Tổng quan về luận án

Bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, đô thị hóa nhanh và già hóa dân số tại Việt Nam đặt ra những thách thức sâu sắc đối với hệ thống an sinh xã hội. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công (Mã số: 9 34 04 03) của tác giả Nguyễn Thị Hồng Duyên với đề tài "Quản lý nhà nước đối với cơ sở bảo trợ xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh", bảo vệ tại Học viện Hành chính Quốc gia năm 2019 dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Văn Thủ và TS. Bùi Thị Thanh Hà, là một công trình tiên phong tiếp cận trực diện vấn đề bảo trợ xã hội dưới góc độ khoa học quản lý công đương đại.

Nghiên cứu xuất phát từ khoảng trống tri thức rõ rệt: hầu hết các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận trợ giúp xã hội theo nghĩa rộng dưới lăng kính xã hội học hoặc kinh tế học phúc lợi, thiếu vắng các nghiên cứu hệ thống đánh giá chức năng thực thi chính sách và quản trị vận hành mạng lưới cơ sở bảo trợ xã hội (BTXH) ở cấp độ một siêu đô thị. Trong khi số người cần trợ giúp xã hội trên toàn quốc chiếm hơn 20% dân số, riêng TP. Hồ Chí Minh đã ghi nhận hơn 10.633 đối tượng BTXH cần được chăm sóc, nuôi dưỡng và phục hồi chức năng tập trung tại cả hai hệ thống công lập và ngoài công lập.

Luận án thiết lập 4 câu hỏi nghiên cứu (RQ) và 4 giả thuyết khoa học (H) tương ứng:

  • RQ1 & H1: Khung lý thuyết nào phù hợp để phân tích quản lý nhà nước (QLNN) đối với cơ sở BTXH? Giả thuyết khẳng định sự kết hợp giữa Lý thuyết Bảo trợ xã hội, Lý thuyết Vốn xã hội và Lý thuyết Quản lý công mới (NPM) tạo nên nền tảng giải trình toàn diện.
  • RQ2 & H2: Thực trạng QLNN đối với cơ sở BTXH tại TP.HCM diễn ra như thế nào? Giả thuyết chỉ ra hiệu quả quản lý chưa tương xứng, mạng lưới quá tải và chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của đối tượng thụ hưởng.
  • RQ3 & H3: Những yếu tố nào chi phối hiệu lực quản lý? Giả thuyết phân định nhóm yếu tố ngoại cảnh (kinh tế, địa lý, di cư, hội nhập) và nhóm yếu tố nội tại (thể chế, bộ máy, năng lực cán sự xã hội).
  • RQ4 & H4: Giải pháp nào nâng cao hiệu lực quản lý? Giả thuyết đề xuất việc điều chỉnh công cụ quản lý theo nguyên tắc kết hợp ngành và lãnh thổ, đẩy mạnh xã hội hóa và chuyên nghiệp hóa dịch vụ công.

Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2008–2018 (gắn liền với các mốc pháp lý như Nghị định 68/2008/NĐ-CP, Nghị định 69/2008/NĐ-CP và Nghị định 103/2017/NĐ-CP) và khảo sát thực địa từ năm 2015 đến 2018 tại 17 quận, huyện thuộc TP.HCM cùng 3 cơ sở BTXH trực thuộc thành phố đặt trên địa bàn tỉnh Bình Dương và Bình Phước.

Literature Review và Positioning

Tổng quan tài liệu trong luận án được cấu trúc thành hai luồng học thuật chính: nghiên cứu lý thuyết về cơ sở BTXH và nghiên cứu thực thi QLNN đối với mạng lưới này.

Trên bình diện quốc tế, mô hình ba vòng tròn đồng tâm của Guhan (1994) đã định vị cơ sở BTXH nằm ở vòng tròn lõi – nơi cung cấp các biện pháp trực tiếp bảo vệ và đảm bảo mức sống tối thiểu cho nhóm dễ bị tổn thương nhất. Norton, Conway và Foster (2001) phát triển luận điểm này khi coi cơ sở BTXH là công cụ thể chế cốt lõi để triển khai chính sách xã hội và xóa đói giảm nghèo. Sabates-Wheeler và Haddad (2005) cùng Devereux và Sabates-Wheeler (2007) đã tạo bước đột phá khi đề xuất mô hình "Bảo trợ xã hội biến đổi" (Transformative Social Protection) vượt thoát khỏi quan điểm cứu trợ thụ động truyền thống của WB hay ILO, chia can thiệp thành bốn trụ cột: Hỗ trợ xã hội (social assistance), Phòng ngừa (social services/insurance), Nâng cao năng lực (promotion) và Chuyển hóa/Công bằng xã hội (social equity/transformation). Barrientos và Hulme (2008) chỉ ra rằng sự thiếu hiệu quả của các cơ sở BTXH phần lớn bắt nguồn từ "lỗi thiết kế công cụ và thể chế chính sách".

Tại Việt Nam, các công trình học thuật chia thành hai xu hướng tiếp cận:

  1. Cơ sở BTXH là hợp phần của mạng lưới an sinh xã hội tổng thể: Lê Bạch Dương (2005, 2013) định nghĩa bảo trợ xã hội là "giảm nhẹ tính dễ bị tổn thương và kiềm chế nguy cơ cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng có thu nhập thấp về những nhu cầu cơ bản và các dịch vụ xã hội". Đặng Nguyên Anh (2013, 2014) khảo sát các thách thức trong việc mở rộng diện bao phủ của trợ giúp thường xuyên và trợ cấp ưu đãi.
  2. Cơ sở BTXH là hợp phần trực tiếp của trợ giúp xã hội: Mai Ngọc Cường (2009) tiếp cận an sinh xã hội theo nghĩa hẹp, tập trung vào chức năng bù đắp thu nhập và trợ giúp khẩn cấp. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2011) trong Chiến lược An sinh xã hội 2011–2020 xác định cơ sở BTXH thuộc tầng lưới thứ ba – tầng khắc phục rủi ro xã hội.

Về bối cảnh đô thị, Trần Hữu Quang (2009) đánh giá hệ thống phúc lợi TP.HCM trên các chiều cạnh y tế, giáo dục, nhà ở; Phan Xuân Biên (2012) nhấn mạnh quản lý phát triển xã hội hướng tới xây dựng thành phố "văn minh – hiện đại – nghĩa tình". Đặc biệt, kỷ yếu hội thảo quốc tế giữa Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM và tổ chức ASCA Nhật Bản (2018) của các tác giả Shuji Yamada, Kashiwagi Asami, Lê Chu Giang, Isao Tani đã so sánh chính sách an sinh người cao tuổi giữa Nhật Bản và Việt Nam.

Luận án định vị chính xác khoảng trống: Trong khi các nghiên cứu quốc tế thiên về kinh tế chính trị học phúc lợi và nghiên cứu trong nước nghiêng về xã hội học thuần túy, công trình này tiên phong thiết lập khung phân tích thực thi hành chính công, mổ xẻ cơ chế vận hành, phân cấp ngân sách và chuẩn hóa quy trình quản lý đối với các cơ sở BTXH tại một đại đô thị đang chuyển đổi.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án đóng góp quan trọng vào lý luận Quản lý công thông qua việc giao thoa ba nền tảng lý thuyết:

  • Lý thuyết Quản lý công mới (New Public Management - NPM) của Christopher Hood (1991) cùng Osborne và Gaebler (1992): Tác giả cụ thể hóa 7 nội dung vận dụng NPM vào quản trị phúc lợi xã hội Việt Nam: (1) Xã hội hóa dịch vụ công; (2) Điều chỉnh quan hệ trung ương - địa phương; (3) Phi tập trung hóa và phi quy chế hóa; (4) Tinh gọn bộ máy theo định hướng nhu cầu đối tượng; (5) Cải cách chế độ công vụ và chuẩn hóa chức danh cán sự xã hội; (6) Tăng cường sự tham gia của công dân; (7) Đổi mới cơ chế tài chính công theo hướng trao quyền tự chủ.
  • Lý thuyết Bảo trợ xã hội biến đổi của Devereux và Sabates-Wheeler (2007): Mở rộng chức năng của cơ sở BTXH từ "nuôi dưỡng - cách ly" truyền thống sang "phục hồi chức năng - giáo dục hướng nghiệp - tái hòa nhập cộng đồng", định vị cơ sở BTXH như một vườn ươm sinh kế và vốn con người.
  • Lý thuyết Vốn xã hội (Social Capital) của Pierre Bourdieu (1986): Luận giải vai trò của mạng lưới liên kết thể chế trong việc huy động nguồn lực từ các tổ chức tôn giáo, tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư tham gia quản trị cơ sở ngoài công lập.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án kết nối chặt chẽ giữa đầu vào quản lý (thể chế, nguồn lực tài chính, nhân sự cán sự xã hội), quy trình thực thi (xét duyệt thành lập, cấp phép, tiêu chuẩn chăm sóc, thanh tra giám sát) và đầu ra xã hội (mức độ bao phủ, chất lượng 05 dịch vụ cơ bản: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin).

Mô hình phân tích xác định rõ các điều kiện biên: Quá trình vận hành quản lý công đối với cơ sở BTXH chịu sự điều tiết đồng thời bởi quy luật quản lý ngành (theo chuẩn chuyên môn của Bộ LĐ-TB&XH) và quy luật quản lý lãnh thổ (phân cấp thẩm quyền của UBND TP.HCM và các quận, huyện).

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu theo đuổi lập trường bản thể luận hiện thực và nhận thức luận thực dụng (pragmatism), phối hợp phương pháp hỗn hợp (mixed-methods design) theo quy trình tuần tự kết hợp. Thiết kế nghiên cứu đa tầng (multi-level design) được triển khai:

  • Cấp vĩ mô: Đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và chính sách phân bổ ngân sách giai đoạn 2008–2018.
  • Cấp trung mô: Khảo sát các cơ quan quản lý chuyên trách (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ, Phòng Bảo trợ xã hội, Phòng LĐ-TB&XH quận/huyện).
  • Cấp vi mô: Khảo sát hoạt động thực tế tại các cơ sở BTXH công lập và ngoài công lập cùng cảm nhận của đối tượng thụ hưởng.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Chiến lược chọn mẫu kết hợp phân tầng theo khu vực địa lý và chọn mẫu ngẫu nhiên đại diện:

  • Khảo sát định lượng Mẫu 1 (Chủ thể quản lý): Phát ra 100 phiếu điều tra tới cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC), cán sự xã hội tại các cơ quan quản lý và cơ sở BTXH. Bảng hỏi gồm 23 biến quan sát tập trung vào năng lực thực thi, đào tạo bồi dưỡng, quy trình thanh tra và áp dụng quy chế.
  • Khảo sát định lượng Mẫu 2 (Đối tượng thụ hưởng): Phát ra 600 bảng hỏi tại 17 quận, huyện và các cơ sở trực thuộc tại Bình Dương, Bình Phước; thu về 500 phiếu hợp lệ (tỷ lệ phản hồi đạt 83,33%). Bảng hỏi gồm 17 câu hỏi đo lường mức độ hài lòng về 5 điều kiện thiết yếu: dinh dưỡng, chăm sóc y tế, giáo dục văn hóa, nhà ở/vệ sinh và tiếp cận thông tin.
  • Khảo sát định tính (Phỏng vấn sâu): Thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc 20 chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo Sở LĐ-TB&XH và giám đốc các trung tâm bảo trợ. Dữ liệu định tính được phân tích chủ đề và mã hóa khoa học bằng phần mềm chuyên dụng Innova.

Data và phân tích

Dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS kết hợp Microsoft Excel để kiểm định thống kê mô tả, phân tích tần số, lập bảng chéo và phân tích độ tin cậy. Dữ liệu thứ cấp về ngân sách địa phương chi cho sự nghiệp đảm bảo xã hội giai đoạn 2010–2017 được phân tích tương quan với tốc độ tăng trưởng GRDP của TP.HCM. Luận án xây dựng mô hình dự báo biên độ dao động và số lượng đối tượng BTXH sinh sống tại các cơ sở công lập và ngoài công lập từ năm 2017 đến 2020 nhằm kiểm tra độ vững (robustness check) cho các khuyến nghị chính sách.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Nghịch lý về ngân sách và hiệu quả bao phủ: Dù ngân sách TP.HCM chi cho sự nghiệp đảm bảo xã hội tăng đều giai đoạn 2010–2017, mức chi trợ cấp bình quân trên đầu người vẫn chưa theo kịp tốc độ gia tăng chi phí sinh hoạt đô thị. Tỷ lệ đối tượng đánh giá mức trợ cấp là "chưa phù hợp" và "chưa đáp ứng đủ nhu cầu sống tối thiểu" chiếm tỷ trọng đáng kể.
  2. Sự lệch pha nghiêm trọng giữa mạng lưới công lập và ngoài công lập: Trong tổng số hơn 10.633 đối tượng BTXH toàn thành phố, các cơ sở công lập luôn trong tình trạng quá tải nghiêm trọng từ 120% đến 150% công suất thiết kế, trong khi các cơ sở ngoài công lập (đặc biệt do các tổ chức tôn giáo, từ thiện quản lý) gặp rào cản pháp lý lớn về thủ tục cấp phép theo Nghị định 103/2017/NĐ-CP và thiếu cơ chế hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước.
  3. Khoảng trống pháp lý đối với cơ sở quy mô nhỏ: Tồn tại hàng loạt cơ sở nuôi dưỡng quy mô dưới 10 đối tượng hoạt động tự phát tại các quận ven và huyện ngoại thành (Bình Chánh, Củ Chi, Thủ Đức) nằm ngoài tầm kiểm soát của cơ quan quản lý do thiếu khung pháp lý điều chỉnh cụ thể.
  4. Bất cập về cơ cấu nhân lực và tính chuyên nghiệp của Cán sự xã hội (CSXH): Dữ liệu khảo sát từ Mẫu 1 chỉ ra phần lớn nhân viên chăm sóc tại các cơ sở chưa qua đào tạo bài bản về nghiệp vụ công tác xã hội chuyên nghiệp. Kiến thức quản lý nhà nước và kỹ năng can thiệp khủng hoảng tâm lý của đội ngũ CBCCVC cấp quận/huyện còn hạn chế.
  5. Phân bổ mạng lưới không đồng đều theo địa bàn: Các cơ sở tập trung mật độ cao tại một số khu vực truyền thống, trong khi những địa bàn đô thị hóa nóng với lượng người nhập cư lớn lại thiếu vắng hoàn toàn các trung tâm chăm sóc chuyên biệt cho trẻ tự kỷ, người tâm thần và người nhiễm HIV/AIDS.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý thuyết: Luận án chứng minh tính tương thích của mô hình Quản lý công mới trong việc giải quyết các nút thắt của mạng lưới an sinh tại các nước đang phát triển, bổ sung luận cứ khẳng định vốn xã hội là nguồn lực bổ trợ sống còn cho tài chính công.
  • Về mặt phương pháp luận: Thiết lập quy trình đánh giá kết hợp giữa phân tích dữ liệu hành chính nhà nước và chỉ số thụ hưởng thực tế từ đối tượng yếu thế, có thể nhân rộng áp dụng cho các đô thị đặc biệt khác như Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng.
  • Về thực tiễn và chính sách:
    • Hoàn thiện thể chế: Kiến nghị sửa đổi các điều khoản bất cập trong Nghị định 103/2017/NĐ-CP; xây dựng quy chế quản lý riêng cho các cơ sở BTXH quy mô dưới 10 đối tượng.
    • Cải cách tài chính công: Chuyển đổi cơ chế cấp phát ngân sách theo định biên sang cơ chế đấu thầu, đặt hàng dịch vụ công và hỗ trợ theo đầu thẻ đối tượng (voucher/subsidies) cho cả khu vực ngoài công lập.
    • Chuẩn hóa nhân lực: Đưa vị trí "Cán sự xã hội chuyên nghiệp" vào danh mục vị trí việc làm công chức/viên chức; xây dựng chương trình bồi dưỡng tích hợp Quản lý công và Công tác xã hội.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn ghi nhận các giới hạn học thuật:

  1. Giới hạn không gian và mẫu khảo sát: Nghiên cứu thực hiện chủ yếu tại TP.HCM và 3 cơ sở trực thuộc tại Bình Dương, Bình Phước; chưa mở rộng so sánh định lượng trực tiếp với vùng Đồng bằng sông Cửu Long hay vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
  2. Độ nhạy của đối tượng khảo sát: Nhóm khách thể thụ hưởng (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật, bệnh nhân tâm thần phục hồi) có rào cản nhất định về khả năng nhận thức và biểu đạt, phần nào ảnh hưởng đến độ phân hóa của thang đo khảo sát.
  3. Độ trễ của chính sách: Giai đoạn nghiên cứu trùng với thời điểm chuyển giao các văn bản pháp luật mới (Nghị định 103/2017/NĐ-CP thay thế Nghị định 68/2008/NĐ-CP), dẫn đến một số chính sách mới chưa bộc lộ hết tác động dài hạn trên thực tế.

Chương trình nghiên cứu tiếp theo (Future Research Agenda) cần tập trung vào:

  • Đo lường hiệu quả kinh tế - xã hội của các mô hình đối tác công tư (PPP) trong xây dựng viện dưỡng lão và trung tâm phục hồi chức năng cao cấp.
  • Đánh giá tác động của công nghệ số và hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu đối tượng an sinh tập trung (VNeID/Big Data) đối với tính minh bạch trong chi trả trợ cấp.
  • Nghiên cứu mô hình chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng (Community-Based Care) thích ứng với kịch bản già hóa dân số nhanh tại Việt Nam sau năm 2025.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án tạo ra những giá trị tác động lan tỏa trên nhiều phương diện:

  • Học thuật: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các chương trình đào tạo Cử nhân, Thạc sĩ và Tiến sĩ ngành Quản lý công, Chính sách công và Công tác xã hội tại Học viện Hành chính Quốc gia và các cơ sở giáo dục đại học trên cả nước.
  • Thực thi chính sách địa phương: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho UBND TP.HCM, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ trong việc xây dựng "Quy hoạch mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội TP.HCM giai đoạn 2020–2030" và đề án phát triển nghề công tác xã hội đô thị.
  • Xã hội và nhân văn: Thúc đẩy quá trình bảo vệ quyền của hơn 10.633 đối tượng BTXH tại TP.HCM, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng chục cơ sở từ thiện tôn giáo hợp thức hóa tư cách pháp nhân để tiếp cận nguồn lực xã hội hóa minh bạch.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giảng viên Quản lý công: Kế thừa khung lý thuyết tích hợp NPM - Vốn xã hội và quy trình xử lý dữ liệu hỗn hợp (SPSS & Innova) để phát triển các đề tài liên quan đến dịch vụ công.
  • Nhà hoạch định chính sách cấp Bộ và Tỉnh/Thành: Sử dụng dữ liệu thực chứng về rào cản cấp phép, định mức chi tiêu an sinh và cơ chế thanh tra để sửa đổi thể chế quản lý an sinh xã hội.
  • Lãnh đạo và Nhà quản lý các Cơ sở BTXH: Nắm bắt quy trình chuẩn hóa định mức nhân sự, cải tiến môi trường sống và xây dựng chiến lược kết nối mạng lưới tài trợ công - tư.
  • Đội ngũ Cán sự xã hội và Đối tượng thụ hưởng: Hưởng lợi từ lộ trình chuẩn hóa chức danh nghề nghiệp, cải thiện môi trường chăm sóc, chế độ dinh dưỡng, y tế và cơ hội học nghề tái hòa nhập.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?

Đóng góp nổi bật nhất là việc bản địa hóa Lý thuyết Quản lý công mới (NPM) vào phân tích quản lý ngành bảo trợ xã hội tại Việt Nam. Thay vì áp dụng máy móc các nguyên lý thị trường, luận án tích hợp NPM với Lý thuyết Vốn xã hội của Pierre Bourdieu, chứng minh rằng hiệu quả của cơ sở BTXH tại một đô thị đang chuyển đổi phụ thuộc chặt chẽ vào năng lực kiến tạo mạng lưới niềm tin giữa chính quyền và các tổ chức xã hội dân sự, tôn giáo nhằm bù đắp cho sự thiếu hụt của ngân sách nhà nước.

2. Phương pháp nghiên cứu đổi mới như thế nào so với các nghiên cứu trước đây?

So với các nghiên cứu của Huỳnh Đắc Dương (1987) hay Đặng Nguyên Anh (2013) chủ yếu dùng dữ liệu thứ cấp và quan sát xã hội học định tính, luận án của Nguyễn Thị Hồng Duyên đã thực hiện thiết kế hỗn hợp chặt chẽ: kết hợp khảo sát định lượng diện rộng trên 2 nhóm mẫu phân tầng (100 nhà quản lý/nhân viên và 500 đối tượng thụ hưởng hợp lệ tại 17 quận huyện và 2 tỉnh lân cận) với 20 cuộc phỏng vấn sâu được xử lý qua phần mềm mã hóa Innova và SPSS, đảm bảo tính tam giác hóa dữ liệu (data triangulation) ở mức độ cao.

3. Phát hiện bất ngờ và có giá trị thực tiễn nhất từ dữ liệu là gì?

Phát hiện bất ngờ nhất là rào cản lớn nhất đối với việc mở rộng cơ sở BTXH ngoài công lập không nằm ở nguồn vốn đầu tư xã hội hóa mà nằm ở sự phức tạp, thiếu liên thông trong quy trình cấp phép và thanh tra giữa Sở LĐ-TB&XH, Sở Nội vụ và chính quyền cấp cơ sở theo Nghị định 103/2017/NĐ-CP. Điều này dẫn đến tình trạng "né tránh cấp phép", khiến hàng loạt cơ sở thiện nguyện quy mô dưới 10 người buộc phải hoạt động phi chính thức, gây rủi ro lớn cho công tác quản lý trật tự và an toàn xã hội.

4. Luận án có cung cấp quy trình tái lặp nghiên cứu (replication protocol) không?

Có. Luận án mô tả chi tiết mẫu bảng hỏi Mẫu 1 (23 câu hỏi dành cho CBCCVC) và Mẫu 2 (17 câu hỏi dành cho đối tượng thụ hưởng), quy chuẩn chọn mẫu phân tầng theo địa bàn đô thị hóa, tiêu chí chọn mẫu phỏng vấn sâu 20 chuyên gia cùng hệ thống biến số định lượng và mã hóa định tính trên Innova, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập tái lặp toàn bộ quy trình khảo sát tại các đô thị khác.

5. Định hướng chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được phác thảo ra sao?

Luận án mở ra chương trình nghiên cứu tập trung vào 3 trọng tâm: (1) Đánh giá mô hình quản trị số trong theo dõi và quản lý hồ sơ đối tượng an sinh xã hội; (2) Cơ chế tài chính hỗn hợp (blended finance) và trái phiếu tác động xã hội (social impact bonds) tài trợ cho các trung tâm BTXH chuyên biệt; (3) Hoàn thiện chính sách chuyển giao mô hình viện dưỡng lão công nghệ cao từ các nước phát triển (như Nhật Bản, CHLB Đức) vào hệ thống an sinh xã hội Việt Nam.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hồng Duyên là một công trình học thuật mẫu mực, giải quyết toàn diện bài toán quản lý nhà nước đối với cơ sở bảo trợ xã hội tại trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước. Những đóng góp cốt lõi bao gồm:

  1. Xác lập hệ thống khái niệm chuẩn mực về bảo trợ xã hội và cơ sở bảo trợ xã hội dưới giác độ khoa học quản lý công.
  2. Bản địa hóa thành công mô hình 7 trụ cột Quản lý công mới gắn kết với Lý thuyết Vốn xã hội trong quản trị an sinh đô thị.
  3. Đưa ra bức tranh thực chứng toàn diện về thực trạng quá tải của các cơ sở công lập và sự bế tắc thể chế của các cơ sở ngoài công lập tại TP.HCM.
  4. Xây dựng mô hình dự báo khoa học về quy mô biến động đối tượng BTXH giai đoạn 2017–2020 làm căn cứ hoạch định chính sách.
  5. Đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ từ sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật, cải cách tổ chức bộ máy, xã hội hóa dịch vụ công đến chuyên nghiệp hóa ngạch công chức cán sự xã hội.
  6. Mở ra các hướng tiếp cận học thuật mới về quản trị rủi ro an sinh xã hội trong bối cảnh già hóa dân số và chuyển đổi số toàn diện.