Luận án Tiến sĩ Luật học: Quyền công đoàn người lao động trong doanh nghiệp Việt Nam - Vũ Anh Đức

Nghiên cứu tiến sĩ về quyền công đoàn người lao động trong doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Luật Hiến pháp và luật Hành chính

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ luật học

Năm xuất bản

Số trang

158

Thời gian đọc

24 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I.Tổng quan quyền công đoàn người lao động Cơ sở pháp lý

Quyền công đoàn của người lao động là quyền cơ bản, được quốc tế công nhận. Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 đều khẳng định quyền thành lập, gia nhập công đoàn. Mục đích chính là bảo vệ quyền lợi người lao động. Ở Việt Nam, quyền công đoàn được ghi nhận sớm, từ Hiến pháp 1946 và Sắc lệnh 1947. Các văn bản pháp luật sau này, như Luật Công đoàn và Bộ luật Lao động, tiếp tục phát triển, hoàn thiện quyền này. Hành lang pháp lý được thiết lập, đảm bảo người lao động thực hiện quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn. Việc thực hiện các quyền này góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, công bằng xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội.

1.1. Định nghĩa và tầm quan trọng quyền công đoàn

Quyền công đoàn bao gồm quyền thành lập, gia nhập và hoạt động trong tổ chức công đoàn. Đây là công cụ thiết yếu để người lao động bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Quyền này giúp cân bằng quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tổ chức công đoàn đại diện cho tiếng nói tập thể, thúc đẩy môi trường làm việc công bằng, minh bạch. Tầm quan trọng của quyền công đoàn được nhấn mạnh trong các công ước quốc tế và pháp luật quốc gia. Nó khẳng định giá trị con người, đảm bảo các quyền dân sự và kinh tế của lực lượng lao động.

1.2. Lịch sử hình thành quyền công đoàn tại Việt Nam

Tại Việt Nam, quyền công đoàn đã có lịch sử lâu đời. Hiến pháp năm 1946 ghi nhận quyền tự do tổ chức. Sắc lệnh số 29/SL năm 1947 định nghĩa công đoàn là đoàn thể bảo vệ quyền lợi công nhân. Qua các thời kỳ, các bản Hiến pháp và văn bản pháp lý quan trọng khác như Luật Công đoàn, Bộ luật Lao động luôn khẳng định và phát triển quyền này. Hệ thống pháp luật dần hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho người lao động thực hiện quyền công đoàn. Sự phát triển này phản ánh cam kết của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động và xây dựng quan hệ lao động tiến bộ.

II.Pháp luật về quyền công đoàn tại Việt Nam Quy định chung

Hệ thống pháp luật Việt Nam đã xây dựng một khuôn khổ toàn diện cho quyền công đoàn. Luật Công đoàn và Bộ luật Lao động là hai văn bản trụ cột. Chúng quy định chi tiết về thành lập, hoạt động của tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp. Người lao động được đảm bảo các quyền cơ bản như tự nguyện gia nhập công đoàn, tham gia các hoạt động công đoàn. Pháp luật cũng quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc tạo điều kiện cho công đoàn hoạt động. Mục tiêu là thúc đẩy quan hệ lao động hài hòa, ổn định, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.

2.1. Các văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh

Quyền công đoàn tại Việt Nam được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Công đoàn năm 2012 và Bộ luật Lao động năm 2019. Ngoài ra, các nghị định, thông tư hướng dẫn cũng cụ thể hóa các quy định này. Các văn bản này quy định về thành lập, cơ cấu, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức công đoàn. Chúng cũng nêu rõ quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động đối với hoạt động công đoàn. Việc tuân thủ các quy định này là bắt buộc, nhằm đảm bảo quyền lợi người lao động được thực hiện đầy đủ.

2.2. Quyền cơ bản của người lao động trong công đoàn

Người lao động có quyền tự do thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn. Quyền này bao gồm quyền bầu cử, ứng cử vào ban lãnh đạo công đoàn, quyền tham gia thảo luận, quyết định các vấn đề của công đoàn. Người lao động được công đoàn bảo vệ khi quyền lợi bị xâm phạm. Công đoàn cũng đại diện người lao động trong thương lượng tập thể, đối thoại tại nơi làm việc. Việc thực hiện những quyền này là nền tảng để người lao động tự bảo vệ và phát huy vai trò của mình.

2.3. Trách nhiệm của tổ chức công đoàn cơ sở

Tổ chức công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp có trách nhiệm đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động. Công đoàn tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật lao động. Tổ chức công đoàn cơ sở cũng là cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động. Công đoàn góp phần xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa, ổn định trong doanh nghiệp.

III.Thực trạng quyền công đoàn Thách thức và hạn chế

Mặc dù có khung pháp lý vững chắc, việc thực hiện quyền công đoàn của người lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế. Nhiều người sử dụng lao động tìm cách né tránh hoặc gây khó khăn cho hoạt động công đoàn. Nhận thức của cả người lao động và người sử dụng lao động về quyền công đoàn chưa đồng đều. Năng lực của cán bộ công đoàn tại cơ sở đôi khi còn hạn chế. Những yếu tố này ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả của thương lượng tập thể, đối thoại tại nơi làm việc và giải quyết tranh chấp lao động. Từ đó, làm giảm khả năng bảo vệ quyền lợi người lao động một cách hiệu quả.

3.1. Hạn chế trong thực thi quy định pháp luật

Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp chưa tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật Công đoàn và Bộ luật Lao động. Người sử dụng lao động có thể gây áp lực, cản trở việc thành lập hoặc hoạt động của công đoàn. Tình trạng này làm giảm hiệu lực của pháp luật, khiến người lao động e ngại khi thực hiện quyền của mình. Công tác kiểm tra, giám sát từ phía cơ quan nhà nước đôi khi chưa đủ mạnh để xử lý các vi phạm.

3.2. Khó khăn của người lao động và tổ chức công đoàn

Người lao động thường thiếu thông tin về quyền công đoàn của mình. Nhiều người lo sợ bị trả đũa khi tham gia hoặc phát biểu trong công đoàn. Tổ chức công đoàn cơ sở cũng đối mặt với thách thức về nguồn lực, kinh nghiệm. Khả năng thương lượng tập thể còn yếu, dẫn đến thỏa ước lao động tập thể chưa thực sự mang lại nhiều lợi ích đột phá cho người lao động. Điều này làm giảm niềm tin vào vai trò của công đoàn.

3.3. Tác động đến quan hệ lao động trong doanh nghiệp

Những hạn chế trong thực hiện quyền công đoàn gây ra sự mất cân bằng trong quan hệ lao động. Người lao động ít có tiếng nói trong các quyết định liên quan đến công việc và quyền lợi. Việc thiếu đối thoại tại nơi làm việc hiệu quả có thể dẫn đến mâu thuẫn. Khi tranh chấp lao động xảy ra, công đoàn khó đóng vai trò hòa giải, gây ra các cuộc đình công tự phát, không đúng quy định pháp luật, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh.

IV.Vai trò tổ chức công đoàn Thương lượng tập thể

Tổ chức công đoàn đóng vai trò trung tâm trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động, đặc biệt thông qua thương lượng tập thể. Công đoàn là đại diện hợp pháp, có tiếng nói để đàm phán với người sử dụng lao động về các điều kiện làm việc, lương, thưởng và các chế độ phúc lợi khác. Quá trình thương lượng tập thể dẫn đến thỏa ước lao động tập thể, một văn bản pháp lý quan trọng ràng buộc cả hai bên. Công đoàn cũng tham gia đối thoại, giải quyết tranh chấp lao động, ngăn ngừa đình công và xây dựng quan hệ lao động ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp.

4.1. Chức năng đại diện và bảo vệ quyền lợi

Tổ chức công đoàn là đại diện duy nhất của tập thể người lao động. Chức năng chính là bảo vệ quyền lợi chính đáng của đoàn viên và người lao động. Công đoàn theo dõi, giám sát việc thực hiện pháp luật lao động, các chính sách, chế độ liên quan. Khi quyền lợi người lao động bị xâm phạm, công đoàn có quyền can thiệp, yêu cầu người sử dụng lao động giải quyết. Công đoàn cũng là nơi tiếp nhận ý kiến, nguyện vọng của người lao động để đưa ra đối thoại.

4.2. Thương lượng tập thể và thỏa ước lao động tập thể

Thương lượng tập thể là một trong những hoạt động quan trọng nhất của công đoàn. Công đoàn đại diện người lao động đàm phán với người sử dụng lao động về các vấn đề lao động. Mục tiêu là đạt được thỏa ước lao động tập thể với các điều khoản có lợi hơn cho người lao động so với quy định pháp luật. Thỏa ước lao động tập thể là cơ sở để nâng cao chất lượng cuộc sống, điều kiện làm việc và đảm bảo sự công bằng trong doanh nghiệp.

4.3. Tham gia đối thoại giải quyết tranh chấp lao động

Công đoàn chủ động tham gia đối thoại tại nơi làm việc định kỳ hoặc đột xuất. Hoạt động này giúp giải quyết các mâu thuẫn, vướng mắc phát sinh trong quan hệ lao động. Khi tranh chấp lao động xảy ra, công đoàn có vai trò hòa giải, hỗ trợ người lao động bảo vệ quyền lợi của mình. Công đoàn cũng tư vấn pháp luật, giúp người lao động hiểu rõ quyền và nghĩa vụ. Mục tiêu là tìm kiếm giải pháp hòa bình, tránh đình công, duy trì sự ổn định sản xuất.

V.Hoàn thiện pháp luật nâng cao hiệu quả quyền công đoàn

Để quyền công đoàn thực sự phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật. Các quy định trong Luật Công đoàn và Bộ luật Lao động cần được xem xét, sửa đổi để phù hợp hơn với thực tiễn và hội nhập quốc tế. Đồng thời, cần có các giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cả người lao động và người sử dụng lao động là yếu tố then chốt. Đào tạo cán bộ công đoàn, thúc đẩy đối thoại tại nơi làm việc và xây dựng quan hệ lao động hài hòa là mục tiêu ưu tiên để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người lao động.

5.1. Quan điểm hoàn thiện hệ thống pháp luật

Hệ thống pháp luật về quyền công đoàn cần được rà soát, bổ sung để khắc phục những bất cập hiện có. Cần nghiên cứu sửa đổi Luật Công đoàn, Bộ luật Lao động theo hướng tăng cường quyền của tổ chức công đoàn và người lao động. Pháp luật cần quy định rõ ràng hơn về cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn, xử lý nghiêm các hành vi cản trở hoạt động công đoàn. Đồng thời, cần tham khảo kinh nghiệm quốc tế, các công ước ILO mà Việt Nam đã phê chuẩn để nâng cao tính khả thi và hiệu quả của các quy định pháp luật.

5.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền công đoàn

Để nâng cao hiệu quả thực thi, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật lao động và Luật Công đoàn. Các cơ quan quản lý nhà nước cần xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động, quyền công đoàn đến mọi đối tượng. Đặc biệt, cần chú trọng đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ công đoàn cơ sở. Họ cần có kiến thức pháp luật vững chắc và kỹ năng thương lượng tập thể hiệu quả để bảo vệ quyền lợi người lao động.

5.3. Thúc đẩy đối thoại xây dựng quan hệ lao động hài hòa

Việc khuyến khích và bắt buộc đối thoại tại nơi làm việc là giải pháp quan trọng. Đối thoại giúp xây dựng sự hiểu biết, tin cậy giữa người lao động và người sử dụng lao động. Cần tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải, trọng tài. Tổ chức công đoàn cần chủ động tham gia vào quá trình này. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ. Điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi người lao động mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Quyền công đoàn của người lao động trong các doanh nghiệp ở việt nam hiện nay la tiến sĩ

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (158 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VŨ ANH ĐỨC QUYỀN CÔNG ĐOÀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIÊN NAY Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật Hành chính Mã số : 62. 02 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ CHÂU HÀ NỘI - 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả Vũ Anh Đức MỤC LỤC MỞ ĐẦU .1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA ĐỀ TÀI. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước, ngoài nước về quyền công đoàn của NLĐ. Đánh giá kết quả nghiên cứu tổng quan tài liệu về quyền công đoàn của người lao động. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục phát triển, nghiên cứu bổ sung.

32 CHƢƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CÔNG ĐOÀN CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG. Khái quát chung về tổ chức công đoàn. Lý luận về quyền công đoàn của người lao động. Quyền công đoàn của người lao động trong pháp luật quốc tế.

66 CHƢƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CÔNG ĐOÀN CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM. Thực trạng pháp luật về quyền công đoàn của người lao động ở Việt Nam. Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về quyền công đoàn của người lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Đánh giá về quy định pháp luật và việc thực hiện các quy định pháp luật về quyền công đoàn của người lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

Quan điểm hoàn thiện pháp luật về quyền công đoàn của người lao động. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện quyền công đoàn của người lao động trong các doanh nghiệp .140 DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .145 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.146 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BHXH : Bảo hiểm xã hội BHYT : Bảo hiểm y tế CBCĐ : Cán bộ công đoàn CĐCS : Công đoàn cơ sở CNXH : Chủ nghĩa xã hội CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa GCCN : Giai cấp công nhân LĐLĐ : Liên đoàn lao động NLĐ : Người lao động NSDLĐ : Người sử dụng lao động QHLĐ : quan hệ lao động TBCN : Tư bản chủ nghĩa TƯLĐTT : Thỏa ước lao động tập thể XHCN : Xã hội chủ nghĩa DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH EU: European Union FDI: Foreign direct investment ICCPR: International Covenant on Civil and Political Rights ICESCR: International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights ILO: International Labour Organization TPP: Trans-Pacific Partnership WTO: World Trade Organization MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quyền công đoàn của người lao động (NLĐ) là vấn đề được quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Quan điểm hiện đại ngày nay đều cho rằng, quyền công đoàn là một quyền cơ bản của NLĐ, là một trong những nội dung của quyền con người.

Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên Hiệp Quốc năm 1948 ghi nhận: “Mọi người đều có quyền thành lập hoặc gia nhập công đoàn để bảo vệ các quyền lợi của mình”. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên Hiệp Quốc cũng khẳng định:“Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”. Ở Việt Nam, ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà năm 1946 cũng đã ghi nhận: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; Tự do xuất bản; Tự do tổ chức và hội họp; Tự do tín ngưỡng…”; Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng quy định: “Công đoàn là những đoàn thể lập ra mục đích để bảo vệ quyền lợi của công nhân về phương diện nghề nghiệp”; “Đàn bà có quyền vào công đoàn và có quyền tham dự vào ban quản trị; Người vị thành niên từ 16 tuổi trở lên tính theo dương lịch được phép vào công đoàn”. Tiếp theo đó, quyền công đoàn của NLĐ tiếp tục được ghi nhận trong những bản Hiến pháp tiếp theo của nước ta và những văn bản pháp lý quan trọng khác như Luật Công đoàn, Bộ luật Lao động, v.v… Có thể nói, hệ thống văn bản pháp luật về quyền công đoàn của NLĐ ở nước ta được hình thành khá sớm và thường xuyên được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp hơn với thực tiễn và đã tạo hành lang pháp lý cho NLĐ thực hiện quyền công đoàn của mình trên tất cả các nội dung: quyền thành lập công đoàn, quyền gia nhập công đoàn và quyền hoạt động công đoàn.

Thực hiện những quyền này đã phát huy tác dụng góp phần xây dựng quan hệ lao động, công bằng xã hội, động viên NLĐ tích cực tham gia xây dựng và phát triển đất nước. 1 Ở Việt Nam, những năm đổi mới vừa qua đánh dấu sự chuyển biến về nhận thức và thực tiễn xây dựng pháp luật, hoàn thiện pháp luật lao động – công đoàn theo hướng phù hợp với điều kiện chuyển đổi, trong đó có việc bảo đảm các quyền công đoàn của NLĐ. Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc thực hiện quyền công đoàn của NLĐ trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế và gặp không ít khó khăn. Nhiều chủ doanh nghiệp tìm mọi cách né tránh, thậm chí ngăn cản NLĐ thực hiện quyền gia nhập, thành lập và hoạt động công đoàn.

Nhiều nơi, tổ chức công đoàn tuy được thành lập nhưng hiệu quả hoạt động chưa tốt, quyền đại diện của công đoàn mang tính hình thức, quyền đại diện trong việc thương lượng thoả ước lao động tập thể chưa tốt; chất lượng và hiệu quả hoạt động đại diện chưa cao, chưa phát huy và thể hiện tốt vai trò là người đại diện cho NLĐ. Hoạt động công đoàn ở nhiều doanh nghiệp chưa thực chất, đoàn viên ít có cơ hội tham gia và quyết định những vấn đề của công đoàn. NLĐ bị phân biệt đối xử khi tham gia công đoàn; cán bộ công đoàn bị kỷ luật, sa thải vì lý do hoạt động công đoàn. Nền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi với sự đa dạng của hình thức sở hữu, quy mô, tính chất, và nhất là khác nhau về cách quản lý tổ chức lao động, c ng với sự đan xen quản lý của nền kinh tế bao cấp, yêu cầu của nền kinh tế thị trường, là sự giao thoa của mục tiêu phát triển kinh tế thị trường theo hướng định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong khi đó, quá trình hội nhập quốc tế và bản thân nội tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thực thi các quy định pháp luật lao động do tính phổ biến trên thế giới, trong đó có quyền tự do công đoàn. Tất cả những điều đó thực sự là một thách thức lý luận và thực tiễn đối với vai trò và vị trí pháp lý của tổ chức đại diện cho NLĐ, hay còn gọi là công đoàn. Trong quá trình tổ chức soạn thảo, lấy ý kiến về nội dung sửa đổi BLLĐ năm 2012, vấn đề thừa nhận tổ chức đại diện cho NLĐ khác ngoài tổ chức công đoàn thuộc hệ thống Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hiện nay cũng còn không ít tranh luận. Do vậy, việc nghiên cứu quyền công đoàn của NLĐ trong các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay nhằm xác định những hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hoàn thiện bảo đảm thực thi quyền công đoàn của NLĐ, nhằm nâng cao và 2 phát huy yếu tố quyền con người trong điều kiện hội nhập quốc tế, hoàn thiện các thể chế của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là hết sức cần thiết và cấp bách hiện nay.

Từ những vấn đề nêu trên đã thúc đẩy nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Quyền công đoàn của NLĐ trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ chuyên ngành luật học của mình. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài: Thứ nhất, góp phần luận giải những vấn đề lý luận về quyền công đoàn của NLĐ và điều chỉnh pháp luật về quyền công đoàn của NLĐ ở Việt Nam. Thứ hai, từ thực tiễn đổi mới và hội nhập quốc tế, đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật về quyền công đoàn của NLĐ trong các doanh nghiệp ở Việt Nam trên cả hai bình diện điều chỉnh pháp luật và áp dụng pháp luật.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Một là, nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền công đoàn của NLĐ dưới góc độ pháp luật như: khái niệm về quyền công đoàn của NLĐ; phân loại, đặc điểm, những yếu tố tác động, nội dung quyền công đoàn của NLĐ; Hai là, nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành và thực trạng thực hiện quyền công đoàn của NLĐ trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá cần thiết tạo cơ sở cho quá trình đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật công đoàn. Ba là, đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật và kiến nghị sửa đổi bổ sung những quy định cụ thể về quyền công đoàn của NLĐ trong các doanh nghiệp, đảm bảo khả thi trong điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam hiện nay. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Pháp luật về quyền công đoàn của NLĐ trên phương diện lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật, chủ yếu thuộc lĩnh vực pháp luật lao động và pháp luật công đoàn.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền công đoàn, dưới góc độ pháp lý, dưới góc độ tiếp cận quyền của NLĐ trong các doanh nghiệp ở Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu sẽ luôn được đặt trong mối quan hệ biện chứng với các vấn đề chính trị - kinh tế - xã hội của đất nước. Mặt khác, quyền công đoàn của NLĐ có phạm vi rộng, đề tài chỉ tập trung chủ yếu nghiên cứu quyền công đoàn của NLĐ trong QHLĐ. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 4.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Quyền công đoàn người lao động trong doanh nghiệp Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu tiến sĩ về quyền công đoàn người lao động trong doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hiệu quả.

Luận án "Quyền công đoàn người lao động trong doanh nghiệp Việt Nam" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội. Năm bảo vệ: 2017.

Luận án "Quyền công đoàn người lao động trong doanh nghiệp Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Quyền công đoàn người lao động trong doanh nghiệp Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp và luật Hành chính. Danh mục: Luật Dân Sự.

Luận án "Quyền công đoàn người lao động trong doanh nghiệp Việt Nam" có bao nhiêu trang?

Luận án "Quyền công đoàn người lao động trong doanh nghiệp Việt Nam" có 158 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Quyền công đoàn người lao động trong doanh nghiệp Việt Nam" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter