sự Việt Nam về miễn, giảm hình phạt của Tòa án nhân dân các cấp.
Những yêu cầu và nội dung hoàn thiện quy định về miễn, giảm hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định về miễn, giảm hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015. 137 KẾT LUẬN CHUNG. 149 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ.
151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 152 BẢNG TỪ VIẾT TẮT Bộ luật Hình sự: BLHS Giáo sư: GS. Nghiên cứu sinh: NCS. Phó giáo sư: PGS.
Tiến sĩ khoa học: TSKH. Tòa án nhân dân: TAND Trách nhiệm hình sự: TNHS DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4. Tình hình miễn hình phạt hoặc miễn TNHS của TAND các cấp giai đoạn 2010 - 2020 (Nguồn: TANDTC). Tình hình miễn hình phạt có điều kiện đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của TAND các cấp giai đoạn 2010 - 2020 (Nguồn: TANDTC).
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước có mục đích không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội [66], mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Đây cũng là mục đích cơ bản của hình phạt được quy định tại Điều 31 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 [66]. Tuy nhiên, không phải lúc nào hình phạt cũng được đem ra để áp dụng đối với người, pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi phạm tội là sẽ có hiệu quả cao và đáp ứng được yêu cầu của chính sách hình sự và các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự (như: phân hóa trách nhiệm hình sự (TNHS), nhân đạo, công bằng), vì không phải mọi người, pháp nhân thương mại phạm tội đều bị áp dụng một hình phạt giống nhau dù là cùng phạm một tội danh. Do đó, bên cạnh chế định hình phạt, pháp luật hình sự cần phải có cả chế định miễn, giảm hình phạt, bởi miễn, giảm hình phạt chính là phương thức, là biện pháp để thực hiện các chính sách và nguyên tắc của luật hình sự, bảo đảm tính hiệu quả của pháp luật hình sự trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm.
Ở Việt Nam, quy định về miễn, giảm hình phạt đã có từ lâu trong lịch sử. Từ thời đại phong kiến, miễn, giảm hình phạt đã được quy định tại các Bộ luật như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long. Sau khi giành được độc lập đất nước năm 1945, vấn đề miễn, giảm hình phạt cũng đã được nhắc đến và quy định rải rác ở các văn bản pháp lý mang tính đơn lẻ như sắc lệnh, thông tư, pháp lệnh hay các báo cáo tổng kết công tác của Tòa án nhân dân (TAND) tối cao. Sau này, khi pháp điển hóa luật hình sự, chế định miễn, giảm hình phạt đã được ghi nhận chính thức trong BLHS năm 1985 và tiếp tục được quy định tại BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với xu hướng ngày càng hoàn thiện và mở rộng hơn về đối tượng miễn, giảm hình phạt.
Như vậy, lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam đã ghi nhận miễn, giảm hình phạt là một quyết định đặc biệt của Tòa án có tính nhân đạo sâu sắc trong quá trình xét xử. Việc Tòa án quyết định miễn, giảm hình phạt cho người, pháp nhân thương mại phạm tội không có nghĩa làm giảm tính răn đe, trừng trị của pháp luật bởi Tòa án chỉ miễn hình phạt khi thấy rằng việc áp dụng hình phạt là không cần thiết hoặc giảm hình phạt khi 1 thấy rằng mức hình phạt giảm là đã đủ sức trừng trị, giáo dục và phòng ngừa. Hơn nữa, việc miễn, giảm hình phạt vừa thể hiện chính sách nhân đạo, vừa có ý nghĩa tiết kiệm các chi phí để thực thi biện pháp cưỡng chế, thúc đẩy tính thiện, động viên, khuyến khích người, pháp nhân thương mại chứng tỏ khả năng tự giáo dục, tự cải tạo, tạo điều kiện cho họ sớm tái hòa nhập với cộng đồng, trở thành người có ích cho gia đình và cho xã hội và thúc đẩy ý thức tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật của pháp nhân. Tuy nhiên, trên cả ba phương diện lý luận, lập pháp và thực tiễn xét xử, chế định về miễn, giảm hình phạt vẫn còn nhiều bất cập, cụ thể: Thứ nhất, về phương diện lý luận, miễn, giảm hình phạt chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện.
Qua khảo sát tình hình nghiên cứu thì miễn, giảm hình phạt mới chỉ được đề cập đến như một khía cạnh liên quan khi nghiên cứu các chế định khác hoặc nghiên cứu chung của các công trình nghiên cứu về chính sách, nguyên tắc của luật hình sự, việc quyết định hình phạt. Ngoài ra, trong khoa học luật hình sự đã có một số công trình đề cập đến miễn hình phạt, nhưng chưa có công trình nào đề cập đến khái niệm, cơ sở, bản chất pháp lý và phân loại các trường hợp giảm hình phạt trong xét xử của Tòa án, cũng như làm sáng tỏ hậu quả pháp lý của miễn, giảm hình phạt. Đặc biệt, đến nay chưa có một công trình nào mang tính tổng thể, hệ thống và xây dựng khung lý thuyết về vấn đề miễn, giảm hình phạt và những vấn đề lý luận ở cấp độ một Luận án tiến sĩ luật học cùng một lúc về miễn, giảm hình phạt kể từ khi ban hành ba BLHS Việt Nam đến nay (các năm 1985, 1999 và 2015). Thứ hai, về phương diện lập pháp, lần pháp điển hóa thứ ba luật hình sự - BLHS năm 2015 mặc dù đã có những sửa đổi, hoàn thiện quy định về miễn, giảm hình phạt, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về mặt lập pháp đối với chế định miễn, giảm hình phạt cũng như thực tiễn áp dụng.
Chẳng hạn, cả ba BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009 và BLHS năm 2015 vẫn chưa đưa ra được định nghĩa pháp lý của khái niệm miễn hình phạt, giảm hình phạt; miễn, giảm hình phạt; hậu quả pháp lý của pháp nhân thương mại được miễn hình phạt; các trường hợp miễn hình phạt vẫn quy định rải rác trong BLHS; chưa có sự thống nhất giữa luật nội dung (BLHS) và luật hình thức (BLTTHS) trong việc quy định về miễn hình phạt; đặc biệt quy định về miễn hình phạt vẫn còn quy định chung cùng với chế định miễn TNHS, chưa có sự phân hóa với miễn TNHS và còn mang tính chất tùy nghi lựa chọn (“có thể”), chưa có quy định về trường hợp đương nhiên được miễn hình phạt. Điều 2 này cũng làm hạn chế việc áp dụng chế định miễn hình phạt trong thực tiễn xét xử. Về giảm hình phạt thì chưa có quy định về phương pháp giảm nhẹ, công thức giảm nhẹ khi có tình tiết giảm nhẹ cũng như các trường hợp loại trừ việc giảm nhẹ dù có tình tiết giảm nhẹ TNHS, dẫn đến việc giảm nhẹ tùy thuộc vào ý chí chủ quan của người Thẩm phán, nên mới dẫn đến việc giảm nhẹ ở một số vụ án còn chưa đúng, chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo. Tòa án nhân dân tối cao cũng chưa ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp miễn, giảm hình phạt đối với người phạm tội, việc miễn hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội và vấn đề xóa án tích; nội dung của một số tình tiết để giảm nhẹ TNHS với tư cách là điều kiện giảm hình phạt; v.
Thứ ba, về phương diện thực tiễn, trong thực tiễn áp dụng, miễn hình phạt ít được áp dụng và còn có sai sót; việc giảm hình phạt được áp dụng phổ biến, khoảng 70% vụ án có áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS để giảm hình phạt cho người phạm tội, nhưng vẫn còn nhiều vụ án áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS và giảm hình phạt còn chưa chính xác. Việc các nhà lập pháp quy định hình phạt theo khung vì không thể tính hết và quy định hết tất cả các trường hợp phạm tội khác nhau để quy định hình phạt tương ứng đối với từng trường hợp phạm tội có thể xảy ra trên thực tế đã làm tăng khả năng lựa chọn của Tòa án khi quyết định hình phạt, cũng như quyết định giảm hình phạt nhưng cũng dẫn đến không ít trường hợp giảm hình phạt còn tùy tiện do phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của Thẩm phán.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Nghiên cứu miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?
Nghiên cứu chi tiết về miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam. Phân tích căn cứ, điều kiện và thủ tục pháp lý.
Luận án "Nghiên cứu miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2020.
Luận án "Nghiên cứu miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Nghiên cứu miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự. Danh mục: Luật Hình Sự.
Luận án "Nghiên cứu miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam" có bao nhiêu trang?
Luận án "Nghiên cứu miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam" có 168 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Nghiên cứu miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.