Chức năng buộc tội trong khởi tố điều tra vụ án hình sự - Viện Hàn lâm KHXH VN
Nghiên cứu chuyên sâu về vai trò và thực tiễn áp dụng chức năng buộc tội tại giai đoạn khởi tố điều tra vụ án hình sự, đóng góp cho cải cách tư pháp.
Luật hình sự và tố tụng hình sự
Luan An
Luận án
Năm xuất bản
Số trang
212
Thời gian đọc
32 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tóm tắt nội dung
I. Khái niệm và đặc điểm chức năng buộc tội hình sự
Chức năng buộc tội là một trong ba chức năng cơ bản của tố tụng hình sự. Hai chức năng còn lại là chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Chức năng buộc tội xuất hiện đầu tiên. Đây là cơ sở làm phát sinh chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Lý luận tố tụng hình sự xác định chức năng buộc tội là phương diện hoạt động chủ yếu nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội. Hoạt động này định hướng cho việc giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, toàn diện. Giai đoạn khởi tố, điều tra giữ vai trò nền tảng cho chức năng buộc tội. Tại giai đoạn này, cơ quan có thẩm quyền thu thập chứng cứ xác định dấu hiệu tội phạm. Chứng cứ thu thập được sẽ chứng minh hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi. Nhận thức đúng chức năng buộc tội mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn.
1.1. Định nghĩa chức năng buộc tội trong tố tụng
Chức năng buộc tội là hoạt động chứng minh một người đã thực hiện tội phạm. Hoạt động bắt đầu từ khi phát hiện dấu hiệu tội phạm. Chủ thể buộc tội thu thập chứng cứ, xác định tội danh và đề nghị xử lý người phạm tội. Khái niệm này gắn liền với mục đích đấu tranh phòng, chống tội phạm. Buộc tội đối lập với bào chữa trong mô hình tố tụng tranh tụng.
1.2. Đặc điểm chức năng buộc tội khi khởi tố điều tra
Chức năng buộc tội mang tính quyền lực nhà nước rõ rệt. Hoạt động này do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện. Đặc điểm nổi bật là tính chủ động trong thu thập chứng cứ. Cơ quan điều tra và viện kiểm sát phối hợp chặt chẽ. Hoạt động tuân thủ trình tự, thủ tục luật định. Mục tiêu là bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.
1.3. Vị trí và vai trò trong giải quyết vụ án
Chức năng buộc tội giữ vị trí trung tâm trong mô hình tố tụng. Vai trò của chức năng thể hiện qua việc khởi động toàn bộ quá trình tố tụng. Không có buộc tội thì không phát sinh hoạt động xét xử. Chức năng này quyết định chất lượng giải quyết vụ án hình sự.
II. Nguyên tắc và nội dung chức năng buộc tội tố tụng
Chức năng buộc tội vận hành theo những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Nguyên tắc suy đoán vô tội đặt ra giới hạn cho hoạt động buộc tội. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội. Nội dung chức năng buộc tội gồm nhiều hoạt động liên kết chặt chẽ. Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm. Tiếp theo là khởi tố vụ án và khởi tố bị can. Hoạt động điều tra thu thập chứng cứ làm sáng tỏ sự thật. Áp dụng biện pháp ngăn chặn cũng nằm trong nội dung buộc tội. Mọi hoạt động phải dựa trên chứng cứ và quy định pháp luật. Sự rõ ràng trong nội dung giúp khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng tố tụng. Phân định hợp lý nội dung bảo đảm các chủ thể thực hiện đúng vai trò.
2.1. Nguyên tắc thực hiện chức năng buộc tội
Nguyên tắc suy đoán vô tội chi phối toàn bộ hoạt động buộc tội. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế đòi hỏi tuân thủ trình tự luật định. Trách nhiệm chứng minh thuộc về bên buộc tội. Nguyên tắc tôn trọng quyền con người giới hạn các biện pháp cưỡng chế. Mọi nghi ngờ chưa được loại trừ phải giải thích có lợi cho người bị buộc tội.
2.2. Nội dung cụ thể của hoạt động buộc tội
Nội dung gồm tiếp nhận và giải quyết tố giác tội phạm. Khởi tố vụ án mở đầu quá trình buộc tội chính thức. Khởi tố bị can xác định người bị nghi thực hiện tội phạm. Thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ là hoạt động cốt lõi. Đề nghị truy tố khép lại giai đoạn điều tra.
2.3. Mối quan hệ với chức năng tố tụng khác
Chức năng buộc tội làm phát sinh chức năng bào chữa. Hai chức năng đối trọng nhau trong quá trình tố tụng. Chức năng xét xử đánh giá kết quả buộc tội. Sự phân định rõ ràng ba chức năng bảo đảm tính khách quan. Cân bằng giữa các chức năng tránh tình trạng quyền lực tập trung.
III. Chủ thể thực hiện chức năng buộc tội điều tra
Chủ thể buộc tội là cơ quan và người có thẩm quyền theo luật định. Tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về phạm vi chủ thể buộc tội. Quan điểm hẹp cho rằng chỉ viện kiểm sát thực hiện chức năng này. Quan điểm rộng thừa nhận vai trò của cơ quan điều tra. Trong giai đoạn khởi tố, điều tra, cơ quan điều tra giữ vai trò chủ đạo. Điều tra viên trực tiếp thu thập chứng cứ buộc tội. Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. Kiểm sát viên giám sát tính hợp pháp của hoạt động điều tra. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng tham gia. Việc xác định đúng chủ thể giúp phân định trách nhiệm rõ ràng. Mỗi chủ thể thực hiện đúng và đủ chức năng theo thẩm quyền. Sự phối hợp giữa các chủ thể nâng cao chất lượng buộc tội.
3.1. Cơ quan điều tra và điều tra viên
Cơ quan điều tra giữ vai trò chủ đạo trong giai đoạn điều tra. Điều tra viên trực tiếp thu thập và củng cố chứng cứ. Hoạt động khám nghiệm, hỏi cung, đối chất phục vụ buộc tội. Cơ quan điều tra đề xuất khởi tố bị can. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan này.
3.2. Viện kiểm sát và kiểm sát viên
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố ngay từ khi khởi tố. Kiểm sát viên kiểm sát hoạt động điều tra. Viện kiểm sát phê chuẩn các quyết định tố tụng quan trọng. Cơ quan này quyết định truy tố bị can ra tòa. Vai trò công tố gắn liền với chức năng buộc tội.
3.3. Cơ quan khác được giao nhiệm vụ điều tra
Một số cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra. Bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm thuộc nhóm này. Các cơ quan thực hiện hoạt động điều tra ban đầu. Phạm vi thẩm quyền giới hạn theo lĩnh vực quản lý. Hoạt động góp phần vào chức năng buộc tội chung.
IV. Thực trạng pháp luật về chức năng buộc tội
Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam ghi nhận chức năng buộc tội qua nhiều quy định. Bộ luật Tố tụng hình sự là nền tảng pháp lý cơ bản. Các quy định xác định thẩm quyền của chủ thể buộc tội. Luật quy định trình tự khởi tố vụ án và khởi tố bị can. Quy định về thu thập chứng cứ bảo đảm tính hợp pháp. Tuy nhiên, quy định hiện hành còn bộc lộ hạn chế. Một số khái niệm chưa được định nghĩa rõ ràng. Phạm vi chức năng buộc tội trong giai đoạn điều tra chưa thống nhất. Quy định về phân định trách nhiệm giữa các chủ thể còn chồng chéo. Cơ chế kiểm soát hoạt động buộc tội cần hoàn thiện. So sánh với pháp luật một số nước cho thấy nhiều bài học. Kinh nghiệm quốc tế gợi mở hướng hoàn thiện cho Việt Nam.
4.1. Quy định Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành
Bộ luật Tố tụng hình sự quy định chi tiết hoạt động buộc tội. Luật xác định thẩm quyền khởi tố của cơ quan điều tra. Quy định về biện pháp ngăn chặn bảo đảm hoạt động điều tra. Trình tự thu thập chứng cứ được luật hóa cụ thể. Quy định bảo vệ quyền của người bị buộc tội.
4.2. Hạn chế và bất cập trong quy định pháp luật
Khái niệm chức năng buộc tội chưa được định nghĩa thống nhất. Phạm vi chủ thể buộc tội còn gây tranh luận. Quy định phân định trách nhiệm còn chồng chéo. Cơ chế kiểm soát quyền lực chưa đầy đủ. Một số thủ tục thiếu tính khả thi trong thực tế.
4.3. Kinh nghiệm pháp luật một số nước trên thế giới
Pháp luật nhiều nước quy định rõ chức năng buộc tội. Mô hình tố tụng tranh tụng đề cao vai trò công tố. Một số nước trao quyền điều tra cho công tố viên. Kinh nghiệm về kiểm soát quyền lực rất giá trị. Bài học quốc tế gợi mở hướng hoàn thiện cho Việt Nam.
V. Thực tiễn thực hiện chức năng buộc tội Việt Nam
Thực tiễn thực hiện chức năng buộc tội đạt nhiều kết quả tích cực. Cơ quan điều tra và viện kiểm sát phối hợp ngày càng chặt chẽ. Chất lượng thu thập chứng cứ từng bước nâng cao. Tỷ lệ giải quyết vụ án hình sự đúng thời hạn cải thiện. Hoạt động buộc tội góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm hiệu quả. Bên cạnh kết quả, thực tiễn vẫn tồn tại nhiều vướng mắc. Một số vụ án còn xảy ra oan, sai. Việc bỏ lọt tội phạm vẫn diễn ra ở một số nơi. Chất lượng điều tra viên chưa đồng đều. Cơ sở vật chất phục vụ điều tra còn thiếu thốn. Áp lực thời hạn ảnh hưởng đến chất lượng buộc tội. Nhận diện đúng vướng mắc là cơ sở đề xuất giải pháp.
5.1. Kết quả đạt được trong khởi tố điều tra
Số vụ án được khởi tố, điều tra đúng quy định tăng lên. Chất lượng chứng cứ buộc tội ngày càng vững chắc. Tỷ lệ truy tố đúng người, đúng tội cải thiện rõ. Sự phối hợp liên ngành phát huy hiệu quả. Hoạt động buộc tội bảo vệ trật tự pháp luật.
5.2. Hạn chế trong thực tiễn thực hiện chức năng
Một số vụ án xảy ra oan, sai gây bức xúc. Tình trạng bỏ lọt tội phạm vẫn còn. Chứng cứ thu thập đôi khi thiếu khách quan. Năng lực điều tra viên chưa đồng đều. Áp lực thời hạn làm giảm chất lượng điều tra.
5.3. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế
Quy định pháp luật còn bất cập là nguyên nhân hàng đầu. Năng lực đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu. Cơ sở vật chất và kỹ thuật còn hạn chế. Cơ chế phối hợp liên ngành chưa thông suốt. Công tác giám sát hoạt động buộc tội chưa chặt chẽ.
VI. Giải pháp bảo đảm thực hiện đúng chức năng buộc tội
Bảo đảm thực hiện đúng chức năng buộc tội đòi hỏi giải pháp đồng bộ. Hoàn thiện pháp luật là giải pháp nền tảng. Cần định nghĩa rõ khái niệm và phạm vi chức năng buộc tội. Quy định cần phân định trách nhiệm giữa các chủ thể buộc tội. Nâng cao năng lực đội ngũ điều tra viên và kiểm sát viên là yêu cầu cấp thiết. Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cần thực hiện thường xuyên. Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ hoạt động điều tra. Ứng dụng khoa học, công nghệ vào thu thập chứng cứ. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong buộc tội. Tăng cường giám sát bảo đảm không oan, sai. Các giải pháp gắn với yêu cầu cải cách tư pháp. Mục tiêu cuối cùng là bảo vệ công lý và quyền con người.
6.1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự
Cần định nghĩa rõ khái niệm chức năng buộc tội. Quy định phạm vi chủ thể buộc tội một cách thống nhất. Phân định trách nhiệm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Bổ sung cơ chế kiểm soát quyền lực buộc tội. Sửa đổi quy định thiếu tính khả thi trong thực tế.
6.2. Nâng cao năng lực đội ngũ chủ thể buộc tội
Đào tạo chuyên sâu cho điều tra viên và kiểm sát viên. Bồi dưỡng kỹ năng thu thập và đánh giá chứng cứ. Nâng cao bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp. Cập nhật kiến thức pháp luật và công nghệ mới. Xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp và liêm chính.
6.3. Tăng cường cơ chế kiểm soát và giám sát
Tăng cường kiểm sát hoạt động điều tra của viện kiểm sát. Xây dựng cơ chế giám sát chéo giữa các cơ quan. Bảo đảm quyền bào chữa làm đối trọng với buộc tội. Ứng dụng công nghệ ghi âm, ghi hình khi hỏi cung. Mục tiêu là phòng ngừa oan, sai và bỏ lọt tội phạm.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (212 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI Trần Ngọc Minh CHỨC NĂNG BUỘC TỘI TRONG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số: 9380104 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. Võ Khánh Vinh 2. Nguyễn Đức Hạnh Hà Nội - năm 2023 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung thực.
Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN ÁN MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU 1 Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 10 1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 10 1.
Tình hình nghiên cứu ở trong nước 12 1. Đánh giá kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn 24 đề luận án tiếp tục nghiên cứu 1. Giả thuyết nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu 27 Chương 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG BUỘC 30 TỘI TRONG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 2.
Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò và ý nghĩa của chức năng buộc tội 30 trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự 2. Nguyên tắc, nội dung, chủ thể của chức năng buộc tội trong khởi tố, 52 điều tra vụ án hình sự 2. Quy định pháp luật về chức năng buộc tội trong khởi tố, điều tra vụ án 68 hình sự của một số nước trên thế giới và ý nghĩa đối với tố tụng hình sự Việt Nam 2. Các yếu tố tác động đến chức năng buộc tội trong khởi tố, điều tra vụ 80 án hình sự Chương 3.
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ 84 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHỨC NĂNG BUỘC TỘI TRONG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 3. Quy định của pháp luật Việt Nam về chức năng buộc tội trong khởi 84 tố, điều tra vụ án hình sự 3. Thực tiễn thực hiện chức năng buộc tội trong khởi tố, điều tra vụ án 122 hình sự ở Việt Nam Chương 4. YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN 147 ĐÚNG CHỨC NĂNG BUỘC TỘI TRONG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 4.
Yêu cầu thực hiện đúng chức năng buộc tội trong khởi tố, điều tra vụ 147 án hình sự 4. Giải pháp bảo đảm thực hiện đúng chức năng buộc tội trong khởi tố, 157 điều tra vụ án hình sự Kết luận 182 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 184 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 186 PHỤ LỤC 197 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự BLHS Bộ luật hình sự BPNC Biện pháp ngăn chặn CNBC Chức năng bào chữa CNBT Chức năng buộc tội CNTT Chức năng tố tụng CNXX Chức năng xét xử CQĐT Cơ quan điều tra CTBT Chủ thể buộc tội ĐTV Điều tra viên KSV Kiểm sát viên HĐXX Hội đồng xét xử NCS Nghiên cứu sinh TA Tòa án TTHS Tố tụng hình sự VAHS Vụ án hình sự VKS Viện kiểm sát VKSND Viện kiểm sát nhân dân MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Lý luận Tố tụng hình sự (TTHS) chỉ ra rằng bất kỳ một hệ thống TTHS nào cũng bao gồm những yếu tố cơ bản nằm trong mối quan hệ tổng thể, đóng vai trò là hệ thống xương sống của TTHS, bao gồm: Mục đích của TTHS; các nguyên tắc cơ bản của TTHS; các chức năng của TTHS, địa vị pháp lý của các chủ thể trong TTHS; các giai đoạn TTHS; chứng cứ và chứng minh trong TTHS. Chức năng TTHS là những phương diện hoạt động chủ yếu định hướng cho các hoạt động TTHS nhằm giải quyết vụ án hình sự (VAHS) một cách đúng đắn, khách quan, toàn diện, bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia vào quá trình TTHS.
Chức năng TTHS là vấn đề không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa lớn về mặt thực tiễn. Nhận thức đúng đắn, đầy đủ và phân định rõ ràng, hợp lý các chức năng tố tụng (CNTT) là cơ sở để xác định vị trí, vai trò, phạm vi của từng chức năng trong sự vận hành của TTHS, góp phần khắc phục tình trạng chồng chéo trong việc thực hiện các CNTT, tình trạng không thực hiện đúng, không thực hiện hết chức năng của các chủ thể trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm. Hiện nay, có nhiều quan điểm về chức năng của TTHS song nhìn chung phần lớn các nghiên cứu đều thống nhất về những chức năng cơ bản của TTHS bao gồm 3 chức năng: Chức năng buộc tội (CNBT), chức năng gỡ tội hay chức năng bào chữa (CNBC) và chức năng xét xử (CNXX). Trong các CNTT, CNBT là một trong những chức năng cơ bản và có tầm quan trọng đặc biệt, là cơ sở xuất hiện CNBC và CNXX.
Tuy nhiên, dưới góc độ lý luận, còn tồn tại nhiều quan điểm khoa học không thống nhất về CNBT: nội dung, phạm vi, vị trí, mối quan hệ của CNBT với các chức năng khác của TTHS, cũng như các chủ thể của CNBT. Có những quan điểm cho rằng CNBT chỉ xuất hiện trong giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử, thẩm quyền thực hiện CNBT chỉ thuộc về Viện kiểm sát (VKS), mà chưa đánh giá đúng việc thực hiện chức năng này trong giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS và sự tham gia của các chủ thể buộc tội (CTBT) khác như Cơ quan 1 điều tra (CQĐT), Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình giải quyết VAHS, trong đó, các cơ quan có thẩm quyền thu thập chứng cứ để xác định dấu hiệu của tội phạm, xác định tội phạm, người thực hiện tội phạm và những vấn đề khác có liên quan đến việc giải quyết đúng đắn VAHS. Trong giai đoạn này, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sử dụng các chứng cứ thu thập được để bắt đầu thực hiện CNBT theo thẩm quyền của mình.
Do vậy, nếu không có quá trình thực hiện CNBT trong giai đoạn khởi tố, điều tra thì không thể có CNBT trong những giai đoạn tố tụng tiếp theo. Mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) đã quy định khá đầy đủ các vấn đề liên quan đến CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS, như: nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể thực hiện CNBT; trình tự, thủ tục tố tụng liên quan đến thực hiện CNBT; việc bảo đảm quyền con người trong quá trình thực hiện CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS… Tuy nhiên, quy định của BLTTHS hiện hành về CNBT trong những giai đoạn này vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định như: chưa xác định rõ các chủ thể của CNBT, chưa phân định rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa các chủ thể thực hiện CNBT với chủ thể thực hiện các chức năng khác trong TTHS; chưa xác định rõ nội dung, phạm vi CNBT; vị trí của các chủ thể thực hiện CNBC so với các chủ thể thực hiện CNBT chưa có sự tương xứng để đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được thực hiện hiệu quả. Và đặc biệt, chưa có lý luận đầy đủ, hệ thống về CNBT nói chung và CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS nói riêng. Chính điều này đã ảnh hưởng nhất định đến chất lượng, hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như yêu cầu bảo vệ quyền con người trong TTHS, đặc biệt là quyền con người của người bị buộc tội.
Thực tế cho thấy, việc thực hiện CNBT trong giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS hiện nay chưa phát huy hết hiệu quả trong việc phát hiện nhanh chóng, kịp thời, chính xác mọi tội phạm, vẫn còn tình trạng buộc tội oan, sai trong khởi tố, điều tra, bắt, giam giữ, bức cung, mớm cung, nhục hình, tình trạng bỏ lọt tội phạm, trả hồ sơ điều tra bổ sung, đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra khi không đủ chứng cứ để buộc tội dẫn 2 đến việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ tư pháp còn có những hạn chế nhất định như: trình độ nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn hạn chế, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp dẫn đến những sai phạm trong quá trình tiến hành tố tụng. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là việc các chủ thể có thẩm quyền chưa nhận thức đúng đắn, đầy đủ về CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS, chưa xác định đúng vị trí, vai trò của mình trong quá trình thực hiện chức năng này. Thực tế đó đòi hỏi công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm phải luôn quan tâm đến CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn.
Thời gian qua, đã có nhiều công trình khoa học, diễn đàn nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau của CNBT trong TTHS. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về CNBT nói chung và CNBT trong khởi tố, điều tra VAHS nói riêng. Nhận thức đúng đắn và đầy đủ những vấn đề nêu trên là việc làm có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thiện pháp luật TTHS của Việt Nam, đáp ứng yêu cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới: Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, được phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả; nền hành chính, tư pháp chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại; bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, thực sự chuyên nghiệp, liêm chính;.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án chức năng buộc tội trong khởi tố điều tra hình sự" nghiên cứu về vấn đề gì?
Nghiên cứu chuyên sâu về vai trò và thực tiễn áp dụng chức năng buộc tội tại giai đoạn khởi tố điều tra vụ án hình sự, đóng góp cho cải cách tư pháp.
Luận án "Luận án chức năng buộc tội trong khởi tố điều tra hình sự" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2023.
Luận án "Luận án chức năng buộc tội trong khởi tố điều tra hình sự" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án chức năng buộc tội trong khởi tố điều tra hình sự" thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự. Danh mục: Luật Hình Sự.
Luận án "Luận án chức năng buộc tội trong khởi tố điều tra hình sự" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án chức năng buộc tội trong khởi tố điều tra hình sự" có 212 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án chức năng buộc tội trong khởi tố điều tra hình sự" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.