Tổng quan về luận án

Công trình khoa học "Quan hệ sở hữu ở Việt Nam hiện nay" của nghiên cứu sinh Phạm Đức Thư, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đặng Thị Lan (chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số 62.02, Đại học Quốc gia Hà Nội - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 2019), là một khảo cứu lý luận và thực tiễn chuyên sâu về sự vận động của quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam suốt hơn 30 năm Đổi mới (1986 – 2019).

Bối cảnh khoa học của đề tài xuất phát từ bước chuyển mang tính lịch sử: sự chuyển đổi mô hình kinh tế từ chế độ nhất nguyên công hữu (chỉ gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp) sang chế độ đa nguyên sở hữu (đa hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế) sau Đại hội VI (1986), sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu (1991), và đặc biệt là sự hiến định hóa tại Hiến pháp năm 2013 khẳng định: "Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo".

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) trọng tâm được luận án định vị là: Mặc dù đã có nhiều công trình tiếp cận sở hữu dưới góc độ kinh tế học hoặc luật học, song còn thiếu vắng các công trình triết học hệ thống hóa cấu trúc nội tại của quan hệ sở hữu như một chỉnh thể hữu cơ gồm các yếu tố (chủ thể, đối tượng, hệ thống quyền năng, cơ chế hiện thực hóa lợi ích kinh tế) và luận giải sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa sự biến đổi quan hệ sở hữu với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng chính trị trong thời kỳ quá độ.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Bản chất triết học và cơ cấu giải phẫu của quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được xác lập như thế nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Thực trạng chuyển dịch cơ cấu quan hệ sở hữu tại Việt Nam từ năm 1986 đến nay đang bộc lộ những thành tựu, giới hạn và mâu thuẫn nội tại cấp bách nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Hệ thống quan điểm và giải pháp đột phá nào có khả năng giải quyết mâu thuẫn giữa quy luật thị trường tự do với mục tiêu duy trì định hướng xã hội chủ nghĩa và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước?
  • Giả thuyết khoa học 1 (H1): Quan hệ sở hữu không phải là một quan hệ ý chí thuần túy pháp lý mà là hạt nhân kinh tế của quan hệ sản xuất; sự thay đổi hình thức sở hữu bị quy định khách quan bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
  • Giả thuyết khoa học 2 (H2): Việc đa dạng hóa hình thức sở hữu và phân định rành mạch quyền sở hữu với quyền sử dụng, quyền quản lý là động lực kích phóng sức sản xuất, song nếu không hoàn thiện thể chế thì tình trạng mờ nhạt chủ thể trong "sở hữu toàn dân" sẽ dẫn đến thất thoát nguồn lực quốc gia.

Khung lý thuyết của công trình được định hình trên nền tảng Học thuyết Hình thái kinh tế - xã hội của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Lý luận về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, và Tư tưởng kinh tế mới (NEP) của V.I. Lenin. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu kinh tế - xã hội toàn quốc giai đoạn 1986–2019, đóng góp trực tiếp vào cơ sở lý luận phục vụ chuẩn bị văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Literature Review và Positioning

Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả phân tích và tổng hợp thành 3 luồng học thuật chính:

Luồng nghiên cứu lý luận chung về sở hữu và quan hệ sở hữu: Các học giả kinh điển C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin đặt nền móng duy vật lịch sử cho phạm trù sở hữu. Ở giai đoạn sau năm 1986, các công trình trong nước tiêu biểu gồm: Trần Đức (1991) với Sở hữu và cây đời tiếp cận sở hữu từ bản năng sinh tồn và chiếm hữu tự nhiên; Nguyễn Thị Luyến (1991) biên tập các nghiên cứu Liên Xô - Trung Quốc giai đoạn 1985–1991 phê phán nhận thức quy giản sở hữu về hai hình thức trừu tượng; Nguyễn Cúc (2006) phân tích sự tiến hóa từ chiếm hữu vật thể đến quan hệ kinh tế - chính trị; Trần Minh Đạo (2006) mở rộng tiếp cận sở hữu vừa là quan hệ sản xuất vừa chứa đựng khía cạnh của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế tri thức; Nguyễn Văn Thạo và Nguyễn Hữu Đạt (2003), Nguyễn Kế Tuấn (2009) hệ thống hóa quan điểm Mác-xít về tính biến đổi lịch sử tự nhiên của quan hệ sở hữu.

Luồng nghiên cứu thực trạng chuyển đổi cơ cấu sở hữu: Nguyễn Duy Hùng (2006) chỉ rõ các khoảng trống thể chế về đất đai và tài sản công; Ngô Tuấn Nghĩa (2016) tổng kết 30 năm chuyển dịch tư duy thể chế từ tập trung quan liêu sang kinh tế thị trường; Nguyễn Văn Thức (2007) phân loại 6 hình thức sở hữu cụ thể tại Việt Nam; Phạm Quý Thọ (2014) trong Kinh tế Việt Nam 30 năm chuyển đổi cung cấp số liệu định lượng về sự dịch chuyển tỷ trọng GDP của khu vực nhà nước từ 40,18% (1995) giảm xuống 32,57% (2012), trong khi kinh tế tư nhân tăng vọt từ 3,32% lên 11,14%; Phạm Thái Quốc (2014) dẫn chứng số liệu năm 2013 cho thấy kinh tế nhà nước chiếm 32,2% GDP, kinh tế cá thể chiếm 32,27%, kinh tế FDI chiếm 19,55% và kinh tế tư nhân chiếm 10,93%; Phùng Hữu Phú và cộng sự (2016) chỉ ra khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm 28% GDP (tăng lên 34% nếu tính cả hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước), cao hơn nhiều mức dưới 10% tại các nền kinh tế thị trường phát triển.

Luồng nghiên cứu giải pháp hoàn thiện thể chế sở hữu: Trương Giang Long (2003) đề xuất giải pháp thu hẹp đầu tư công vào các ngành then chốt; Lương Việt Hải (2004) và Vũ Văn Viên (2004) phân tích cổ phần hóa như công cụ cốt lõi đa dạng hóa sở hữu nhưng cảnh báo nguy cơ tư nhân hóa tự phát chệch hướng; Võ Đại Lược (2015) đề xuất lộ trình táo bạo giảm tỷ trọng doanh nghiệp nhà nước xuống dưới 15% GDP; Trần Văn Rón và Lương Đình Hải (2017) đề xuất bỏ tư duy phân biệt đối xử "chủ đạo" để đảm bảo bình đẳng thực chất giữa các thành phần kinh tế.

Tranh luận học thuật cốt lõi tồn tại giữa hai quan điểm đối lập:

  • Quan điểm thứ nhất: Nhấn mạnh tính nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội là phải duy trì quy mô tuyệt đối và sự thống trị của kinh tế nhà nước, coi sở hữu tư nhân chỉ là giải pháp tình thế trong thời kỳ quá độ (như phân tích của Chu Văn Cấp, Ngô Đức Trung, Nguyễn Minh Khải).
  • Quan điểm thứ hai: Cho rằng cần triệt để phi tập trung hóa, thu hẹp tối đa khu vực nhà nước, coi mọi thành phần kinh tế bình đẳng cạnh tranh tuyệt đối theo cơ chế thị trường thuần túy, loại bỏ các ưu đãi độc quyền (như tiếp cận của Võ Đại Lược, Phạm Văn Dũng).

So sánh với các nghiên cứu quốc tế:

  1. So với mô hình cải cách của Trung Quốc sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XI (1978) và chiến lược "Nắm lớn, buông nhỏ" (抓大放小 - Bắt doanh nghiệp lớn, thả doanh nghiệp nhỏ) thời Chu Dung Cơ (1997), luận án chỉ ra Việt Nam có sự tương đồng về duy trì vai trò chủ đạo của sở hữu toàn dân/nhà nước nhưng khác biệt về cơ chế phân quyền đất đai và mức độ mở cửa cho khu vực kinh tế tư nhân trong nước.
  2. So với liệu pháp sốc (Shock Therapy) tư nhân hóa bằng phiếu mua cổ phần (Voucher Privatization) tại Liên bang Nga và Đông Âu đầu thập niên 1990 (Boycko, Shleifer & Vishny, 1995), công trình chứng minh con đường đa dạng hóa sở hữu tiệm tiến, kết hợp cổ phần hóa thận trọng tại Việt Nam đã ngăn chặn được sự sụp đổ kinh tế và hiện tượng tài phiệt thao túng tài sản công.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án làm giàu và phát triển lý luận Mác - Lênin về sở hữu trong điều kiện kinh tế thị trường chuyển đổi thông qua các luận điểm then chốt:

Thứ nhất, kế thừa luận điểm của C. Mác: "Trong mỗi thời đại lịch sử, quyền sở hữu đã phát triển một cách khác nhau. Cho nên định nghĩa sở hữu tư sản không phải là gì khác mà là trình bày tất cả các quan hệ xã hội của sản xuất tư sản", tác giả khẳng định không thể định nghĩa quyền sở hữu như một phạm trù trừu tượng, vĩnh cửu. Sở hữu luôn mang tính lịch sử cụ thể, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Thứ hai, làm sáng tỏ bản chất kinh tế của quyền sở hữu: Quyền sở hữu không chỉ là khái niệm pháp lý hình thức xác định tài sản thuộc về ai, mà bản chất là quan hệ kinh tế giữa người với người thông qua việc chiếm hữu tư liệu sản xuất để hiện thực hóa lợi ích kinh tế. Nếu quyền sở hữu được xác lập về mặt pháp luật nhưng không mang lại lợi ích kinh tế thực tế cho chủ thể thì quyền đó chỉ là hư danh.

Thứ ba, phân định cấu trúc chùm quyền năng (bundle of rights) trong sở hữu tư liệu sản xuất: Luận án bóc tách quyền sở hữu thành 5 nhóm quyền năng vận động biện chứng: (1) Quyền chiếm giữ; (2) Quyền kiểm soát; (3) Quyền quản lý, sử dụng; (4) Quyền định đoạt; (5) Quyền hưởng lợi (thụ hưởng giá trị thặng dư/lợi ích mới tạo ra). Sự tách rời giữa quyền sở hữu tối cao và quyền sử dụng/quản lý là bước tiến tất yếu của quá trình xã hội hóa sản xuất.

Thứ tư, xác lập luận điểm về tính tất yếu khách quan của cơ cấu đa sở hữu: Dưới sự chi phối của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất do Ph. Ăngghen luận giải: "Bất cứ sự thay đổi nào của chế độ xã hội mới, bất cứ sự cải biến nào về mặt quan hệ sở hữu cũng đều là kết quả tất yếu của việc tạo nên những lực lượng sản xuất mới, không còn phù hợp với quan hệ sở hữu cũ nữa", Việt Nam trong thời kỳ quá độ với lực lượng sản xuất nhiều tầng nấc tất yếu phải tồn tại cơ cấu đa sở hữu tương ứng.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp liên ngành 3 lý thuyết nền tảng:

  1. Chủ nghĩa duy vật lịch sử (Marxist Historical Materialism): Đóng vai trò thế giới quan và phương pháp luận, giải thích sự vận động của hình thái kinh tế - xã hội và vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng (quan hệ sở hữu) đối với kiến trúc thượng tầng.
  2. Lý thuyết quyền tài sản trong Kinh tế học thể chế mới (New Institutional Economics - Coase, North): Đánh giá chi phí giao dịch, sự bảo hộ quyền tài sản và cơ chế thực thi hợp đồng trong chuyển đổi kinh tế.
  3. Lý thuyết kinh tế chuyển đổi (Transition Economics): Phân tích sự chuyển dịch cấu trúc sở hữu từ kế hoạch hóa sang thị trường có sự điều tiết của nhà nước.

Mô hình phân tích giải phẫu quan hệ sở hữu gồm 4 chiều kích:

  • Chủ thể sở hữu: Nhà nước (đại diện toàn dân), tập thể (hợp tác xã), cá nhân tư nhân, nhà đầu tư nước ngoài, các bên liên kết hỗn hợp.
  • Đối tượng sở hữu: Tư liệu sản xuất truyền thống (đất đai, tài nguyên, nhà xưởng) và tư liệu sản xuất phi truyền thống (sở hữu trí tuệ, công nghệ, dữ liệu, thương hiệu).
  • Cơ chế vận hành: Hệ thống thể chế pháp lý, thị trường các yếu tố sản xuất, cạnh tranh và hợp tác.
  • Mục tiêu - Lợi ích: Phân phối giá trị thặng dư, công bằng xã hội, tăng trưởng kinh tế, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Điều kiện biên (boundary conditions): Áp dụng trong bối cảnh quốc gia đang phát triển, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản, nơi thị trường chưa hoàn hảo và thể chế đang trong quá trình hoàn thiện.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án áp dụng lập trường nhận thức luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp với Chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism). Nghiên cứu thừa nhận sự tồn tại khách quan của các quan hệ kinh tế - xã hội bên ngoài ý thức con người, đồng thời khám phá các cơ chế cấu trúc sâu kín chi phối hiện tượng kinh tế thông qua tư duy trừu tượng hóa khoa học.

Thiết kế nghiên cứu đa phương pháp định tính kết hợp phân tích thống kê lịch sử (Historical-Logical Mixed Qualitative Design):

  • Kết hợp phương pháp logic và phương pháp lịch sử để tái hiện sự tiến hóa của các hình thức sở hữu từ công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa đến thời kỳ quá độ tại Việt Nam.
  • Thiết kế phân tích đa cấp độ (Multi-level Analysis): Cấp độ vĩ mô (chủ trương, đường lối, hệ thống luật pháp và cơ chế điều tiết của Nhà nước); Cấp độ trung mô (các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế then chốt); Cấp độ vi mô (hành vi của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, hộ sản xuất cá thể).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Chiến lược thu thập và xử lý tài liệu:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn tắc: Toàn bộ Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc (từ Đại hội VI đến Đại hội XII), các Nghị quyết Trung ương liên quan đến đổi mới sở hữu, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và phát triển kinh tế tư nhân; Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013, Bộ luật Dân sự 1995, 2005, 2015, Luật Đất đai 1993, 2003, 2013, Luật Doanh nghiệp qua các thời kỳ).
  • Dữ liệu thống kê định lượng: Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê (GSO) giai đoạn 1986–2018 về cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế, vốn đầu tư toàn xã hội, số lượng doanh nghiệp thành lập mới và giải thể.
  • Quy trình kiểm định chéo (Triangulation):
    • Tam giác hóa dữ liệu (Data Triangulation): Đối chiếu số liệu của Tổng cục Thống kê với báo cáo nghiên cứu của Ban Kinh tế Trung ương, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Ngân hàng Thế giới (World Bank) và ADB.
    • Tam giác hóa lý thuyết (Theoretical Triangulation): Xem xét cùng một vấn đề thực trạng (ví dụ: sở hữu đất đai) dưới lăng kính triết học Mác-xít, luật học dân sự và kinh tế học phát triển.

Data và phân tích

Phân tích dữ liệu được thực hiện thông qua phương pháp tổng hợp, so sánh, đối chiếu và mã hóa văn bản chính sách (textual thematic analysis):

  • Thống kê tỷ trọng đóng góp GDP của các khu vực: Khu vực nhà nước (giảm từ 40,18% năm 1995 xuống 32,57% năm 2012 và 32,2% năm 2013); Khu vực kinh tế tư nhân (tăng từ 3,32% năm 1995 lên 11,14% năm 2012 và 10,93% năm 2013); Khu vực kinh tế cá thể (32,27% năm 2013); Khu vực FDI (tăng trưởng nhanh đạt 19,55% năm 2013).
  • Phân tích quy mô chiếm lĩnh nguồn lực: Khu vực doanh nghiệp nhà nước nắm giữ hơn 70% tổng tài sản cố định của toàn bộ khối doanh nghiệp quốc gia nhưng hiệu quả sinh lời trên vốn (ROE/ROA) thấp hơn đáng kể so với khu vực tư nhân và FDI.
  • Khảo sát các mâu thuẫn thể chế: Đánh giá độ vênh giữa quy định Hiến định về "sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu" với các quyền tài sản cụ thể của người sử dụng đất (quyền chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn) trong Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án mang lại 4 phát hiện mang tính đột phá:

  1. Sự giải phóng sức sản xuất thông qua phá vỡ định kiến về sở hữu tư nhân: Luận án chứng minh rằng việc chuyển từ chế độ công hữu thuần nhất sang thừa nhận sở hữu tư nhân và đa dạng hóa hình thức sở hữu là bước đi phù hợp với quy luật khách quan, trực tiếp cứu nền kinh tế Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng trầm trọng sau năm 1986, giải phóng năng lực lao động của hàng chục triệu người dân.

  2. Nghịch lý thể chế trong sở hữu toàn dân về đất đai: Việc xác định đất đai thuộc "sở hữu toàn dân" do Nhà nước thống nhất quản lý trên thực tế tạo ra khoảng trống pháp lý lớn. Tình trạng "vô chủ" hoặc chủ thể trừu tượng làm nảy sinh cơ chế xin - cho, biến tài sản công thành nguồn lợi cục bộ cho nhóm lợi ích, gây thất thoát ngân sách và là nguồn gốc của hơn 70% các vụ khiếu kiện hành chính kéo dài.

  3. Hiện tượng "bình mới rượu cũ" trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Cổ phần hóa là phương tiện đúng đắn để đa dạng hóa sở hữu, nhưng thực tế nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hóa Nhà nước vẫn nắm giữ tỷ lệ vốn chi phối tuyệt đối (>51% đến 65%), khiến bản chất quản trị doanh nghiệp không thay đổi, cơ chế bổ nhiệm cán bộ thiếu minh bạch và không phát huy được quyền làm chủ của cổ đông tư nhân nhỏ lẻ.

  4. Sự hình thành hình thức sở hữu hỗn hợp như một xu thế tiến bộ: Hình thức sở hữu hỗn hợp (thông qua công ty cổ phần, liên doanh công - tư PPP) đang nổi lên như mô hình dung hợp hiệu quả giữa vốn nhà nước, vốn tư nhân trong nước và vốn nước ngoài, đóng vai trò cầu nối dung hòa lợi ích công - tư và thúc đẩy xã hội hóa tư liệu sản xuất.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận: Bổ sung hệ thống luận cứ triết học khẳng định thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ lịch sử lâu dài đòi hỏi phải dung nạp và phát triển tối đa các hình thức sở hữu khác nhau; phát triển định nghĩa giai cấp của V.I. Lênin trong điều kiện mới: "Khi xã hội phân chia thành giai cấp, cái quyết định tính chất của các lực lượng xã hội là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất".
  • Về mặt phương pháp luận: Cung cấp khung tiếp cận đa tầng nấc để đánh giá một chính sách kinh tế: không chỉ nhìn vào tốc độ tăng trưởng thuần túy mà phải xem xét chính sách đó tác động như thế nào đến sự phân phối quyền năng sở hữu và việc đảm bảo lợi ích của người lao động.
  • Về mặt thực tiễn và chính sách:
    • Tách bạch dứt khoát giữa chức năng quản lý nhà nước về kinh tếchức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp (đặt tiền đề cho sự ra đời của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp).
    • Xóa bỏ triệt để mọi sự phân biệt đối xử về cơ chế tiếp cận nguồn lực (đất đai, tín dụng, giấy phép kinh doanh) giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, thực hiện nguyên tắc bình đẳng cạnh tranh.
    • Hoàn thiện khung khổ pháp lý về bảo vệ quyền tài sản tư nhân, quyền sở hữu trí tuệ, tài sản số và các mô hình kinh tế mới.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn nhìn nhận các giới hạn học thuật:

  • Giới hạn về dữ liệu vi mô: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu vĩ mô và tài liệu chính sách thứ cấp; chưa thực hiện được các cuộc điều tra khảo sát định lượng diện rộng trên mẫu ngẫu nhiên hàng ngàn doanh nghiệp để chạy các mô hình kinh tế lượng đo lường chính xác tác động cận biên của quyền sở hữu đến năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).
  • Giới hạn về phạm vi đối tượng: Trọng tâm nghiên cứu đặt vào tư liệu sản xuất vật chất truyền thống (đất đai, nhà xưởng, tài chính công); các đối tượng sở hữu hiện đại của nền kinh tế số (dữ liệu lớn, thuật toán AI, quyền sở hữu tài sản vô hình trên không gian mạng) mới chỉ được đề cập ở mức độ gợi mở.
  • Giới hạn về thời gian: Khảo cứu dừng lại ở các dữ liệu trước thềm Đại hội XIII của Đảng (năm 2019), chưa phản ánh được các biến động kinh tế sâu sắc do đại dịch COVID-19 và các đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu sau đó.

Chương trình nghiên cứu tiếp theo (Future Research Agenda):

  1. Nghiên cứu thực nghiệm về quan hệ sở hữu trong nền kinh tế nền tảng (Platform Economy) và kinh tế chia sẻ (Sharing Economy).
  2. Xây dựng mô hình thể chế hóa quyền sở hữu dữ liệu (Data Ownership) và tài sản trí tuệ nhân tạo phù hợp với thể chế chính trị Việt Nam.
  3. Đo lường hiệu quả phân bổ nguồn lực của các dự án đối tác công - tư (PPP) dưới góc độ chia sẻ quyền năng sở hữu và rủi ro tài chính.
  4. Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và chuyển dịch năng lượng xanh đến quyền sở hữu tài nguyên thiên nhiên và hạn ngạch phát thải carbon.

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị cao trong công tác nghiên cứu và giảng dạy các bộ môn Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin và Quản lý kinh tế tại các học viện, trường đại học lớn như Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân. Dự kiến tạo nguồn trích dẫn quan trọng cho các nghiên cứu sinh chuyên ngành triết học và chính trị học.
  • Tác động hoạch định chính sách: Cung cấp các luận cứ khoa học sắc bén phục vụ việc hoàn thiện các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết số 11-NQ/TW và Nghị quyết số 10-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân.
  • Tác động xã hội: Góp phần nâng cao nhận thức của xã hội và đội ngũ cán bộ công quyền về tính tất yếu của việc tôn trọng, bảo vệ quyền sở hữu tư nhân hợp pháp, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp sáng tạo và củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào sự nhất quán của đường lối Đổi mới.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận một cấu trúc nghiên cứu mẫu mực về việc vận dụng phép biện chứng duy vật để giải quyết một bài toán kinh tế - xã hội cụ thể, nắm bắt các khoảng trống lý luận về chùm quyền tài sản.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu lý luận: Có thêm tài liệu giảng dạy chuyên sâu, hệ thống hóa toàn diện các quan điểm kinh điển và các cuộc tranh luận học thuật về sở hữu tại Việt Nam suốt hơn ba thập kỷ.
  • Các nhà hoạch định chính sách và lập pháp: Nhận được các khuyến nghị chính sách cụ thể về sửa đổi Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.
  • Lãnh đạo doanh nghiệp và nhà đầu tư: Hiểu rõ cơ sở lý luận và định hướng chiến lược dài hạn của Nhà nước về bảo hộ quyền tài sản, nắm bắt xu thế chuyển dịch sở hữu để định vị chiến lược tái cấu trúc vốn và hợp tác công - tư.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
    Trả lời: Đó là việc làm sáng tỏ cơ cấu giải phẫu 5 nhóm quyền năng của quan hệ sở hữu và luận giải rằng bản chất sâu xa của sở hữu là quan hệ lợi ích kinh tế. Luận án đã mở rộng học thuyết Mác - Lênin bằng cách chứng minh rằng trong nền kinh tế thị trường chuyển đổi, việc tách rời quyền sở hữu tối cao và quyền sử dụng/hưởng lợi không làm mất đi bản chất xã hội chủ nghĩa nếu Nhà nước kiểm soát tốt các đòn bẩy vĩ mô và công cụ phân phối lại.

  2. Sự đổi mới về phương pháp luận so với các công trình trước đây?
    Trả lời: So với các nghiên cứu thuần túy kinh tế học (chỉ chạy mô hình định lượng biến số GDP) hay thuần túy luật học (chỉ giải thích điều luật), luận án áp dụng phương pháp tiếp cận triết học chỉnh thể (holistic philosophical approach) kết hợp chặt chẽ giữa logic và lịch sử, đặt sự vận động của quan hệ sở hữu trong mối quan hệ hữu cơ với sự biến đổi của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng chính trị.

  3. Phát hiện bất ngờ và phản trực giác nhất trong nghiên cứu?
    Trả lời: Mặc dù kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo về mặt định hướng chính trị, nhưng tỷ trọng đóng góp trực tiếp vào GDP của khu vực này liên tục giảm từ 40,18% (1995) xuống 32,2% (2013), trong khi khu vực kinh tế cá thể (32,27%) và tư nhân chính thức (10,93%) cùng khối FDI (19,55%) mới là những động lực tạo ra phần lớn việc làm mới và gia tăng của cải xã hội. Điều này chứng minh "vai trò chủ đạo" không đồng nghĩa với việc duy trì tỷ trọng áp đảo về số lượng hay quy mô vốn nhà nước.

  4. Quy trình tái lập (Replication Protocol) có được cung cấp rõ ràng không?
    Trả lời: Luận án xây dựng khung logic phân tích 4 chương, 13 tiết mạch lạc, quy chuẩn hóa hệ thống định nghĩa và phương pháp trích xuất dữ liệu chính sách, cho phép các nhà nghiên cứu khác áp dụng chính xác khung phân tích này để khảo sát quan hệ sở hữu ở các giai đoạn phát triển tiếp theo hoặc áp dụng so sánh với các quốc gia chuyển đổi khác như Lào, Cuba hay Trung Quốc.

  5. Chương trình nghiên cứu 10 năm được phác thảo như thế nào?
    Trả lời: Chương trình tập trung vào 3 trụ cột: (1) Thể chế hóa quyền sở hữu tài sản phi vật thể trong kinh tế số; (2) Hoàn thiện cơ chế đại diện chủ sở hữu nhà nước trong các tập đoàn kinh tế đa sở hữu; (3) Giải quyết tận gốc mâu thuẫn trong quyền tài sản đất đai thông qua thị trường hóa minh bạch quyền sử dụng đất.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Quan hệ sở hữu ở Việt Nam hiện nay" của NCS. Phạm Đức Thư là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, công phu và có giá trị lý luận - thực tiễn sâu sắc với 5 đóng góp cốt lõi:

  1. Hệ thống hóa toàn diện và phát triển sáng tạo lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ sở hữu và vai trò hạt nhân của nó trong quan hệ sản xuất thời kỳ quá độ.
  2. Bóc tách và xác lập rõ ràng cấu trúc 5 nhóm quyền năng trong quan hệ sở hữu, chỉ ra bản chất kinh tế tối thượng của quan hệ sở hữu là phân phối và hiện thực hóa lợi ích.
  3. Đánh giá khách quan, trung thực bức tranh chuyển dịch cơ cấu sở hữu tại Việt Nam sau hơn 30 năm Đổi mới dựa trên các cứ liệu lịch sử và số liệu thống kê tin cậy.
  4. Nhận diện chuẩn xác các mâu thuẫn thể chế cấp bách, đặc biệt là khoảng trống trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và bất cập trong quản trị doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.
  5. Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm hoàn thiện thể chế sở hữu, đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đồng thời giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.