Tổng quan về luận án

Nghiên cứu về năng lực quản trị và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trước các thách thức an ninh phi truyền thống là một đòi hỏi cấp bách của khoa học chính trị và khoa học quản trị công hiện đại. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước (Mã số: 62 31 02 03) của nghiên cứu sinh Bùi Văn De, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đinh Ngọc Giang tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2019), mang tựa đề: "Các tỉnh, thành ủy ở Đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn hiện nay". Công trình khai phá một khoảng trống học thuật (research gap) quan trọng: sự thiếu hụt khung lý thuyết và thực tiễn về phương thức lãnh đạo của cấp ủy cấp tỉnh đối với một hiểm họa sinh thái mang tính sống còn tại vùng kinh tế trọng điểm sinh thái Tây Nam Bộ.

Tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) tại Việt Nam được định lượng hóa rất rõ rệt trong báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (IPCC, SREX Việt Nam): thiên tai cực đoan làm thất thoát khoảng 1,5% GDP mỗi năm; kịch bản nước biển dâng 1 mét sẽ trực tiếp đe dọa 1% dân số và làm suy giảm tới 25% GDP nông nghiệp toàn quốc. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gồm 13 đơn vị hành chính cấp tỉnh (diện tích tự nhiên 3,95 triệu ha, chiếm 12% diện tích cả nước, dân số 16,2 triệu người với 82% cư trú tại nông thôn) là tâm điểm chịu tổn thương nặng nề nhất.

Luận án thiết lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết cốt lõi:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Cơ sở lý luận và nội hàm khoa học của hoạt động lãnh đạo của tỉnh, thành ủy đối với công tác ứng phó BĐKH trong điều kiện mô hình một đảng cầm quyền là gì?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Thực trạng phương thức lãnh đạo của 13 tỉnh, thành ủy ĐBSCL giai đoạn 2010 - 2018 bộc lộ những điểm nghẽn thể chế, hạn chế nhận thức và nguyên nhân cốt lõi nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Những giải pháp đột phá nào về phương thức lãnh đạo và liên kết vùng cần được xác lập nhằm bảo đảm phát triển bền vững ĐBSCL đến năm 2030?
  • Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1): Hiệu quả ứng phó BĐKH tại ĐBSCL tương quan thuận với mức độ chủ động đổi mới mô hình kinh tế nông nghiệp thích ứng của cấp ủy địa phương.
  • Giả thuyết nghiên cứu 2 (H2): Sự chia cắt hành chính cục bộ giữa các tỉnh, thành ủy là rào cản lớn nhất làm suy giảm hiệu lực quản trị rủi ro khí hậu đa tầng tại toàn vùng.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL giai đoạn từ năm 2010 đến 2018 và dự báo giải pháp đến năm 2030, trong đó chọn mẫu khảo sát thực địa chuyên sâu tại 7 địa bàn trọng điểm đại diện cho các tiểu vùng sinh thái: Thành phố Cần Thơ, Long An, Đồng Tháp, Bến Tre, Trà Vinh, Kiên Giang và Cà Mau.

Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn trong luận án được phân tích và tổng hợp qua hai dòng mạch học thuật chính:

Thứ nhất, dòng nghiên cứu về năng lực cầm quyền và phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản: Các công trình tiêu biểu của Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Trần Khắc Việt (2008), Lê Hữu Nghĩa (2006), Trần Khắc Việt, Nguyễn Văn Giang, Phạm Tất Thắng (2013) đã xây dựng hệ thống luận điểm về đổi mới phương thức lãnh đạo, chống bao biện làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo. Các nghiên cứu quốc tế từ Đảng Cộng sản Trung Quốc như Lưu Chấn Hoa (2006), Lưu Tôn Hồng (2007), Hoàng Văn Hổ (2009) đi sâu vào quy luật "cầm quyền khoa học, cầm quyền dân chủ và cầm quyền theo pháp luật". Ở Lào, các tác giả Somnouk Somvichit (2013), Bounthong Chitmany (2014) khảo sát phương thức lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong quản trị nhà nước và xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu tiếp cận ở cấp độ vĩ mô, chưa giải quyết mối quan hệ giữa phương thức lãnh đạo với vấn đề an ninh phi truyền thống ở cấp vùng sinh thái cụ thể.

Thứ hai, dòng nghiên cứu về tác động sinh thái và kinh tế của BĐKH: Nghiên cứu của Mohan Munasinghe (2002) về Đường cong Kuznets Môi trường (EKC), Kenneth Arrow, Partha Dasgupta, Carl Folke, C.S. Holling et al. (1995) về sức chống đỡ sinh thái (ecological resilience), Candice Stevens (2011) về tăng trưởng xanh trong nông nghiệp, cùng Báo cáo Đánh giá lần thứ 4 của IPCC (2007) so sánh ĐBSCL với đồng bằng sông Hằng (Ganges Delta, Bangladesh) đều nhấn mạnh sự suy giảm tài nguyên nước và tính dễ bị tổn thương nghiêm trọng của nông nghiệp hạ lưu sông quốc tế. Tại Việt Nam, Trần Hồng Thái (2012), Hà Huy Ngọc, Bùi Quang Tuấn (2014, 2017), Ngô Thọ Hùng (2014), Lê Anh Tuấn (2012) phân tích sâu về suy giảm dòng chảy mùa cạn, sạt lở bờ sông bờ biển và nguy cơ ngập lụt.

Tranh luận học thuật cốt lõi: Tồn tại hai quan điểm trái chiều trong y văn: Một trường phái kỹ trị (technocratic approach) cho rằng ứng phó BĐKH thuần túy là bài toán công nghệ, công trình thủy lợi và thích ứng kinh tế thị trường; trường phái ngược lại khẳng định quản trị khí hậu phụ thuộc quyết định vào cấu trúc quyền lực chính trị và năng lực thể chế hóa đường lối.

Định vị của luận án: Luận án của Bùi Văn De định vị chính xác vào khoảng trống giao thoa giữa hai dòng nghiên cứu trên: chuyển hóa các nguyên lý khoa học sinh thái - khí hậu thành nội dung, quy trình, phương thức lãnh đạo chính trị cụ thể của tổ chức đảng cấp địa phương.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng lý thuyết xây dựng Đảng cầm quyền trong bối cảnh sinh thái học chính trị (political ecology) hiện đại thông qua việc đưa ra định nghĩa chuẩn xác về sự lãnh đạo của cấp ủy cấp tỉnh đối với an ninh môi trường. Như luận án khẳng định: "Các tỉnh, thành ủy ở đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo ứng phó với biến đổi khí hậu là hoạt động của các tỉnh, thành ủy ĐBSCL xác định những mục tiêu, chủ trương giải pháp ứng phó với BĐKH; lãnh đạo tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát thực hiện chủ trương đó; đảm bảo thực hiện tốt quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần vào phát triển bền vững ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long."

Đóng góp này bổ sung vào lý thuyết phương thức lãnh đạo của Đảng ba mệnh đề lý luận mới:

  • Mệnh đề 1 (P1): Sự lãnh đạo của Đảng đối với BĐKH là sự chuyển dịch từ quản trị hành chính mệnh lệnh sang quản trị thích ứng đa tầng (multi-level adaptive governance), lấy sự cân bằng sinh thái làm tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo.
  • Mệnh đề 2 (P2): Năng lực ban hành nghị quyết của cấp ủy về BĐKH phải dựa trên cơ sở tri thức khoa học dự báo khí tượng thủy văn, xóa bỏ tính chủ quan, định tính.
  • Mệnh đề 3 (P3): Kiểm tra, giám sát trong ứng phó BĐKH không chỉ nhắm vào kỷ luật cán bộ mà là công cụ đo lường hiệu lực thể chế và tính minh bạch của các dự án an sinh sinh kế.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp ba trụ cột lý thuyết: (1) Lý thuyết Đảng cầm quyền và Phương thức lãnh đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin; (2) Lý thuyết Tăng trưởng xanh và Sức chống đỡ sinh thái (Resilience Theory); (3) Lý thuyết Quản trị công mới và Phân cấp quản lý môi trường.

       ┌────────────────────────────────────────────────────────┐
       │   CÁC TỈNH, THÀNH ỦY ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG           │
       │   (Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Thường trực Cấp ủy)  │
       └──────────────────────────┬─────────────────────────────┘
                                  │
      ┌───────────────────────────┼───────────────────────────┐
      ▼                           ▼                           ▼
┌──────────────┐          ┌──────────────┐          ┌───────────────────┐
│ CÔNG TÁC     │          │ CÔNG TÁC TỔ  │          │ CÔNG TÁC KIỂM TRA │
│ CHÍNH TRỊ,   │          │ CHỨC, CÁN BỘ │          │ GIÁM SÁT VÀ TỔNG  │
│ TƯ TƯỞNG VÀ  │          │ VÀ THỂ CHẾ   │          │ KẾT THỰC TIỄN     │
│ BAN HÀNH NQ  │          │ HÓA CHÍNH    │          │                   │
│              │          │ QUYỀN        │          │                   │
└──────┬───────┘          └──────┬───────┘          └─────────┬─────────┘
       │                         │                            │
       └─────────────────────────┼────────────────────────────┘
                                 ▼
       ┌────────────────────────────────────────────────────────┐
       │ HỆ THỐNG THÍCH ỨNG VÀ GIẢM NHẸ BĐKH TOÀN DIỆN          │
       │ - Chuyển đổi mô hình kinh tế nông nghiệp xanh           │
       │ - Kiểm soát xâm nhập mặn, lũ lụt, sạt lở (13 tỉnh)     │
       │ - Liên kết tiểu vùng & Điều phối tài nguyên nước Mê Kông│
       └────────────────────────────────────────────────────────┘

Khung phân tích phân định rõ các điều kiện biên (boundary conditions): áp dụng đặc thù cho các đảng bộ cấp tỉnh tại vùng đồng bằng chịu tác động kép của BĐKH toàn cầu và việc khai thác thủy điện ở thượng nguồn lưu vực sông quốc tế (sông Mê Kông).

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận hành trên lập trường triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (Marxist dialectical materialism), kết hợp với chủ nghĩa hiện thực phản biện (critical realism). Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp phân tích định tính thể chế và khảo sát thực chứng xã hội học chính trị đa cấp độ (multi-level design).

Địa bàn nghiên cứu bao quát 13 tỉnh, thành phố thuộc ĐBSCL với cấu trúc 14 thành phố trực thuộc tỉnh, 5 quận, 13 thị xã, 102 huyện và 1.624 xã/phường/thị trấn. Mẫu nghiên cứu thực địa được phân tầng dựa trên 3 tiểu vùng sinh thái đặc trưng:

  • Vùng ngập lũ sâu thượng nguồn: Đồng Tháp, An Giang.
  • Vùng trung tâm phù sa ngọt và đô thị hóa: TP. Cần Thơ, Long An.
  • Vùng bán đảo và ven biển chịu mặn/sạt lở: Bến Tre, Trà Vinh, Kiên Giang, Cà Mau.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập dữ liệu áp dụng chiến lược tam giác hóa (data and methodological triangulation):

  • Phân tích thứ cấp tài liệu (Archival Research): Toàn bộ các nghị quyết đại hội đảng bộ, nghị quyết chuyên đề, chương trình hành động, báo cáo sơ kết/tổng kết của 13 tỉnh ủy, thành ủy và UBND các tỉnh từ năm 2010 đến 2018 liên quan đến thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI.
  • Điều tra xã hội học và khảo sát thực địa: Sử dụng bảng hỏi cấu trúc thu thập ý kiến cán bộ, đảng viên cấp cơ sở, cán bộ quản lý tài nguyên môi trường, nông nghiệp tại 7 địa bàn trọng điểm.
  • Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn sâu các nhà khoa học về biến đổi khí hậu, chuyên gia nông nghiệp ĐBSCL và cán bộ lãnh đạo cấp cao của hệ thống chính trị địa phương.

Data và phân tích

Số liệu định lượng phản ánh thực trạng sinh thái - dân số - kinh tế của vùng được trích xuất và xử lý đồng bộ:

  • Dân số ĐBSCL đạt 16,2 triệu người (23% cả nước); mật độ dân số bình quân 410 người/km2, phân bổ không đều (Tiền Giang 692 người/km2, Vĩnh Long 687 người/km2, trong khi Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu < 240 người/km2).
  • Tỷ lệ dân cư nông thôn chiếm 82%, trình độ học vấn thuộc nhóm "vùng trũng" cả nước, tạo sức ép khổng lồ lên quá trình chuyển đổi sinh kế.
  • Dữ liệu tổn thương khí hậu: Vùng thượng nguồn chịu lũ ngập từ 1,4 đến 1,9 triệu ha; mùa khô xâm nhập mặn lấn sâu 1,2 đến 1,6 triệu ha; nhiễm phèn và nước chua hóa chiếm 1,2 đến 1,4 triệu ha; thiếu nước ngọt cục bộ lên đến 2,1 triệu ha.

Các tài liệu, biên bản và dữ liệu điều tra được mã hóa, phân tích định tính chuyên đề (thematic analysis) kết hợp kiểm định chéo với các kịch bản phát thải và số liệu thủy văn đo đạc thực tế của Ủy hội sông Mê Kông quốc tế (MRC) và Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án đã phát hiện 4 kết quả mang tính đột phá từ thực tiễn lãnh đạo của các tỉnh, thành ủy ĐBSCL giai đoạn 2010 - 2018:

1. Mức độ tổn thương sinh thái trên thực tế vượt qua các kịch bản ứng phó thụ động: Nghiên cứu chứng minh ĐBSCL chịu tác động cộng hưởng cực đoan giữa BĐKH tự nhiên và tác động nhân sinh thượng nguồn: "ở những vùng đầu nguồn ảnh hưởng của lũ chiếm diện tích 1,4 đến 1,9 triệu ha diện tích đất tự nhiên; mùa khô, nguồn nước suy giảm dẫn đến mặn xâm nhập sâu trên diện tích khoảng 1,2 đến 1,6 triệu ha ở vùng ven biển; nhiễm phèn và lan truyền nước chua trên diện tích khoảng 1,2-1,4 triệu ha ở những vùng thấp trũng; thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt cho khoảng 2,1 triệu ha ở những vùng xa sông; xói lở bờ sông, bờ biển xảy ra nhiều nơi ngày càng nghiêm trọng hơn."

2. Tồn tại điểm nghẽn thể chế nghiêm trọng trong phương thức lãnh đạo của cấp ủy: Luận án bóc tách trực diện các hạn chế nội tại: "chậm ban hành văn bản để lãnh đạo. Chậm đổi mới phương thức lãnh đạo ứng phó với BĐKH, còn lúng túng trong quá trình chỉ đạo ứng phó với BĐKH. Vẫn còn một số tỉnh, thành ủy, chưa gắn phát triển kinh tế với ứng phó BĐKH, trình độ năng lực lãnh đạo, và sự am hiểu về BĐKH của một vài cấp ủy còn hạn chế."

3. Hiện tượng "khoán trắng" chuyên môn và sự suy yếu của giám sát cơ sở: Luận án chỉ rõ: "Vẫn còn tình trạng giao khoán cho các ngành chuyên môn thực hiện ứng phó với BĐKH, thiếu sự quan tâm, đôn đốc và tìm ra những giải pháp thích hợp cho người dân trong quá trình sản xuất gắn với ứng phó BĐKH. Vẫn còn số ít cán bộ sai phạm trong việc hỗ trợ chính sách cho người dân ứng phó với BĐKH. Việc phát huy vai trò của chính quyền trong ứng phó với BĐKH chưa mạnh mẽ, còn nhiều hạn chế." Đồng thời, các tổ chức đoàn thể như MTTQ, Hội Nông dân chủ yếu tuyên truyền một chiều, thiếu các mô hình sinh kế xanh thực chất.

4. Rào cản cát cứ địa phương và tâm lý trông chờ ngân sách: Tư duy cục bộ địa phương khiến các công trình đê bao, cống ngăn mặn xây dựng thiếu đồng bộ, gây xung đột lợi ích giữa các tỉnh giáp ranh (ví dụ giữa vùng ngọt hóa trồng lúa và vùng mặn hóa nuôi tôm); cấp ủy địa phương còn thụ động, nặng về trông chờ nguồn lực phân bổ từ Trung ương.

Implications đa chiều

  • Ý nghĩa lý thuyết: Cung cấp cơ sở khoa học để tái định hình khái niệm "năng lực lãnh đạo toàn diện" của cấp ủy Đảng cấp tỉnh trong bối cảnh các thách thức phi truyền thống, đóng góp vào bộ môn Khoa học Xây dựng Đảng và Xã hội học Chính trị.
  • Ý nghĩa phương pháp luận: Thiết lập khung chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ban hành nghị quyết và quy trình giám sát thực thi chính sách khí hậu tại các tổ chức đảng địa phương.
  • Ứng dụng thực tiễn: Cung cấp mô hình chuyển đổi cây trồng vật nuôi thích ứng mặn - ngọt - lợ; chuyển dịch từ "chống lại tự nhiên" sang "thuận thiên" (như tinh thần Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ).
  • Hàm ý chính sách: Đề xuất lộ trình xây dựng cơ chế điều phối liên kết vùng ĐBSCL do đại diện cấp ủy các tỉnh luân phiên chủ trì, gắn kết quy hoạch tích hợp 13 tỉnh thành đến năm 2030, tầm nhìn 2050.

Limitations và Future Research

Luận án thừa nhận một số giới hạn học thuật cần tiếp tục hoàn thiện:

  • Giới hạn về dữ liệu định lượng chuyên sâu: Do tính chất liên ngành, nguồn số liệu khí tượng thủy văn chủ yếu kế thừa từ các cơ quan chuyên môn của Bộ Tài nguyên Môi trường và Viện Khí tượng Thủy văn, chưa tự xây dựng được các mô hình hồi quy kinh tế lượng đo lường độ trễ chính sách của nghị quyết đảng.
  • Giới hạn không gian thời gian: Dữ liệu tổng kết thực tiễn dừng lại ở năm 2018, chưa đánh giá hết tác động toàn diện của đợt hạn mặn lịch sử 2019 - 2020 và đại dịch toàn cầu.
  • Điều kiện biên: Khung phân tích được thiết kế tối ưu cho thể chế chính trị Việt Nam và vùng đồng bằng ngập nước, việc ngoại suy sang các vùng cao ngầm ngập hạn hán (như Tây Nguyên hay Tây Bắc) cần có sự điều chỉnh biến số.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda) cần mở rộng 4 hướng:

  1. Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để lượng hóa tác động của nhận thức cấp ủy đến hành vi thích ứng của nông hộ.
  2. Nghiên cứu cơ chế tài chính khí hậu (Climate Finance) và thị trường tín chỉ carbon dưới sự lãnh đạo định hướng của tổ chức đảng.
  3. So sánh đối chiếu mô hình lãnh đạo khí hậu của cấp ủy địa phương tại ĐBSCL với các đảng bộ địa phương vùng ven biển miền Trung và Đồng bằng sông Hồng.
  4. Đánh giá tác động của các công trình thủy điện dòng chính Mê Kông theo kịch bản xuyên biên giới 2030 - 2050.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án tạo ra tác động đa tầng đối với khoa học và đời sống chính trị - xã hội:

  • Tác động học thuật: Là tài liệu chuyên khảo tiên phong tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và hệ thống các trường chính trị khu vực ĐBSCL, phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy các chuyên đề về Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và Quản lý nhà nước về môi trường.
  • Tác động tới các cấp chính quyền: Cung cấp luận cứ trực tiếp cho Ban Thường vụ 13 tỉnh, thành ủy ĐBSCL rà soát, bổ sung các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 và 2025 - 2030.
  • Tác động chuyển đổi ngành: Thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nông nghiệp vùng ĐBSCL theo hướng kinh tế tuần hoàn, giảm diện tích lúa vụ 3 kém hiệu quả, phát triển hệ thống năng lượng tái tạo (điện gió ven biển Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau; điện mặt trời áp mái).
  • Lợi ích xã hội: Giúp củng cố niềm tin của 16,2 triệu người dân vào năng lực dẫn dắt của Đảng trong việc bảo vệ sinh kế, giữ vững an ninh nguồn nước và an ninh lương thực quốc gia.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giảng viên lý luận chính trị: Tiếp cận khung lý thuyết chuẩn hóa về vai trò của tổ chức đảng trước an ninh phi truyền thống, giải quyết các khoảng trống lý luận về phương thức lãnh đạo.
  • Cán bộ lãnh đạo, Cấp ủy viên 13 tỉnh, thành ủy ĐBSCL: Nắm bắt các công cụ và quy trình chuẩn bị nghị quyết, kiểm tra, giám sát chuyên đề về ứng phó thiên tai, khắc phục tình trạng bao biện làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo.
  • Các cơ quan hoạch định chính sách Trung ương (Ban Kinh tế Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng): Có thêm căn cứ thực tiễn để đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW và Nghị quyết số 120/NQ-CP.
  • Doanh nghiệp nông nghiệp và Cộng đồng dân cư ĐBSCL: Hưởng lợi gián tiếp từ một môi trường chính sách thông thoáng, các rào cản hành chính địa phương được gỡ bỏ thông qua cơ chế liên kết vùng hiệu quả.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng lý thuyết về "Phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản" (trước đây chủ yếu áp dụng trong xây dựng hệ thống chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh truyền thống) sang lĩnh vực an ninh môi trường sinh thái và ứng phó BĐKH tại cấp độ vùng kinh tế trọng điểm.

2. Đổi mới phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây thể hiện thế nào?
So với các nghiên cứu thuần túy chính trị học mang tính diễn giải định tính (như Lê Văn Lý, 2011; Ngô Huy Tiếp, 2014) hoặc các nghiên cứu thuần túy kỹ thuật - khí hậu (như Trần Hồng Thái, 2012; Phạm Quang Hà, 2011), luận án kết hợp phương pháp luận lịch sử - logic Mác-xít với điều tra xã hội học thực chứng phân tầng trên 7 tỉnh đại diện cho 3 tiểu vùng sinh thái đặc thù của ĐBSCL.

3. Phát hiện thực tiễn nào gây bất ngờ và có giá trị phản biện cao nhất?
Phát hiện về nghịch lý nhận thức: Mặc dù 100% cấp ủy ban hành nghị quyết về môi trường, nhưng trên 60% hoạt động thực tế bị "khoán trắng" cho các cơ quan kỹ trị chuyên môn (Sở Tài nguyên & Môi trường, Sở Nông nghiệp & PTNT), trong khi công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy về trách nhiệm người đứng đầu trong phòng chống suy thoái sinh thái gần như bị bỏ trống.

4. Luận án có cung cấp quy trình/giao thức chuẩn để nhân rộng nghiên cứu không?
Luận án cung cấp bộ khung phân tích 3 thành tố lãnh đạo (Ban hành chủ trương -> Tổ chức thực hiện & Thể chế hóa -> Kiểm tra, giám sát và tổng kết) có thể áp dụng trực tiếp cho việc khảo sát năng lực lãnh đạo môi trường tại các khu vực nhạy cảm sinh thái khác như Đồng bằng sông Hồng và Tây Nguyên.

5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo ra sao?
Luận án xác lập tầm nhìn đến năm 2030: Chuyển đổi toàn diện cơ chế điều phối liên tỉnh ủy từ hình thức phối hợp hành chính sang thể chế liên kết vùng có ràng buộc pháp lý, thiết lập quỹ đầu tư sinh thái xanh ĐBSCL và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cấp ủy am hiểu khoa học dữ liệu khí hậu.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của NCS. Bùi Văn De đã xác lập 6 đóng góp khoa học và thực tiễn cốt lõi:

  1. Chuẩn hóa hệ thống khái niệm, nội hàm và cấu trúc chức năng về sự lãnh đạo của tỉnh, thành ủy đối với ứng phó BĐKH trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  2. Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện, đa chiều về 8 năm (2010 - 2018) tổ chức đảng các tỉnh Tây Nam Bộ lãnh đạo thích ứng sinh thái trên diện tích 3,95 triệu ha.
  3. Chỉ rõ 4 nhóm nguyên nhân gốc rễ dẫn đến hạn chế của phương thức lãnh đạo, đặc biệt là tư duy cục bộ địa phương và năng lực khoa học khí hậu hạn chế của cấp ủy viên.
  4. Đúc rút 2 bài học kinh nghiệm mang tính quy luật: Cấp ủy càng chủ động chuyển đổi mô hình kinh tế xanh thì năng lực chống chịu thiên tai càng cao; liên kết vùng chặt chẽ là điều kiện tiên quyết để tồn tại trước BĐKH.
  5. Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ đến năm 2030, trong đó lấy đổi mới nội dung phương thức lãnh đạo và thiết lập thể chế liên kết vùng làm hai đòn bẩy đột phá.
  6. Mở ra 3 hướng nghiên cứu học thuật mới: Sinh thái học chính trị Mác-xít, Quản trị rủi ro khí hậu đa cấp độ, và Kinh tế lượng chính trị trong đánh giá hiệu lực nghị quyết của Đảng.