Luận án TS: Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam là tiến sĩ. Luận văn phân tích đảm bảo quyền bình đẳng của đương sự.
Lý luận & Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Luan An
Luận án tiến sĩ luật học
Năm xuất bản
Số trang
162
Thời gian đọc
25 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tóm tắt nội dung
I. Bình đẳng trước pháp luật Tầm quan trọng trong tố tụng dân sự
Nguyên tắc bình đẳng là quyền tự nhiên, cơ bản của con người. Nhân loại đã trải qua nhiều cuộc đấu tranh bảo vệ quyền này. Đảm bảo quyền bình đẳng là nhiệm vụ trọng yếu của các nhà nước văn minh. Bình đẳng trước Tòa án, bình đẳng trước pháp luật đặc biệt quan trọng. Các tuyên ngôn quốc tế đã ghi nhận quyền này. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ. Không có bất kỳ sự phân biệt nào tồn tại.
1.1. Khái niệm và vai trò của nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Quyền bình đẳng thể hiện trong mọi lĩnh vực xã hội. Đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực pháp lý, tư pháp và tố tụng dân sự. Tiêu chí của một quốc gia văn minh là luật pháp phải được thượng tôn. Vị thế giữa người vi phạm và người bị xâm phạm không được phân biệt. Công bằng pháp lý được đảm bảo cho mọi đương sự.
1.2. Ý nghĩa nguyên tắc bình đẳng trong tố tụng dân sự
Quyền và nghĩa vụ của công dân không bị phân biệt. Giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giàu nghèo không ảnh hưởng. Thành phần xã hội, địa vị xã hội cũng không gây khác biệt. Trong cùng một điều kiện, công dân hưởng quyền và nghĩa vụ như nhau. Tư cách pháp lý của đương sự phải ngang bằng nhau. Mức độ sử dụng quyền tùy thuộc khả năng, điều kiện riêng của từng người.
1.3. Quyền và nghĩa vụ đương sự Đảm bảo công bằng pháp lý
Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền bình đẳng. Công dân được thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách bình đẳng. Công dân cần thực hiện tốt nghĩa vụ được Hiến pháp xác định. Đó là điều kiện để sử dụng quyền tốt nhất. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật là nguyên tắc pháp lý cơ bản. Hiến pháp Việt Nam quy định mọi công dân bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Công dân Việt Nam bình đẳng về mọi mặt.
II. Lý luận nguyên tắc bình đẳng của đương sự trước pháp luật
Luận án đi sâu vào những vấn đề lý luận về nguyên tắc bình đẳng. Khái niệm, vai trò, và ý nghĩa của nguyên tắc này được phân tích kỹ lưỡng. Đây là nền tảng cho sự phát triển của hệ thống pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên tắc đảm bảo công bằng cho tất cả các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp. Sự rõ ràng trong lý luận là tiền đề cho thực tiễn áp dụng hiệu quả.
2.1. Nền tảng lý luận của nguyên tắc bình đẳng pháp luật
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật là một trong những nguyên tắc cốt lõi. Nó là kim chỉ nam cho hoạt động tư pháp. Đảm bảo mọi đương sự đều được đối xử công bằng. Quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ được nhìn nhận khách quan. Luận án đặt ra cơ sở lý thuyết vững chắc cho nguyên tắc này. Pháp luật dân sự phải phản ánh tinh thần bình đẳng sâu sắc.
2.2. Nội dung cốt lõi của nguyên tắc bình đẳng cho đương sự
Nội dung nguyên tắc bình đẳng bao gồm quyền và nghĩa vụ ngang nhau. Đương sự có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ. Họ được quyền tranh luận, kháng cáo theo quy định pháp luật. Tòa án không phân biệt đối xử dựa trên địa vị, giới tính hay tài sản. Mỗi đương sự có quyền được bảo vệ quyền lợi chính đáng. Thủ tục tố tụng phải đảm bảo sự công bằng cho tất cả.
2.3. Yếu tố bảo đảm bình đẳng pháp luật trong tố tụng
Nhiều yếu tố cần thiết để bảo đảm nguyên tắc bình đẳng. Hệ thống pháp luật phải minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu. Tòa án và Viện kiểm sát phải hoạt động độc lập, không thiên vị. Cán bộ tư pháp cần có trình độ chuyên môn cao và đạo đức nghề nghiệp. Nhận thức pháp luật của người dân cũng cần được nâng cao. Các yếu tố này cùng nhau củng cố công bằng pháp lý cho đương sự. Sự giám sát xã hội cũng góp phần quan trọng.
III. Thực trạng áp dụng nguyên tắc bình đẳng trong tố tụng dân sự
Luận án phân tích thực trạng áp dụng nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật. Việc này được xem xét trong tố tụng dân sự Việt Nam. Tình hình áp dụng được chia thành các giai đoạn cụ thể. Từ thời điểm trước Bộ luật Tố tụng dân sự đến nay. Phân tích này giúp đánh giá đúng những thành tựu và hạn chế. Từ đó đưa ra cái nhìn toàn diện về việc thực thi nguyên tắc.
3.1. Lịch sử áp dụng nguyên tắc bình đẳng trước BLTTDS
Giai đoạn trước khi có Bộ luật Tố tụng dân sự được khảo sát. Các Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự đã có vai trò nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế trong việc đảm bảo nguyên tắc bình đẳng. Kinh nghiệm từ giai đoạn này là bài học quý giá. Nó giúp định hình các quy định pháp luật sau này. Đảm bảo công bằng pháp lý dần được chú trọng hơn.
3.2. Đánh giá thực tiễn áp dụng nguyên tắc bình đẳng tại Tòa án
Từ khi có Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên tắc này được củng cố. Thực trạng áp dụng tại Tòa án nhân dân được phân tích kỹ lưỡng. Nhiều vụ án đã thể hiện sự tiến bộ trong việc thực thi. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những thách thức. Việc đảm bảo quyền và nghĩa vụ ngang nhau của đương sự vẫn là mục tiêu. Thủ tục tố tụng cần được thực hiện một cách nhất quán hơn. Đảm bảo bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
3.3. Nhận xét chung về bình đẳng pháp luật của đương sự
Luận án đưa ra nhận xét tổng thể về thực trạng. Nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự đã có nhiều tiến bộ. Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên, vẫn cần những cải thiện để đạt hiệu quả tối đa. Sự đồng bộ giữa các văn bản pháp luật cần được nâng cao. Công bằng pháp lý đòi hỏi sự nhất quán trong mọi khía cạnh.
IV. Giải pháp hoàn thiện bình đẳng pháp luật cho đương sự
Luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp cụ thể. Mục tiêu là hoàn thiện nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật. Việc này nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong tố tụng dân sự. Các giải pháp hướng đến việc bảo đảm quyền lợi tối đa cho đương sự. Công bằng pháp lý là mục tiêu tối thượng cần đạt được. Một lộ trình rõ ràng là cần thiết để thực hiện.
4.1. Quan điểm phát triển nguyên tắc bình đẳng
Cần có quan điểm nhất quán trong việc phát triển nguyên tắc bình đẳng. Đây là nền tảng cho mọi sửa đổi, bổ sung pháp luật. Quan điểm này phải đặt lợi ích của đương sự lên hàng đầu. Đồng thời, nó cần phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Việc phát triển phải đảm bảo tính khả thi. Nó cần có khả năng thích ứng với sự thay đổi của xã hội.
4.2. Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện bình đẳng pháp luật
Luận án đưa ra nhiều giải pháp chi tiết. Sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ tư pháp. Nâng cao nhận thức pháp luật cho đương sự và cộng đồng. Ứng dụng công nghệ thông tin vào thủ tục tố tụng. Việc này giúp tăng cường tính minh bạch, giảm thiểu tiêu cực. Các giải pháp này nhằm củng cố nguyên tắc bình đẳng, đảm bảo công bằng pháp lý.
4.3. Nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi đương sự
Việc hoàn thiện pháp luật phải hướng tới mục tiêu cuối cùng. Đó là bảo vệ hiệu quả quyền lợi hợp pháp của đương sự. Đảm bảo mọi đương sự có cơ hội như nhau. Mọi người được tiếp cận công lý một cách công bằng. Các biện pháp này sẽ giúp xây dựng nền tư pháp văn minh. Quyền bình đẳng trước pháp luật được thực thi đầy đủ. Tăng cường niềm tin của công chúng vào hệ thống pháp luật.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (162 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI PHAN THANH TÙNG NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG TRƢỚC PHÁP LUẬT CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VỆT NAM Chuyên ngành: Lý luận & Lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật Mã số: 62.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Lê Thị Hƣơng HÀ NỘI - 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Số liệu, kết quả nghiên cứu đề cập trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng. Tác giả luận án Phan Thanh Tùng DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt Từ gốc BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự BLDS Bộ luật Dân sự LSĐBSBLDS Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự BLLĐ Bộ luật Lao động PLTTGQCVADS Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự PLTTGQCVAKT Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế PLTTGQCVALĐ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động HĐXX Hội đồng xét xử TAND Tòa án nhân dân VKSND Viện kiểm sát nhân dân MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 10 1.
Những công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam có liên quan 10 đến đề tài 1. Đánh giá tình hình nghiên cứu 20 Chương 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG TRƢỚC PHÁP LUẬT CỦA ĐƢƠNG SỰ 25 TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 2. Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật 25 của đương sự trong tố tụng dân sự 2.
Nội dung của nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong 42 tố tụng dân sự 2.3 Các yếu tố bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương 64 sự trong tố tụng dân sự Chương 3. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC BÌNH 73 ĐẲNG TRƢỚC PHÁP LUẬT CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 3. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân 73 sự trước khi có Bộ luật tố tụng dân sự 3. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân 81 sự từ khi có Bộ luật tố tụng dân sự đến nay 3.3 Thực trạng áp dụng nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương 91 sự trong tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân 3.4 Nhận xét về nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong 106 tố tụng dân sự Việt Nam Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 119 NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG TRƢỚC PHÁP LUẬT CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ Ở VIỆT NAM 4.1 Quan điểm hoàn thiện nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương 119 sự trong tố tụng dân sự ở Việt Nam 4.2 Các giải pháp hoàn thiện nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của 128 đương sự trong tố tụng dân sự ở Việt Nam KẾT LUẬN 147 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO MỞ ĐẦU 1.
Tính cấp thiết của đề tài Bình đẳng là một trong những quyền tự nhiên cơ bản của con người, gắn bó mật thiết với con người trong hoạt động xã hội. Nhân loại đã trải qua nhiều đấu tranh, hy sinh để bảo vệ quyền bình đẳng. Vì vậy, bảo đảm quyền bình đẳng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các nhà nước văn minh. Trong số các quyền thì bình đẳng trước Tòa án, bình đẳng trước pháp luật là những quyền quan trọng được thế giới ghi nhận: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ, không có bất kỳ sự phân biệt nào”(Điều 7-Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền).
“Mọi người đều được hưởng quyền bình đẳng, được xem xét công bằng và công khai bởi một tòa án độc lập và không thiên vị trong việc quyết định các quyền và nghĩa vụ của họ cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ” (Điều 10-Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền). Quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội và đặc biệt quan trọng là bình đẳng trong lĩnh vực pháp lý, tư pháp, tố tụng. Tiêu chí của một đất nước văn minh hiện nay là luật pháp phải được thượng tôn, bất kể vị thế giữa người vi phạm và người bị xâm phạm. Quyền và nghĩa vụ của công dân không bị phân biệt bởi giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giàu nghèo, thành phần xã hội, địa vị xã hội… Trong cùng một điều kiện như nhau, công dân phải được hưởng quyền và nghĩa vụ như nhau, có cùng tư cách pháp lý như nhau.
Tuy nhiên, mức độ sử dụng các quyền và nghĩa vụ đó đến đâu thì còn phụ thuộc nhiều vào khả năng, điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người. Nhà nước phải có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách bình đẳng; công dân cần thực hiện tốt các nghĩa vụ được Hiến pháp và các Đạo luật xác định, đó chính là điều kiện để sử dụng quyền của mình một cách tốt nhất. 1 Quyền bình đẳng trước pháp luật cũng là một trong những nguyên tắc pháp lý cơ bản ở nhiều quốc gia. Hiến pháp Việt Nam quy định rằng mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, có thời hạn cư trú từ đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.
Hiến pháp Việt Nam còn xác định quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Xây dựng và bảo vệ sự bình đẳng của đương sự là một giá trị xã hội và là mục tiêu phấn đấu của xã hội loài người. Bình đẳng không phải là vấn đề có tính chất cá nhân mà nó có mối liên hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức, giữa các tổ chức với nhau. Đảm bảo quyền bình đẳng của đương sự trong TTDS là chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc tạo ra tính bền vững, sự ổn định và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam.
Điều đó đã được thể hiện qua các văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết của Bộ Chính trị nhằm hướng tới “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và có hiệu lực cao” (Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020). Kế thừa và phát huy những giá trị của các văn bản pháp luật về TTDS được ban hành trước đó, BLTTDS đã thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước về công cuộc cải cách tư pháp, quy định quy trình tố tụng khoa học, đảm bảo đẩy mạnh dân chủ và là công cụ pháp lý quan trọng để các cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. Điều 8 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 và Điều 8 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016) đã quy định về sự bình đẳng về 2 quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự như sau: “1/Trong tố tụng Dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án.
2/Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự”. Bộ luật tố tụng dân sự đầu tiên của Việt Nam ra đời vào năm 2004. Đến năm 2011, BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi bổ sung BLTTDS. Năm 2015, BLTTDS mới ra đời, có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016, là BLTTDS hiện hành.
Trải qua 03 BLTTDS, điều khoản quy định về nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự đều được quy định tại Điều 8. Trong quá trình thực hiện, nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự đã bộc lộ nhiều điểm bất cập và hạn chế. Điều này đã làm ảnh hưởng tới hiệu quả giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án và việc bảo về quyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể tại Tòa án. Một trong những vấn đề còn tồn tại đó là những quy định về nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS.
Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập nêu trên thì có nhiều, trong đó có cả sự nhận thức và áp dụng không thống nhất về nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS. BLTTDS năm 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016 có tổng số 517 điều, chia thành 42 chương. So với BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung 350 điều; bổ sung mới 104 điều. Riêng Điều 8 của BLTTDS năm 2015 quy định nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự so với Điều 8 của BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 về cơ bản thì không có sự thay đổi lớn.
Nếu không có những quy định, giải pháp đột phá nhằm khắc phục những bất cập và hạn chế của nguyên tắc này, rất có thể sẽ cản trở việc thực hiện các quy định tiến bộ của BLTTDS năm 2015 như “thực hiện mô hình tố tụng xét hỏi kết hợp 3 với tranh tụng”; “khuyến khích việc giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải”; “Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ-việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự" nghiên cứu về vấn đề gì?
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam là tiến sĩ. Luận văn phân tích đảm bảo quyền bình đẳng của đương sự.
Luận án "Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2017.
Luận án "Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự" thuộc chuyên ngành Lý luận & Lịch sử Nhà nước và Pháp luật. Danh mục: Luật Dân Sự.
Luận án "Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự" có bao nhiêu trang?
Luận án "Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự" có 162 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.