Luận án nghiên cứu bê tông xi măng sử dụng phụ gia nano SiO2 và silica fume - Trường Đại học Xây dựng

Nghiên cứu ứng dụng phụ gia nano SiO2 cải thiện bê tông xi măng vùng miền Tây Nam Bộ, nâng cao độ bền và khả năng chống thấm.

Tác giả

Luan An

Số trang

160

Thời gian đọc

24 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Thực trạng đường bê tông xi măng tại miền Tây Nam Bộ
Số trang:
160 trang
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Thực trạng đường bê tông xi măng tại miền Tây Nam Bộ

Mặt đường bê tông xi măng giữ vai trò chủ chốt trong hạ tầng giao thông toàn cầu. Nhiều quốc gia phát triển ưu tiên sử dụng loại vật liệu này cho các tuyến đường cao tốc. Bê tông xi măng sở hữu khả năng chịu tải trọng lớn và tuổi thọ khai thác cao. Tại Việt Nam, tỷ lệ ứng dụng mặt đường bê tông xi măng vẫn còn ở mức khiêm tốn so với tiềm năng. Khu vực miền Tây Nam Bộ đang đẩy mạnh xây dựng các tuyến cao tốc và đường liên tỉnh bằng bê tông. Sự chuyển dịch này đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng tăng. Đồng thời, điều kiện địa chất phức tạp tại đồng bằng sông Cửu Long đòi hỏi kết cấu mặt đường bền vững hơn. Việc nâng cao chất lượng bê tông xi măng trở thành yêu cầu cấp thiết cho các dự án giao thông trọng điểm trong khu vực.

1.1. Tỉ lệ mặt đường bê tông xi măng trên thế giới

Mặt đường bê tông xi măng chiếm tỷ trọng lớn tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tại châu Á, Trung Quốc và Thái Lan ghi nhận tỷ lệ từ 30% đến 40% trên các trục đường chính. Hàn Quốc đạt khoảng 65% tổng chiều dài đường cao tốc sử dụng mặt đường bê tông. Tại Nhật Bản, tỷ lệ này từng đạt 50% đến 60% trước khi điều chỉnh cho công tác nâng cấp hệ thống cũ. Tại Mỹ, khoảng 60% mạng lưới đường liên bang ứng dụng giải pháp bê tông xi măng, đặc biệt ở các đô thị có lưu lượng xe lớn. Bỉ cũng ghi nhận 40% đường cao tốc và 37% đường tỉnh lộ sử dụng vật liệu này. Các con số chứng minh độ tin cậy vượt trội của bê tông xi măng trong xây dựng giao thông hiện đại.

1.2. Xu hướng phát triển đường bê tông tại miền Tây Nam Bộ

Việt Nam bắt đầu làm quen với mặt đường bê tông xi măng từ đầu thập niên 80. Các tuyến Quốc lộ 3 và Quốc lộ 14 là những công trình tiêu biểu thời kỳ đầu. Hiện nay, mặt đường bê tông xi măng mới chỉ chiếm khoảng 3% mạng lưới giao thông và 5% hệ thống quốc lộ toàn quốc. Miền Tây Nam Bộ đang triển khai hàng loạt dự án giao thông huyết mạch mới. Dự kiến tỷ lệ mặt đường bê tông xi măng tại khu vực này sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gian tới. Yếu tố ngập úng và nền đất yếu tại Tây Nam Bộ là động lực chính để thay thế mặt đường nhựa truyền thống. Công nghệ vật liệu mới đóng vai trò then chốt giúp tối ưu hóa chi phí và tăng độ bền công trình.

II. Tiềm năng tro trấu làm nano SiO2 cho bê tông xi măng

Sản xuất xi măng truyền thống tiêu thụ nhiều năng lượng và phát thải lượng lớn khí nhà kính CO2. Ngành xây dựng đang tìm kiếm các loại phụ gia khoáng hoạt tính nhằm thay thế một phần xi măng. Bột silica siêu mịn là giải pháp hàng đầu để cải thiện vi cấu trúc bê tông. Trong đó, tro trấu nổi lên như một nguồn nguyên liệu dồi dào và giá thành thấp. Phụ gia nano SiO2 điều chế từ tro trấu mang lại tiềm năng kỹ thuật rất lớn. Việc tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp này vừa giúp hạ giá thành sản xuất, vừa bảo vệ môi trường sinh thái. Đây là hướng đi bền vững cho ngành vật liệu xây dựng tại Việt Nam nói chung và khu vực Tây Nam Bộ nói riêng.

2.1. Nguồn phế phẩm tro trấu dồi dào tại miền Tây Nam Bộ

Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới với sản lượng lúa bình quân 42 triệu tấn mỗi năm. Miền Tây Nam Bộ là vựa lúa lớn nhất, chiếm phần lớn sản lượng lúa gạo cả nước. Quá trình xay xát một tấn lúa tạo ra khoảng 200 kg vỏ trấu. Sau khi đốt cháy, khối lượng vỏ trấu này để lại khoảng 40 kg tro trấu. Lượng chất thải tro trấu hàng năm tại Việt Nam lên tới khoảng 8 triệu tấn. Phần lớn nguồn tro trấu hiện chưa được xử lý triệt để và thải trực tiếp ra môi trường. Việc xả thải tự do gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước và đất canh tác. Khai thác tro trấu làm vật liệu xây dựng giúp giải quyết triệt để bài toán rác thải nông nghiệp.

2.2. Phương pháp tổng hợp silica nano từ nguồn tro trấu

Tro trấu sau khi đốt cháy hoàn toàn chứa hàm lượng silica rất cao, dao động từ 85% đến 98% theo khối lượng. Đây là nguồn cung cấp silica tự nhiên lý tưởng để tổng hợp các hạt nano SiO2. Các nghiên cứu truyền thống thường dùng tiền chất silic tinh khiết đắt đỏ ở quy mô phòng thí nghiệm. Việc chuyển sang tro trấu giúp giảm mạnh chi phí nguyên liệu đầu vào. Quá trình chế tạo silica nano từ tro trấu có thể áp dụng các kỹ thuật như sol-gel, kết tủa hóa học, vi nhũ tương hoặc thủy nhiệt. Hạt silica thu được sở hữu diện tích bề mặt riêng lớn và độ hoạt tính pozzolanic vượt trội. Vật liệu này sẵn sàng phục vụ cho quá trình phối trộn bê tông xi măng chất lượng cao.

III. Vai trò phụ gia nano SiO2 trong cải tiến bê tông mới

Công nghệ nano mở ra bước đột phá mới cho ngành khoa học vật liệu xây dựng hiện đại. Việc đưa các hạt nano vào hỗn hợp bê tông giúp thay đổi căn bản cấu trúc vi mô của đá xi măng. Phụ gia nano SiO2 phản ứng nhanh với canxi hydroxit tự do để tạo thành gel C-S-H bền vững. Phản ứng này làm đặc chắc các lỗ rỗng mao dẫn bên trong khối bê tông. Nhờ đó, bê tông gia cường hạt nano sở hữu cường độ nén và độ bền uốn vượt trội. Đồng thời, khả năng chống thấm nước và kháng xâm thực hóa chất của kết cấu cũng tăng lên rõ rệt. Đây là tiền đề quan trọng để nâng cao tuổi thọ của các công trình hạ tầng giao thông.

3.1. Ứng dụng công nghệ nano trong chế tạo bê tông xi măng

Công nghệ nano được khởi xướng từ năm 1960 bởi nhà vật lý Richard Feynman tại Viện Công nghệ California. Bản chất của công nghệ này là thao tác và cấu trúc lại vật chất ở kích thước dưới 100 nanomet. Trong hai thập kỷ gần đây, công nghệ nano đã thâm nhập mạnh mẽ vào lĩnh vực vật liệu xây dựng. Việc bổ sung các hạt nano phù hợp giúp cải thiện đồng thời đặc tính cơ học, nhiệt và độ bền của bê tông. Các hạt nano SiO2 đóng vai trò như mầm kết tinh, đẩy nhanh tốc độ thủy hóa xi măng trong giai đoạn đầu. Cấu trúc đá xi măng trở nên đồng nhất, giảm thiểu tối đa các vết nứt vi mô nguy hiểm.

3.2. Hiệu quả kết hợp giữa nano SiO2 và silica fume

Nano SiO2 và silica fume là hai dạng phụ gia silica có tính tương thích cơ lý rất cao. Khả năng ứng dụng thực tế của tổ hợp hai phụ gia này vượt trội hơn so với nhiều vật liệu nano khác. Silica fume lấp đầy các khoảng trống kích thước micromet giữa các hạt xi măng. Trong khi đó, nano SiO2 tiếp tục điền đầy các lỗ rỗng siêu nhỏ ở cấp độ nanomet. Sự kết hợp đa kích thước này tạo nên hiệu ứng chèn chặt tối ưu cho khung cốt liệu bê tông. Tuy nhiên, quy trình tinh chế và phân tán hai loại hạt này đòi hỏi công nghệ kiểm soát nghiêm ngặt. Việc làm chủ kỹ thuật phối trộn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế và kỹ thuật to lớn cho nhà thầu.

IV. Giải pháp xanh phát triển bê tông nano miền Tây Nam Bộ

Phát triển hạ tầng giao thông gắn liền với bảo vệ môi trường là mục tiêu cốt lõi tại đồng bằng sông Cửu Long. Ứng dụng phụ gia nano SiO2 từ tro trấu mang lại lợi ích kép về kinh tế và sinh thái. Giải pháp này giúp cắt giảm đáng kể lượng clinker xi măng tiêu thụ trên mỗi mét khối bê tông. Sự suy giảm nhu cầu xi măng trực tiếp làm hạ mức phát thải khí nhà kính trong quá trình nung luyện. Bên cạnh đó, các dự án giao thông tại miền Tây Nam Bộ có cơ hội tiếp cận nguồn vật liệu chịu mặn và bền sunfat tốt hơn. Bê tông nano tro trấu là chìa khóa xây dựng mạng lưới đường bộ thích ứng biến đổi khí hậu.

4.1. Giảm thiểu lượng phát thải khí nhà kính trong xây dựng

Ngành sản xuất xi măng toàn cầu chịu trách nhiệm cho một phần đáng kể lượng khí thải carbon vào khí quyển. Việc thay thế một phần xi măng bằng phụ gia khoáng hoạt tính là giải pháp giảm phát thải hiệu quả nhất. Nano SiO2 từ tro trấu cho phép giảm tỷ lệ xi măng mà không làm suy giảm cường độ chịu lực của bê tông. Mỗi tấn tro trấu được tái chế thành phụ gia xây dựng tương ứng với việc giảm thiểu lượng lớn rác thải hữu cơ gây ô nhiễm. Quá trình này hạn chế tình trạng đốt rác lộ thiên và xả trấu xuống các dòng kênh rạch Tây Nam Bộ. Công trình giao thông xanh từ đó đóng góp tích cực vào cam kết trung hòa carbon quốc gia.

4.2. Định hướng ứng dụng bê tông tro trấu vào hạ tầng giao thông

Hạ tầng giao thông miền Tây Nam Bộ chịu tác động nặng nề của triều cường, xâm nhập mặn và nền đất yếu. Bê tông thông thường dễ bị thoái hóa nhanh chóng dưới tác động ăn mòn của ion clorua và sunfat. Bê tông xi măng bổ sung nano SiO2 tro trấu sở hữu độ đặc chắc cao và hệ thống lỗ rỗng kín khít. Tính chất này ngăn chặn hiệu quả sự thâm nhập của nước mặn vào phá hủy cốt thép bên trong. Định hướng ứng dụng bê tông nano vào các tuyến cao tốc, cầu cống và đường đê bao là hoàn toàn khả thi. Việc thương mại hóa công nghệ sản xuất nano từ tro trấu tại địa phương sẽ tạo đòn bẩy phát triển kinh tế vùng.

Mục lục chi tiết luận án

MỞ ĐẦU
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU NANO SiO2 VÀ SILICA FUME LÀM PHỤ GIA CHO BÊ TÔNG XI MĂNG TRONG XÂY DỰNG MẶT ĐƯỜNG Ô TÔ
1.1. Định nghĩa vật liệu nano
1.2. Phân loại vật liệu nano
1.3. Nghiên cứu ứng dụng phụ gia nano SiO2 và silica Fume cho bê tông xi măng
1.3.1. Nghiên cứu ứng dụng bê tông xi măng sử dụng phụ gia nano SiO2 và silica Fume trên thế giới
1.3.1.1. Các nghiên cứu ứng dụng vật liệu nano SiO2 vào trong bê tông
2. CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VIỆC SỬ DỤNG PHỤ GIA SILICA FUME VÀ NANO SiO2 ĐIỀU CHẾ TỪ TRO TRẤU CHO VỮA - BÊ TÔNG XI MĂNG
3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM PHỤ GIA NANO SiO2 VÀ SILICA FUME NÂNG CAO TÍNH NĂNG CỦA BÊ TÔNG XI MĂNG
4. CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU BÊ TÔNG XI MĂNG SỬ DỤNG PHỤ GIA NANO SiO2 VÀ SILICA FUME TRONG KẾT CẤU MẶT ĐƯỜNG Ô TÔ KHU VỰC MIỀN TÂY NAM BỘ
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC ĐÍNH KÈM
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án nghiên cứu bê tông xi măng sử dụng phụ gia nano sio2 và silica fume trong kết cấu mặt dường ô tô khu vực miền tây nam bộ

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (160 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Sự cần thiết của việc nghiên cứu Một số nước khu vực Châu Á như Trung Quốc, Thái Lan mặt đường Bê tông xi măng (BTXM) chiếm từ 30-40% tổng chiều dài các đường cao tốc và trục chính. Tại Hàn Quốc, mặt đường BTXM chiếm khoảng 65% tổng chiều dài các đường cao tốc. Tại Nhật Bản, khoảng 50-60% là mặt đường BTXM, những năm gần đây tỉ lệ mặt đường BTXM ở Nhật Bản đã giảm đáng kể vì những lý do khác nhau, trong đó có lý do nâng cấp hệ thống đường bê tông cũ. Tại Mỹ, khoảng 60% hệ thống đường liên bang là BTXM, đặc biệt là khu vực đô thị nơi được dự báo về một lưu lượng giao thông rất lớn, BTXM được lựa chọn là giải pháp chính cho mặt đường.

Tại Bỉ, đối với đường cao tốc, mặt đường BTXM chiếm khoảng 40%; đối với đường tỉnh lộ, mặt đường BTXM chiếm khoảng 37% [26]. Ở Việt Nam vào đầu thập niên 80 của thế kỉ 20, một số đoạn đường được xây dựng bằng mặt đường BTXM như Quốc Lộ 3 (đoạn Thái Nguyên – Bắc Cạn), Quốc Lộ 14 (đoạn Tiên Yên – Móng Cái) và mãi đến đầu thế kỉ 21 loại mặt đường này mới thực sự có điều kiện để xây dựng. Tuy nhiên, cho đến nay mặt đường BTXM vẫn chiếm một tỉ lệ khá nhỏ, khoảng 3% mạng lưới đường và 5% hệ thống đường Quốc Lộ [26]. Hiện nay, khu vực miền Tây Nam Bộ đã và đang thực hiện một loạt các dự án đường BTXM kể cả các đường cao tốc và tương lai gần tỉ lệ mặt đường BTXM sẽ tăng lên đáng kể.

Bê tông xi măng là vật liệu quan trọng và phổ biến nhất trong ngành xây dựng, đồng thời tiêu thụ hầu hết xi măng được sản xuất ra trên thế giới. Sử dụng khối lượng lớn xi măng làm tăng khí thải CO2 và hậu quả là phát sinh hiệu ứng nhà kính. Phương pháp để hạn chế thành phần xi măng trong hỗn hợp bê tông là sử dụng silica hạt mịn. Một trong những loại bột silica có tiềm năng thay thế xi măng và phụ gia cho bê tông đó là nano SiO2 (NS) được điều chế từ tro trấu và sự kết hợp hai loại phụ gia nano SiO2 + silica Fume (SF).

Tuy nhiên, hiệu quả thương mại của NS và SF là tổ hợp của nhiều yếu tố phức tạp, bao gồm quá trình làm sạch và sản xuất phức tạp đã khiến cho tính ứng dụng của loại vật liệu này vào ngành công nghiệp xây dựng còn hạn chế. Nghiên cứu về công nghệ nano lần đầu tiên được giới thiệu bởi người đoạt giải Nobel Vật lý Richard Feynman tại Viện Công nghệ California (Feynman, 1960). Một sự phát triển đáng kể lĩnh vực công nghệ nano và vật liệu nano đã diễn ra trong thế kỷ qua, đặc 2 biệt là trong hai thập kỷ gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học khác như vật lý và hóa học cũng như sự phát triển của thiết bị và kỹ thuật thử nghiệm. Định nghĩa của "công nghệ nano" phụ thuộc vào lĩnh vực mà nó nghiên cứu đến.

Nhưng về cơ bản nó được định nghĩa là sự hiểu biết, kiểm soát và tái cấu trúc của vật chất ở quy mô nanomet (tức là dưới 100nm) để tạo ra vật liệu có tính chất và chức năng mới.Cải tiến nano vào bê tông có thể được thực hiện thông qua kết hợp của các hạt nano phù hợp hoặc ống nano vào bê tông, do đó sẽ cải thiện được đặc tính cơ học, nhiệt và độ bền của bê tông. Nano SiO2 và silica Fume cũng thuộc cùng một loại và khả năng áp dụng thực tế của việc sử dụng hai loại phụ gia này trong ngành công nghiệp xây dựng là cao hơn nhiều so với vật liệu nano khác [52]. Từ lâu, vật liệu silica được biết đến với những ứng dụng tuyệt vời như làm vật liệu xúc tác, vật liệu điện môi, chất hấp phụ khí, hấp phụ ion kim loại nặng, chất vô cơ. Để chế tạo loại vật liệu này có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau như Sol-gel, kết tủa hóa học, phương pháp vi nhũ tương và kỹ thuật thủy nhiệt [85].

Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu trên thường sử dụng nguồn chất đầu của silic ở dạng tinh khiết, đắt tiền và chỉ dừng lại ở quy mô thí nghiệm nên hạn chế khả năng ứng dụng thực tế của silica. Do vậy, xu hướng tìm ra nguồn nguyên liệu sẵn có, rẻ tiền và giàu silic để chế tạo loại vật liệu này đang được quan tâm. Việt Nam nói chung và khu vực miền Tây Nam Bộ nói riêng là quốc gia sản xuất gạo đứng thứ hai trên thế giới với sản lượng gạo ước tính trung bình đạt khoảng 42 triệu tấn trên năm [81]. Trấu sau khi cháy, các thành phần hữu cơ bị phân hủy và thu được tro trấu.

Tro trấu là một trong những nguyên liệu giàu silica nhất đạt khoảng 85% đến 98% về khối lượng nên nó là nguồn nguyên liệu lý tưởng để tổng hợp vật liệu Silica [81]. Khi chế biến, cứ mỗi tấn lúa tạo ra khoảng 200kg vỏ trấu và lượng vỏ tro trấu này sau khi đốt tạo ra khoảng 40 kg tro [51]. Như vậy, trung bình hàng năm cả thế giới tạo ra khoảng 130 triệu tấn vỏ trấu. Hiện nay, hầu hết lượng vỏ trấu tạo ra chưa được tận dụng mà vứt bỏ như một dạng chất thải nông nghiệp.

Chất thải này tập trung phổ biến ở một số quốc gia có nền nông nghiệp phát triển. Việt Nam, khối lượng chất thải tro trấu trung bình 8 triệu tấn/năm. Do chưa có giải pháp xử lý hiệu quả nên tro trấu khi thải thẳng ra môi trường gây hậu quả nghiêm trọng về ô nhiễm môi trường, nhất là nguồn nước [5][6]. 3 Nguồn tro trấu khu vực miền Tây Nam Bộ là phế phẩm nông nghiệp hiện nay rất nhiều và đang gây ô nhiễm môi trường.

Việc sử dụng nguồn tro trấu để điều chế thành phụ gia NS ứng dụng vào trong BTXM cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu. Nhưng sự kết hợp hai loại phụ gia NS+SF sẽ làm tăng các chỉ về mặt cơ học và hóa học của BTXM làm mặt đường ô tô thì chưa có nghiên cứu chuyên sâu ở Việt Nam. Vì vậy, tác giả chọn tên luận án luận án “Nghiên cứu vật liệu nano SiO2 điều chế từ tro trấu và silica Fume làm phụ gia cho bê tông xi măng trong xây dựng đường ô tô khu vực miền Tây Nam Bộ” là cần thiết, mang tính thời sự, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Mục đích nghiên cứu của luận án - Thông qua quá trình điều chế vật liệu tro trấu thành sản phẩm phụ gia NS.

Qua đó ứng dụng vật liệu nano SiO2 vào trong thành phần vữa xi măng và bê tông xi măng. - Xác định tỉ tệ hợp lý sử dụng phụ gia NS và sự kết hợp hai loại phụ gia NS+SF trong thiết kế thành phần BTXM theo yêu cầu về cường độ. - Nghiên cứu thực nghiệm đánh giá các đặc trưng cường độ, mô đun đàn hồi, độ thấm ion clo, độ mài mòn, hệ số giãn nở nhiệt (CTE), độ thấm nước và chiều sâu thấm của các loại BTXM sử dụng phụ gia NS và phụ gia kết hợp NS+SF. - Đề suất khả năng ứng dụng của BTXM sử dụng phụ gia NS và phụ gia kết hợp NS+SF trong thiết kế và thi công áo đường cứng khu vực miền Tây Nam Bộ.

Phạm vi nghiên cứu của luận án - Tính toán thiến kế thành phần mẫu vữa xi măng sử dụng phụ gia nano SiO2. - Tính toán thiết kế thành phần bê tông xi măng sử dụng các phụ gia nano SiO2 và phụ gia kết hợp NS+SF. - Thí nghiệm xác định các đặc trưng cường độ, khả năng chống mài mòn, mô đun đàn hồi, hệ số giãn nở nhiệt (CTE), độ chống thấm ion clo, chống thấm nước, của các loại bê tông sử dụng phụ gia NS và phụ gia NS+SF. - Tính toán các dạng kết cấu mặt đường BTXM sử dụng phụ gia NS và phụ gia NS+SF ứng dụng mặt đường ô tô khu vực miền Tây Nam Bộ theo QĐ 3220 [28].

Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp lý thuyết kết hợp với thực nghiệm. - Phương pháp phân tích đánh giá. Bố cục của luận án Luận án gồm có phần Mở đầu, tiếp theo là 4 Chương, phần Kết luận và Kiến nghị, danh mục các công trình tác giả đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo. Cụ thể là: - Mở đầu.

- Chương 1: Tổng quan về vật liệu nano SiO2 và silica Fume làm phụ gia cho bê tông xi măng trong xây dựng mặt đường ô tô. - Chương 2: Nghiên cứu cơ sở khoa học việc sử dụng phụ gia silica Fume và nano SiO2 điều chế từ tro trấu cho vữa - bê tông xi măng. - Chương 3: Nghiên cứu thực nghiệm phụ gia nano SiO2 và silica Fume nâng cao tính năng của bê tông xi măng. - Chương 4: Nghiên cứu bê tông xi măng sử dụng phụ gia nano SiO2 và silica Fume trong kết cấu mặt đường ô tô khu vực miền Tây Nam Bộ.

- Phần kết luận và kiến nghị. - Danh mục các công trình tác giả đã công bố. - Tài liệu tham khảo. - Phụ lục đính kèm.

Những đóng góp mới của luận án - Tận dụng nguồn phế thải tro trấu của các nhà máy sản xuất gạch khu vực miền Tây Nam Bộ, thông qua quá trình điều chế thu được sản phẩm nano SiO2 thích hợp cho việc làm chất phụ gia vữa xi măng và BTXM. - Nghiên cứu đề xuất bảng cấp phối của vữa xi măng theo tỉ lệ NS (0.0)%, tìm ra phương trình hồi quy Rn, Rku ở tuổi 28 ngày và biến tỉ lệ phụ gia NS max lớn nhất, làm cơ sở lựa chọn tỉ lệ thích hợp trong phạm vi thực nghiệm BTXM. - Đã thí nghiệm để đưa ra các thông số chủ yếu về cường độ chịu nén, cường độ chịu kéo uốn, mô đun đàn hồi, độ mài mòn, khả năng chống thấm ion clo, hệ số thấm và độ thấm sâu của BTXM; tính công tác của BTXM cấp C35 sử dụng phụ gia NS và BTXM sử dụng kết hợp phụ gia NS+SF trong kết cấu mặt đường ô tô; đề xuất cấu tạo các dạng kết cấu mặt đường ô tô BTXM sử dụng phụ gia NS và BTXM sử dụng kết hợp phụ gia NS+SF. Kiến nghị và phạm vi áp dụng.

5 - Thực nghiệm tìm ra hệ số giãn nở nhiệt (CTE) của bê tông xi măng cấp C35 sử dụng phụ gia NS là 10,408.10-6/0C; BTXM kết hợp phụ gia NS+SF là 7,967.10-6/0C; BTXM thông thường là 10,797.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Nghiên cứu bê tông xi măng phụ gia nano SiO2 tại miền Tây Nam Bộ (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/ky-thuat-xay-dung-kien-truc/ky-thuat-xay-dung-dan-dung-cong-nghiep/luan-an-nghien-cuu-be-tong-xi-mang-phu-gia-nano-sio2-silica-fume-mien-tay-nam-bo

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Nghiên cứu bê tông xi măng phụ gia nano SiO2 tại miền Tây Nam Bộ" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu ứng dụng phụ gia nano SiO2 cải thiện bê tông xi măng vùng miền Tây Nam Bộ, nâng cao độ bền và khả năng chống thấm.

Luận án "Nghiên cứu bê tông xi măng phụ gia nano SiO2 tại miền Tây Nam Bộ" có bao nhiêu trang?

Luận án "Nghiên cứu bê tông xi măng phụ gia nano SiO2 tại miền Tây Nam Bộ" có 160 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Nghiên cứu bê tông xi măng phụ gia nano SiO2 tại miền Tây Nam Bộ" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter