Luận án: Dân quân tự vệ miền Bắc chống chiến tranh phá hoại 1965-1973
Luận án nghiên cứu vai trò lực lượng dân quân tự vệ miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1965-1973 trong kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Năm xuất bản
Số trang
207
Thời gian đọc
32 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I.Dân quân tự vệ miền Bắc Lực lượng then chốt chống Mỹ
Dân quân tự vệ (DQTV) miền Bắc giữ vai trò thiết yếu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1965-1973. Lực lượng này kế thừa truyền thống giữ nước của dân tộc, hình thành từ thời kỳ cách mạng trước đó. DQTV trở thành bộ phận quan trọng của lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân, bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Trong thời kỳ chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, DQTV vừa sản xuất, vừa chiến đấu, bảo vệ hậu phương xã hội chủ nghĩa. Sự hiện diện và hoạt động của DQTV tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, biến mỗi làng xã, nhà máy thành pháo đài. Điều này góp phần to lớn vào việc đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, khẳng định vị thế và sức mạnh của lực lượng này trong lịch sử quân sự Việt Nam.
1.1. Hình thành và phát triển Dân quân tự vệ
Lực lượng tự vệ công nông ra đời từ cao trào cách mạng 1930-1931. Ngày 8 tháng 3 năm 1935, Nghị quyết về Đội tự vệ của Đảng đã chính thức đặt nền móng cho DQTV. Trong Cách mạng tháng Tám, các đội tự vệ, du kích cứu quốc là nòng cốt. Sau đó, DQTV tiếp tục phát triển rộng khắp trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. DQTV luôn giữ vai trò quan trọng, cùng các lực lượng khác chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Lực lượng này góp phần làm nên các chiến công, bảo vệ thành quả cách mạng.
1.2. Vai trò chiến lược của Dân quân tự vệ miền Bắc
Trong kháng chiến chống Mỹ, DQTV miền Bắc quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân. Lực lượng này phát huy vai trò kép: vừa lao động sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu. DQTV kết hợp với an ninh cơ sở, giữ gìn trật tự xã hội, an ninh chính trị. Đây là nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc tại địa phương. Khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại, DQTV miền Bắc tích cực chiến đấu, phục vụ chiến đấu. DQTV phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực. Họ giữ gìn trị an, vây bắt phi công, biệt kích, gián điệp. Giai đoạn 1965-1973 đánh dấu đỉnh cao phát triển của DQTV miền Bắc về tổ chức và hoạt động.
II.Phòng thủ dân sự Dân quân tự vệ chống không quân Mỹ
Trong chiến tranh phá hoại của Mỹ tại miền Bắc Việt Nam, phòng thủ dân sự là nhiệm vụ sống còn. Dân quân tự vệ (DQTV) đóng vai trò trung tâm trong công tác này. Họ không chỉ tham gia trực tiếp chiến đấu mà còn bảo vệ dân cư, sản xuất, và hạ tầng. Các đơn vị DQTV được trang bị vũ khí cá nhân, súng phòng không tầm thấp để đối phó với máy bay Mỹ. Họ tổ chức mạng lưới quan sát, cảnh giới, báo động sớm. Điều này giúp giảm thiểu thiệt hại từ các đợt ném bom miền Bắc. DQTV còn tham gia khắc phục hậu quả bom đạn, cứu hộ cứu nạn. Lực lượng này là lá chắn thép bảo vệ nhân dân và duy trì hoạt động xã hội. Đây là minh chứng cho sức mạnh của chiến tranh nhân dân.
2.1. Tác chiến chống không quân Mỹ bắn rơi máy bay
DQTV miền Bắc trực tiếp tham gia tác chiến chống không quân Mỹ. Họ sử dụng nhiều loại vũ khí từ súng bộ binh đến pháo phòng không cỡ nhỏ. Nhiều đơn vị DQTV, dân quân du kích đã lập công xuất sắc, bắn rơi máy bay đối phương. Những chiến công này không chỉ gây thiệt hại cho không quân Mỹ mà còn nâng cao tinh thần chiến đấu. Các khẩu đội DQTV bố trí rải rác, tạo thành lưới lửa phòng không tầm thấp dày đặc. Điều này làm cho máy bay Mỹ khó hoạt động ở độ cao thấp. Hoạt động này góp phần quan trọng vào việc bảo vệ mục tiêu. DQTV còn vây bắt hàng trăm phi công Mỹ bị bắn rơi. Đó là nhiệm vụ quan trọng, đảm bảo an ninh hậu phương.
2.2. Bảo vệ sản xuất giữ vững trật tự an ninh
Bên cạnh chiến đấu, DQTV miền Bắc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sản xuất. Họ duy trì hoạt động nông nghiệp, công nghiệp trong điều kiện chiến tranh ác liệt. Lực lượng này bảo vệ các công trình trọng yếu, giao thông vận tải. DQTV cũng tham gia khắc phục hậu quả bom đạn, sửa chữa đường sá, cầu cống. Công tác phòng thủ dân sự bao gồm đào hầm hào trú ẩn, sơ tán dân cư. DQTV cùng lực lượng an ninh giữ vững trật tự trị an, phòng chống gián điệp, biệt kích. Điều này đảm bảo an toàn cho hậu phương, tạo điều kiện cho tiền tuyến chiến đấu. Sự đóng góp của DQTV củng cố niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
III.DQTV Miền Bắc 1965 1968 Xây dựng đối phó chiến tranh
Giai đoạn 1965-1968 là thời kỳ không quân Mỹ mở đầu chiến tranh phá hoại miền Bắc. Lúc này, lực lượng Dân quân tự vệ (DQTV) miền Bắc phải nhanh chóng kiện toàn tổ chức. Họ xây dựng lực lượng, huấn luyện để đối phó với tình hình chiến tranh khốc liệt. Đây là giai đoạn DQTV phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Các địa phương tích cực tuyển chọn, đào tạo cán bộ. DQTV được trang bị thêm vũ khí, khí tài phù hợp. Lực lượng này nhanh chóng trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống phòng thủ dân sự và quân sự. Họ đảm bảo duy trì đời sống và sản xuất. Đồng thời, DQTV tham gia vào các trận chiến đấu bảo vệ bầu trời miền Bắc. Đây là sự chuẩn bị cần thiết cho cuộc kháng chiến lâu dài.
3.1. Tổ chức lực lượng huấn luyện sẵn sàng chiến đấu
Đứng trước chiến tranh phá hoại, các tỉnh, thành phố miền Bắc đã khẩn trương tổ chức lại DQTV. Họ phát triển rộng khắp từ cấp xã đến các cơ quan, xí nghiệp. Việc huấn luyện được đẩy mạnh, tập trung vào kỹ năng sử dụng vũ khí cá nhân, phòng không. DQTV còn học cách phát hiện máy bay địch, chữa cháy, cứu thương, sơ tán. Các đợt diễn tập phòng không được tổ chức thường xuyên. Điều này nâng cao khả năng tác chiến và tự vệ cho toàn dân. Lực lượng DQTV thường xuyên trực chiến, đảm bảo sẵn sàng chiến đấu. Công tác xây dựng Đảng trong DQTV cũng được chú trọng, củng cố sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng.
3.2. Hoạt động chiến đấu phục vụ chiến đấu quyết liệt
Trong những năm 1965-1968, DQTV miền Bắc đã tham gia hàng ngàn trận đánh. Họ bắn rơi nhiều máy bay, bắt sống nhiều phi công Mỹ. Điển hình là các trận địa phòng không của DQTV tại Hà Nội, Hải Phòng. Các đơn vị DQTV không chỉ trực tiếp chiến đấu. Họ còn tổ chức các đội tải đạn, cứu thương, giao thông liên lạc. Những hoạt động phục vụ chiến đấu này góp phần quan trọng vào thắng lợi. DQTV còn đóng vai trò bảo vệ an ninh thôn xóm, nhà máy. Lực lượng này ngăn chặn các hoạt động phá hoại của địch. Sự tham gia rộng rãi của DQTV thể hiện ý chí quyết tâm của toàn dân. Họ kiên cường đối phó với chiến tranh phá hoại.
IV.Dân quân tự vệ miền Bắc 1969 1973 Tăng cường hiệu quả
Giai đoạn 1969-1973 là thời kỳ chiến tranh phá hoại của Mỹ diễn ra ác liệt hơn, đặc biệt với chiến dịch Linebacker II. Lúc này, lực lượng Dân quân tự vệ (DQTV) miền Bắc đã được kiện toàn và trở nên tinh nhuệ hơn. Kinh nghiệm từ giai đoạn trước được tổng kết, áp dụng vào thực tiễn. DQTV tiếp tục củng cố tổ chức, nâng cao trình độ tác chiến. Họ được trang bị tốt hơn, với nhiều loại vũ khí phù hợp. Lực lượng này không chỉ phòng thủ mà còn chủ động tấn công, làm rối loạn kế hoạch của không quân Mỹ. DQTV vẫn duy trì song song nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu. Họ trở thành một phần không thể tách rời của nền quốc phòng toàn dân. Sự kiên cường của DQTV góp phần buộc Mỹ phải quay lại bàn đàm phán.
4.1. Kiện toàn lực lượng đẩy mạnh hoạt động chiến đấu
Sau những năm đầu của chiến tranh phá hoại, DQTV miền Bắc tiếp tục kiện toàn. Công tác huấn luyện tập trung vào kỹ năng chiến đấu cá nhân và tác chiến đơn vị. DQTV cũng được huấn luyện cách sử dụng các loại vũ khí mới. Lực lượng này tăng cường khả năng cơ động, phối hợp tác chiến với các quân chủng. Các đội DQTV chuyên trách phòng không được củng cố. Họ nâng cao hiệu quả bắn rơi máy bay đối phương. Điều này cho thấy sự thích nghi và phát triển của DQTV. Họ đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến tranh ngày càng ác liệt. Lực lượng này là minh chứng cho sự sáng tạo trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.
4.2. Đóng góp to lớn trong kháng chiến chống Mỹ cuối giai đoạn
Trong những năm cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (1972), DQTV miền Bắc tiếp tục thể hiện vai trò. Họ cùng quân và dân miền Bắc tạo nên lưới lửa phòng không dày đặc. Điều này góp phần quan trọng vào việc đánh bại chiến dịch Linebacker II. Nhiều phi công Mỹ bị bắn rơi đã bị DQTV bắt sống. Lực lượng này bảo vệ an toàn các tuyến giao thông huyết mạch. Họ giữ vững nhịp độ sản xuất. DQTV là chỗ dựa vững chắc cho bộ đội chủ lực và địa phương. Những đóng góp này đã góp phần quyết định vào việc buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh.
V.Dân quân du kích Kinh nghiệm kháng chiến chống ném bom
Kinh nghiệm từ hoạt động của Dân quân du kích (DQGK) trong kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của Mỹ là vô cùng quý giá. DQGK, một bộ phận của DQTV, đã chứng minh tính hiệu quả của chiến tranh nhân dân. Họ đối phó với sức mạnh không quân hiện đại của Mỹ. Kinh nghiệm này khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng. DQGK với phương châm "mỗi người dân là một chiến sĩ" đã tạo nên bức tường thép bảo vệ Tổ quốc. Những bài học về sự chủ động, sáng tạo và tinh thần chiến đấu bền bỉ của DQGK vẫn còn nguyên giá trị. Điều này áp dụng cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay. Lực lượng DQGK là một biểu tượng của lòng yêu nước và ý chí kiên cường.
5.1. Phối hợp tác chiến phát huy sức mạnh tổng hợp
Thành công của DQGK đến từ sự phối hợp chặt chẽ. Họ hợp tác với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và các ngành. DQGK là "tai mắt" của bộ đội chủ lực, cung cấp thông tin kịp thời về máy bay địch. Họ cùng quân đội tổ chức các trận địa phòng không liên hoàn. Sức mạnh tổng hợp từ các lực lượng đã tạo nên thế trận vững chắc. Điều này giúp đánh bại các cuộc tấn công của không quân Mỹ. Kinh nghiệm này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Sự kết hợp giữa lực lượng thường trực và lực lượng quần chúng là chìa khóa. Điều này tạo nên sức mạnh tổng thể trong mọi tình huống.
5.2. Bài học về ý chí tinh thần chiến đấu bền bỉ
Ý chí kiên cường và tinh thần chiến đấu bền bỉ là bài học lớn từ DQGK. Họ chiến đấu trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn. Nhưng DQGK vẫn giữ vững tinh thần lạc quan, chủ động. Họ sáng tạo ra nhiều cách đánh độc đáo. Điều này làm đối phương bất ngờ và hiệu quả. Tinh thần "một tấc không đi, một ly không rời" được phát huy cao độ. Lực lượng này luôn bám trụ địa bàn, bảo vệ nhân dân. Bài học này khẳng định vai trò quyết định của yếu tố con người. Dù đối mặt với vũ khí hiện đại, lòng dũng cảm và ý chí quật cường có thể làm nên chiến thắng. Đó là giá trị cốt lõi của chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (207 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGÔ HOÀNG NAM ỰC N N QU N TỰ VỆ I N ẮC VIỆT NA TRON THỜI K CH N CHI N TRANH PH HO I CỦA QU C 1965-1973) UẬN N TI N SĨ ỊCH SỬ HÀ NỘI - 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGÔ HOÀNG NAM ỰC N N QU N TỰ VỆ I N ẮC VIỆT NA TRON THỜI K CH N CHI N TRANH PH HO I CỦA QU C 1965-1973) Ngành: ịch sử Việt Nam ã số: 92 29 013 UẬN N TI N SĨ ỊCH SỬ N ỜI H ỚN ẪN KHOA HỌC: P S. INH QUAN HẢI HÀ NỘI - 2019 ỜI CA OAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các t ài liệu, số liệu đƣợc sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc và đƣợc trích dẫn rõ ràng theo quy định. Những kết luận của luận án chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác. Tác giả Ngô Hoàng Nam ỤC ỤC Trang Ở ẦU 1 NỘI UN Ch ng 1: TỔN QUAN T NH H NH N HI N CỨU I N QUAN 7 N TÀI UẬN N.
Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến đ tài luận án 7. Những vấn đ liên quan đến đ tài đ đƣợc các công trình nghiên cứu 25 giải quyết. Những vấn đ đặt ra luận án tiếp tục giải quyết 27 Ch ng 2: ỰC N N QU N TỰ VỆ I N ẮC VIỆT 28 NA TỪ NĂ 1965 N NĂ 1968 2. Quá trình xây dựng lực lƣợng dân quân tự vệ mi n c 28.
Ho t động của lực lƣợng dân quân tự vệ mi n c 50 Tiểu kết 70 Ch ng 3: ỰC N N QU N TỰ VỆ I N ẮC VIỆT 72 NA TỪ NĂ 1969 N NĂ 1973 3. Kiện toàn và xây dựng lực lƣợng dân quân tự vệ mi n c 72 3. Lực lƣợng dân quân tự vệ mi n c đẩy m nh các mặt ho t động chiến 91 đấu và phục vụ chiến đấu Tiểu kết 112 Ch ng 4: NHẬN X T VÀ ỘT S KINH N HIỆ 114 4. Một số kinh nghiệm 135 Tiểu kết 145 K T UẬN 146 ANH ỤC C C CÔN TR NH CỦA T C IẢ Ã CÔN CÓ 151 I N QUAN N TÀI UẬN N TÀI IỆU THA KHẢO 152 PHỤ ỤC 170 ANH ỤC CHỮ VI T TẮT STT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt 1 ộ Tổng Tham mƣu BTTM 2 Chủ biên C.b 3 Chiến tranh phá ho i CTPH 4 Chính trị Quốc gia CTQG 5 Dân quân tự vệ DQTV 6 Khoa học X hội KHXH 7 Nhà xuất bản Nxb 8 Quân đội Nhân dân QĐND Ở ẦU 1.
Tính cấp thiết của đề tài Trải qua hàng ngàn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, dân tộc Việt Nam đ thực hiện “cả nƣớc chung sức”, “trăm họ đ u là binh”, chính sách “ngụ binh ƣ nông” để tổ chức lực lƣợng chống kẻ thù xâm lƣợc. Kế thừa truy n thống tổ chức lực lƣợng đánh giặc của dân tộc, ngay từ khi ra đời Đảng đ đ ra chủ trƣơng “lập quân đội công nông”, “vũ trang công nông”, “tổ chức đội tự vệ công nông” để đấu tranh với kẻ thù. Trong cao trào cách m ng 1930-1931, các đội tự vệ đ đ ra đời và ngày càng phát triển, trở thành lực lƣợng n ng cốt bảo vệ phong trào đấu tranh của qu n ch ng và các cơ sở cách m ng. Ngày 8-3- 935, t i Đ i hội l n thứ nhất của Đảng họp ở Ma Cao Trung Quốc đ thông qua “Nghị quyết v Đội tự vệ”, đánh dấu ngày ra đời của lực lƣợng dân quân tự vệ DQTV) sau này.
Sau khi chính thức đƣợc thành lập, các đội tự vệ công nông, tổ du kích cứu quốc, đội du kích tập trung là n ng cốt cùng nhân dân khởi nghĩa từng ph n, tiến tới Tổng khởi nghĩa và giành th ng lợi trong Cách m ng tháng Tám năm 945. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 945- 954 và đế quốc Mỹ xâm lƣợc 954- 975 , lực lƣợng DQTV đ phát triển rộng kh p, luôn giữ vai tr và vị trí quan trọng cùng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phƣơng chiến đấu và phục vụ chiến đấu góp ph n làm nên các chiến công, đánh th ng hai đế quốc xâm lƣợc, bảo vệ th ng lợi thành quả cách m ng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc (1954-1975), quán triệt sâu s c đƣờng lối chiến tranh nhân dân của Đảng, lực lƣợng DQTV đ phát huy vai tr quan trọng, vừa lao động sản xuất, vừa chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, kết hợp với lực lƣợng an ninh cơ sở giữ gìn trật tự x hội, an ninh chính trị và làm n ng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc t i địa phƣơng. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá ho i CTPH bằng không quân và hải quân ra mi n c 965 -1973), lực lƣợng DQTV mi n c đ vừa chiến đấu, vừa sản xuất và tích cực phục vụ chiến đấu, phối hợp chặt ch với bộ đội địa phƣơng, bộ đội chủ lực, giữ gìn trật tự trị an, vây b t phi công, biệt kích, gián điệp, góp ph n cùng quân và dân mi n c đánh b i hai cuộc CTPH mi n c của đế quốc Mỹ.
Giai đo n 965- 973 là giai đo n phát triển đỉnh cao của lực lƣợng DQTV mi n c cả v tổ chức và xây dựng lực lƣợng. Lực lƣợng DQTV mi n c đ đ t đƣợc nhi u thành tích trong ho t động chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đ khẳng định đƣợc vị trí, vai tr quan trọng là một bộ phận của lực lƣợng vũ trang ba thứ quân ộ đội chủ lực, ộ đội địa phƣơng, Dân quân tự vệ và du kích). Khẳng định vai tr và sức m nh của lực lƣợng DQTV mi n c, Chủ 1 tịch Hồ Chí Minh đ chỉ rõ: “Dân quân tự vệ và du kích là lực lƣợng của toàn dân tộc, là một lực lƣợng vô địch, là bức tƣờng s t của Tổ quốc, vô luận kẻ địch hung b o thế nào hễ đụng vào lực lƣợng đó, bức tƣờng đó, thì địch nào cũng phải tan r ” [115, tr. Trong thời bình, lực lƣợng DQTV vẫn giữ vị trí, vai tr quan trọng, bảo vệ Đảng, chính quy n, tính m ng, tài sản của Nhà nƣớc và nhân dân.
DQTV là lực lƣợng n ng cốt, xung kích tham gia phát triển xây dựng kinh tế ở địa phƣơng, cơ sở và trong các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp. Đồng thời, lực lƣợng DQTV c n góp ph n xây dựng thế trận quốc ph ng toàn dân g n chặt với thế trận an ninh nhân dân, phối hợp với công an và các lực lƣợng khác chống l i những âm mƣu phá ho i của kẻ thù, ph ng chống các tệ n n x hội, ph ng chống thiên tai,… bảo đảm an toàn cho nhân dân. Nghiên cứu v lực lƣợng DQTV mi n c đ đƣợc các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc quan tâm trên ở nhi u khía c nh, góc độ khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chƣa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống v lực lƣợng DQTV mi n c trong thời kỳ chống CTPH mi n c của đế quốc Mỹ 965- 973.
Để làm rõ hơn nữa vai tr và đóng góp quan trọng của lực lƣợng DQTV mi n c giai đo n này rất c n đƣợc nghiên cứu có hệ thống, toàn diện, chuyên sâu v cơ cấu tổ chức, xây dựng lực lƣợng, công tác huấn luyện, trang thiết bị vũ khí và ho t động chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực hiện nay vẫn c n nhi u diễn biến phức t p, ti m ẩn nhi u nhân tố bất tr c, khó lƣờng, cùng với đó là việc xuất hiện nhi u lo i hình chiến tranh và phƣơng thức tác chiến mới. Ở khu vực Châu Á - Thái ình Dƣơng, những tranh chấp l nh thổ, biển, đảo giữa các nƣớc lớn tiếp tục diễn ra. Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch vẫn đang tiến hành chiến lƣợc “diễn biến h a bình”, b o lo n lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quy n” hòng lật đổ chế độ x hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh đó, DQTV vẫn là một lực lƣợng chiến lƣợc, rộng kh p và góp ph n quan trọng để bảo vệ vững ch c Tổ quốc. Những kinh nghiệm từ ho t động của lực lƣợng DQTV trong thời kỳ chống CTPH của đế quốc Mỹ 965-1973) vẫn c n nguyên giá trị, góp ph n vào việc xây dựng lực lƣợng DQTV hiện nay nhằm đảm bảo vững ch c thế trận quốc ph ng toàn dân, an ninh nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên những ý nghĩa đó, việc nghiên cứu v lực lƣợng DQTV trong thời kỳ chống CTPH của đế quốc Mỹ 965- 973 có tính thời sự, ý nghĩa khoa học và giá 2 trị thực tiễn. Chính vì vậy, ch ng tôi quyết định chọn đ tài “Lực lượng dân quân tự vệ miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965-1973)” làm luận án Tiến sĩ Sử học.
ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống v quá trình xây dựng và ho t động của lực lƣợng DQTV mi n c Việt Nam từ năm 965 đến năm 973. Nhiệm vụ nghiên cứu Trên cơ sở mục tiêu trên, luận án giải quyết các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đ tài - Phân tích bối cảnh lịch sử, âm mƣu tiến hành CTPH của đế quốc Mỹ; trình bày chủ trƣơng của Đảng, Quân ủy Trung ƣơng, ộ Quốc ph ng v tổ chức, xây dựng lực lƣợng DQTV từ năm 965 đến năm 973. - Trình bày quá trình xây dựng, trang bị, công tác huấn luyện và nhiệm vụ của lực lƣợng DQTV từ năm 965 đến năm 973.
- Trình bày ho t động của lực lƣợng DQTV từ năm 965 đến năm 973 trên các lĩnh vực chiến đấu gồm: chiến đấu, phục vụ bộ đội chiến đấu, vây b t phi công) và phục vụ chiến đấu gồm: tổ chức ph ng không sơ tán; đảm bảo giao thông vận tải; đảm bảo trật tự trị an; tham gia lao động sản xuất; tham gia kh c phục hậu quả chiến tranh .
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Dân quân tự vệ miền Bắc chống chiến tranh phá hoại 1965-1973" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án nghiên cứu vai trò lực lượng dân quân tự vệ miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1965-1973 trong kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Luận án "Dân quân tự vệ miền Bắc chống chiến tranh phá hoại 1965-1973" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - Học viện Khoa học xã hội. Năm bảo vệ: 2019.
Luận án "Dân quân tự vệ miền Bắc chống chiến tranh phá hoại 1965-1973" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Dân quân tự vệ miền Bắc chống chiến tranh phá hoại 1965-1973" thuộc chuyên ngành Lịch sử. Danh mục: Lịch Sử Việt Nam.
Luận án "Dân quân tự vệ miền Bắc chống chiến tranh phá hoại 1965-1973" có bao nhiêu trang?
Luận án "Dân quân tự vệ miền Bắc chống chiến tranh phá hoại 1965-1973" có 207 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Dân quân tự vệ miền Bắc chống chiến tranh phá hoại 1965-1973" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.