Luận án sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư trong độ tuổi lao động - Nghiên cứu tại Việt Nam

Luận án nghiên cứu sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư lao động, phân tích yếu tố nguy cơ và đề xuất giải pháp can thiệp.

Chuyên ngành
Tâm lý học
Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án

Số trang

266

Thời gian đọc

40 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Tầm quan trọng của sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư
Số trang:
266 trang
Chuyên ngành:
Tâm lý học
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Tầm quan trọng của sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư

Sức khỏe là mục tiêu chiến lược của mọi quốc gia. Sức khỏe thể chất luôn gắn liền với sức khỏe tâm thần (SKTT). SKTT khẳng định vị thế trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống. Rối loạn SKTT gây gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Hàng triệu người trên thế giới mắc các rối loạn như trầm cảm, rối loạn lưỡng cực. Tại Việt Nam, 15% dân số mắc rối loạn tâm thần liên quan stress. 30% dân số Việt Nam đối mặt với bệnh rối loạn tâm thần. Trầm cảm chiếm 25%. Con số thực tế có thể cao hơn. Nhiều người giấu bệnh. Họ lo ngại ảnh hưởng mối quan hệ xã hội. Thiếu nhận thức về bệnh lý tâm thần. Khám không đúng chuyên khoa cũng là vấn đề. Ung thư là nỗi ám ảnh toàn nhân loại. Tỷ lệ mắc ung thư tại Việt Nam tăng nhanh. Năm 2018, Việt Nam có 165.000 ca mắc mới. 94.000 ca tử vong mỗi năm. Bệnh nhân ung thư (BNUT) đối mặt nguy cơ sức khỏe. Họ còn chịu đựng gánh nặng tâm lý nặng nề.

1.1. SKTT Thước đo xã hội văn minh hiện đại

Sức khỏe tâm thần không thể tách rời sức khỏe thể chất. Đây là thước đo chung của một xã hội nhân bản, văn minh. SKTT góp phần nâng cao chất lượng sống toàn diện. Nhận thức đúng về SKTT là điều cần thiết. Nâng cao sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư là ưu tiên hàng đầu.

1.2. Thực trạng rối loạn SKTT toàn cầu và Việt Nam

Rối loạn SKTT chiếm gánh nặng lớn. Gần 54 triệu người thế giới mắc rối loạn nặng. 154 triệu người khác mắc trầm cảm. Tại Việt Nam, 15% dân số mắc rối loạn tâm thần phổ biến. 3 triệu người bị rối loạn nặng. 30% dân số Việt Nam mắc các bệnh rối loạn tâm thần. Tỷ lệ trầm cảm là 25%.

1.3. Ung thư Nỗi ám ảnh và gánh nặng tâm lý nặng nề

Ung thư đang là mối đe dọa lớn. Tỷ lệ mắc ung thư tại Việt Nam tăng đáng báo động. BNUT không chỉ chịu đau đớn thể chất. Họ phải đối mặt với gánh nặng tâm lý nặng nề. Nhiều người mắc ung thư bị trầm cảm, lo âu. Vấn đề sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư rất cấp thiết.

II. Gánh nặng tâm lý ung thư độ tuổi lao động ở Việt Nam

Bệnh nhân ung thư (BNUT) đối mặt nhiều vấn đề. Khoảng 70% BNUT có rối loạn tâm thần. Đặc biệt là BNUT trong độ tuổi lao động (TLĐ). Rối loạn lo âu, stress, trầm cảm phổ biến. Thậm chí có trường hợp tự tử do quá lo lắng. Cảm giác đau buồn khi biết bệnh ung thư rất lớn. Rối loạn tâm thần không gây ung thư. Tuy nhiên, chúng làm suy yếu hệ miễn dịch. Điều này gây ra các bệnh lý khác. Sức khỏe tổng thể bị suy giảm. Các rối loạn cũng cản trở quyết định điều trị. Trầm cảm ở bệnh nhân ung thư là một vấn đề nghiêm trọng. Lo âu ở người mắc ung thư đang làm việc gây áp lực lớn. Chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư độ tuổi lao động bị ảnh hưởng nặng nề.

2.1. Tỷ lệ rối loạn tâm thần cao ở bệnh nhân ung thư

Nghiên cứu chỉ ra 70% BNUT có rối loạn tâm thần. Tỷ lệ này cao ở BNUT độ tuổi lao động. Các biểu hiện phổ biến là lo âu, stress, trầm cảm. Ung thư và tâm lý độ tuổi lao động là mối quan tâm lớn.

2.2. Ảnh hưởng của trầm cảm ở bệnh nhân ung thư

Trầm cảm là vấn đề lớn. Nó làm suy yếu hệ miễn dịch của bệnh nhân. Trầm cảm cản trở quá trình điều trị. Nó cũng tác động tiêu cực đến sức khỏe tổng thể. Trầm cảm ở bệnh nhân ung thư cần được phát hiện sớm.

2.3. Lo âu ở người mắc ung thư đang làm việc

Lo âu ở người mắc ung thư đang làm việc rất phổ biến. Họ lo lắng về bệnh tật, công việc, gia đình. Điều này tăng áp lực tâm lý. Chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư độ tuổi lao động giảm sút. Tác động tâm lý ung thư người trưởng thành rất rõ rệt.

III. Thách thức chăm sóc sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư

Vấn đề sức khỏe tâm thần (SKTT) và tâm lý xã hội phổ biến tại Việt Nam. Dịch vụ chăm sóc và ứng phó chưa đáp ứng nhu cầu. Đây là kết quả nghiên cứu của UNICEF và ODI. Thiếu dịch vụ đặc biệt nghiêm trọng ở vùng sâu, vùng xa. Điều này dẫn đến không ngăn ngừa được tự tử. Nhiều người có biểu hiện rối loạn tâm thần, bao gồm cả BNUT. Thiếu người làm công tác xã hội có đủ kiến thức. Kỹ năng, thái độ phù hợp cũng hạn chế. Hoạt động chăm sóc người bệnh rối loạn tâm thần chưa hiệu quả. Nhiều bệnh viện, trung tâm SKTT không có chuyên viên tâm lý. Cũng thiếu nhân viên công tác xã hội. Việc chăm sóc chủ yếu do y bác sĩ đảm nhiệm. Y bác sĩ giúp điều trị bằng thuốc. Tuy nhiên, tác động đến người rối nhiễu tâm trí cần chuyên viên tâm lý. Công tác xã hội chưa được phát huy. Việc này gây khó khăn lớn cho người bệnh.

3.1. Thiếu dịch vụ chăm sóc SKTT tại Việt Nam

Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần còn hạn chế. Đặc biệt tại các vùng sâu vùng xa. Nhu cầu về hỗ trợ tâm lý xã hội cho bệnh nhân ung thư chưa được đáp ứng đầy đủ. Đây là một rào cản lớn.

3.2. Hạn chế về nguồn nhân lực chuyên môn

Thiếu hụt chuyên viên tâm lý và nhân viên công tác xã hội. Nhiều bệnh viện chưa có các vị trí này. Gây khó khăn trong việc cung cấp hỗ trợ toàn diện. Y bác sĩ chưa thể thay thế vai trò này một cách đầy đủ.

3.3. Rào cản nhận thức và tìm kiếm hỗ trợ tâm lý

Nhiều người nghĩ bệnh tâm thần không quan trọng. Họ cũng giấu bệnh vì lo sợ định kiến xã hội. Điều này cản trở việc tìm kiếm điều trị sớm. Tâm lý ung thư học cần được phổ biến rộng rãi hơn để thay đổi nhận thức.

IV. Tác động tâm lý ung thư người trưởng thành và trách nhiệm

Sức khỏe tâm thần (SKTT) của bệnh nhân ung thư (BNUT) độ tuổi lao động rất quan trọng. Đây là lực lượng chính trong gia đình. Họ chăm sóc con cái, tạo ra của cải vật chất. Gánh vác nhiều trọng trách. Đối mặt với bệnh ung thư làm vấn đề SKTT nghiêm trọng hơn. Tác động tâm lý ung thư người trưởng thành rất lớn. Stress công việc kết hợp bệnh tật gây áp lực khủng khiếp. Lo âu ở người mắc ung thư đang làm việc là vấn đề cần giải quyết. Rối loạn giấc ngủ bệnh nhân ung thư cũng phổ biến. Các cơ chế đối phó ung thư cần được tăng cường. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư độ tuổi lao động.

4.1. SKTT Yếu tố then chốt cho bệnh nhân ung thư lao động

BNUT độ tuổi lao động có vai trò trung tâm. Họ là trụ cột gia đình, đóng góp cho xã hội. SKTT tốt giúp duy trì vai trò này. Sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư cần được ưu tiên để họ tiếp tục cống hiến.

4.2. Gánh nặng chồng chất khi đối mặt với ung thư

Vừa phải điều trị ung thư. Vừa phải lo lắng công việc, tài chính, gia đình. Gánh nặng này làm trầm trọng hơn vấn đề SKTT. Ung thư và tâm lý độ tuổi lao động luôn song hành, đòi hỏi sự hỗ trợ đặc biệt.

4.3. Ảnh hưởng đến công việc và gia đình

Rối loạn tâm lý ảnh hưởng hiệu suất công việc. Chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư độ tuổi lao động giảm sút. Gia đình cũng chịu ảnh hưởng tiêu cực. Cần có hỗ trợ tâm lý xã hội cho bệnh nhân ung thư để giảm thiểu tác động này.

V. Cơ chế đối phó ung thư và hỗ trợ tâm lý xã hội hiệu quả

Phát hiện và can thiệp sớm các vấn đề SKTT rất quan trọng. Điều này giúp BNUT nói chung. Đặc biệt là BNUT độ tuổi lao động. Gia đình họ có thể phòng chống và kiểm soát rối loạn tâm lý. Hạn chế các tiêu cực ảnh hưởng đến điều trị. Nâng cao chất lượng cuộc sống cho BNUT. Nghiên cứu xác định các rối loạn lo âu, stress, trầm cảm. Mục tiêu là cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học. Từ đó tìm kiếm biện pháp kiểm soát các vấn đề SKTT. Các vấn đề lý luận về SKTT ở BNUT cần được làm rõ. Đây sẽ là tài liệu đáng tin cậy. Cung cấp kiến thức cơ bản, hữu ích. Phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy tâm lý y khoa. Tâm lý ung thư học sẽ được phát triển bền vững.

5.1. Lợi ích của phát hiện sớm các rối loạn tâm lý

Phát hiện và can thiệp sớm giúp kiểm soát rối loạn tâm lý. Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến điều trị. Cải thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư. Đây là chìa khóa để giảm gánh nặng tâm lý ung thư độ tuổi lao động.

5.2. Cải thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư

SKTT được cải thiện. Bệnh nhân sẽ có tinh thần tốt hơn. Họ sẽ đối phó hiệu quả hơn với bệnh tật. Điều này giúp nâng cao chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư độ tuổi lao động. Hỗ trợ tâm lý xã hội là cần thiết.

5.3. Nền tảng khoa học cho tâm lý ung thư học Việt Nam

Nghiên cứu cung cấp dữ liệu khoa học. Dữ liệu này giúp phát triển các biện pháp hỗ trợ. Là tài liệu quý giá cho giảng dạy, nghiên cứu tâm lý y khoa. Thúc đẩy tâm lý ung thư học tại Việt Nam, tăng cường hiểu biết về sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư.

Mục lục chi tiết luận án

MỞ ĐẦU
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2.1. Tổng quan các nghiên cứu về SKTT của bệnh nhân ung thư, về các yếu tố ảnh hưởng đến SKTT của BNUT và mối quan hệ của SKTT với chất lượng cuộc sống (các kết quả đạt được, các khoảng trống cần nghiên cứu gợi ý cho nghiên cứu này của tác giả)
2.2.2. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về sức khỏe tâm thần của bệnh nhân ung thư trong độ tuổi lao động (các khái niệm cơ bản, các luận điểm lý thuyết, cơ sở đo lường SKTT)
2.2.3. Nghiên cứu thực tiễn về sức khỏe tâm thần của bệnh nhân ung thư trong độ tuổi lao động (thực trạng SKTT của nệnh nhân ung thư trong độ tuổi lao động, các yếu tố nguy cơ và tác động của SKTT đến chất lượng cuộc sống của BNUT)
2.2.4. Đề xuất các kiến nghị hướng đến việc thúc đẩy các hành động quan tâm, chăm sóc SKTT của BNUT trong độ tuổi lao động, trước mắt, trong phạm vi bệnh viện, nơi điều trị cho BNUT, và lâu dài, trên bình diện truyền thông xã hội nhằm nâng cao chất lượng sống của BNUT.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
3.2. Khách thể nghiên cứu
3.3. Phạm vi nghiên cứu
3.3.1. Giới hạn về các vấn đề SKTT của bệnh nhân ung thư
3.3.2. Giới hạn về các yếu tố ảnh hưởng đến SKTT của bệnh nhân ung thư
3.3.3. Phạm vi về khách thể nghiên cứu: Giới hạn về khách thể nghiên cứu theo địa bàn, Giới hạn về khách thể nghiên cứu theo độ tuổi
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận nghiên cứu
4.1.1. Nguyên tắc hoạt động
4.1.2. Nguyên tắc hệ thống
4.1.3. Giả thuyết 1: Bệnh nhân ung thư có nguy cơ cao mắc các vấn đề SKTT. Cụ thể: 1a) Bệnh nhân ung thư có nguy cơ cao mắc trầm cảm 1b) Bệnh nhân ung thư có nguy cơ cao mắc rối loạn lo âu 1c) Bệnh nhân ung thư có nguy cơ cao mắc rối loạn stress 1d) Bệnh nhân ung thư có nguy cơ cao bị rơi vào trạng thái đau khổ tâm lý chung
4.1.4. Giả thuyết 2: Mức độ bị mắc các vấn đề SKTT có thể chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố 2a) Mức độ trầm cảm, lo âu, stress và trạng thái đau khổ tâm lý chung của bệnh nhân ung thư có thể chịu ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu – xã hội (giới tính, tuổi, học vấn, địa bàn sinh sống, tôn giáo, dân tộc) 2b) Mức độ trầm cảm, lo âu, stress và trạng thái đau khổ tâm lý chung của bệnh nhân ung thư có thể chịu ảnh hưởng của yếu tố nghề nghiệp (thu nhập, việc làm, hài lòng với công việc) 2c) Mức độ trầm cảm, lo âu, stress và trạng thái đau khổ tâm lý chung của bệnh nhân ung thư có thể chịu ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý (mức độ chấp nhận bệnh, niềm tin vào việc điều trị bệnh, tính lạc quan, ủng hộ xã hội, hài lòng với cuộc sống) 2d) Mức độ trầm cảm, lo âu, stress và trạng thái đau khổ tâm lý chung của bệnh nhân ung thư có thể chịu ảnh hưởng của yếu tố bệnh (có bệnh khác, cách thức điều trị bệnh ung thư, giai đoạn ung thư)
4.1.5. Giả thuyết 3: Mức độ bị mắc các vấn đề về SKTT có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh 3a) Mức độ trầm cảm của bệnh nhân ung thư có thể ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc trong cuộc sống nói chung 3b) Mức độ lo âu của bệnh nhân ung thư có thể ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc trong cuộc sống nói chung 3c) Mức độ stress của bệnh nhân ung thư có thể ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc trong cuộc sống nói chung 3d) Mức độ đau khổ tâm lý chung của bệnh nhân ung thư có thể ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc trong cuộc sống nói chung
4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
4.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
4.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
4.2.3. Phương pháp chuyên gia
4.2.4. Phương pháp nghiên cứu trường hợp
4.2.5. Phương pháp thống kê toán học
5. Đóng góp mới của luận án
5.1. Đóng góp mới về mặt lý luận
5.2. Đóng góp mới về mặt thực tiễn
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận án
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
7. Cấu trúc của luận án
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG
1.1. Nghiên cứu về các vấn đề sức khoẻ tâm thần của bệnh nhân ung thư
2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SKTT CỦA BNUT TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG
3. CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án sức khỏe tâm thần của bệnh nhân ung thư trong độ tuổi lao động

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (266 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Tính cấp thiết của đề tài Sức khỏe là mục tiêu chiến lược của các quốc gia và là thước đo chung của một xã hội văn minh, nhân bản. Rõ ràng, sức khỏe thể chất ngày nay không thể tách rời với Sức khỏe tâm thần (SKTT) và SKTT ngày càng khẳng định vị thế của mình trong nỗ lực chung để nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người trong một xã hội phát triển. Hiện nay, rối loạn SKTT chiếm một phần lớn trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Theo Tiến sĩ Jean-Marc Olivé - Trưởng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization – WHO) tại Việt Nam, có gần 54 triệu người trên thế giới mắc các rối loạn SKTT như bệnh tâm thần phân liệt và rối loạn cảm xúc lưỡng cực; thêm vào đó là 154 triệu người bị mắc trầm cảm [87].

Tại Việt Nam, SKTT ở Việt Nam không nằm ngoài tình hình chung của toàn cầu. Theo thống kê của Bộ Y tế vào năm 2017, tại Việt Nam có khoảng 15% dân số mắc các rối loạn tâm thần phổ biến liên quan tới stress, 3 triệu người bị rối loạn tâm thần nặng [11]. Thông báo tại Viện Sức khỏe tâm Thần cho thấy có 30% dân số Việt Nam mắc các bệnh rối loạn tâm thần, trong đó tỷ lệ trầm cảm chiếm 25% [5]. Theo các bác sĩ chuyên khoa đây là con số thống kê vẫn chưa đầy đủ, thực tế số lượng người bệnh đi chữa trị là rất thấp bởi vì một số lý do như: Nhiều người nghĩ mình chỉ mệt mỏi về cơ thể, không liên quan tới bệnh lý tâm thần hoặc là mắc bệnh liên quan đến tâm thần nhưng không quá quan trọng, không đáng quan tâm.

Nhiều người chọn cách giấu bệnh vì lo ngại sẽ ảnh hưởng tới các mối quan hệ xã hội xung quanh. Ngoài ra, một số người lại đi khám không đúng chuyên khoa tâm lý, tâm thần mà lại đi khám ở các chuyên khoa khác. Như vậy, trong thực tế con số bệnh nhân có rối loạn tâm thần có thể là cao hơn nhiều. Song song với vấn đề trên, ung thư cũng đang là nỗi ám ảnh lớn đối với toàn nhân loại.

Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc ung thư ở Việt Nam đang có xu hướng tăng nhanh và đáng báo động. Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO, năm 2018 ca mắc ung thư mới ở Việt Nam đã tăng lên 165.000 ca và hàng năm có khoảng 94.000 tử vong vì căn bệnh ung thư [75]. Bệnh nhân ung thư (BNUT) 1 không chỉ phải đối mặt với những nguy cơ về sức khỏe, mà còn phải chịu đựng những gánh nặng tâm lý nặng nề. Nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng 70% BNUT, đặc biệt là BNUT trong độ TLĐ, có rối loạn tâm thần như rối loạn lo âu, stress, trầm cảm, thậm chí là tự tử do lo lắng quá mức và đau buồn khi biết mình bị bệnh ung thư.

Các rối loạn tâm thần không phải là nguyên nhân gây ra ung thư; tuy nhiên, chúng làm suy yếu hệ miễn dịch gây ra các tình trạng bệnh lý khác và làm giảm sức khỏe. Bên cạnh đó, nó cũng có thể gây trở ngại cho việc ra quyết định liên quan tới chăm sóc và điều trị của BNUT. Các vấn đề về SKTT và tâm lý xã hội ngày càng phổ biến ở Việt Nam nhưng theo một nghiên cứu mới của UNICEF và Viện Nghiên Cứu Phát Triển Hải Ngoại (ODI), các dịch vụ chăm sóc và ứng phó tại Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về chăm sóc sức khỏe tâm thần [159]. Việc thiếu các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tâm thần đặc biệt nghiêm trọng ở các tỉnh vùng sâu vùng xa.

Điều này dẫn tới việc không ngăn ngừa được tình trạng tự tử ở những người có biểu hiện rối loạn tâm thần trong đó có BNUT. Bên cạnh đó, còn thiếu những người làm công tác xã hội có đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với loại hình bệnh này nên hoạt động chăm sóc người bệnh có rối loạn tâm thần còn chưa thực sự hiệu quả. Ở nhiều bệnh viên, trung tâm chăm sóc SKTT còn chưa có các chuyên viên tâm lý, nhân viên công tác xã hội. Việc chăm sóc người bệnh chủ yếu do y bác sĩ đảm nhiệm mà không có sự giúp đỡ của các chuyên viên tâm lý, nhân viên công tác xã hội.

Điều này sẽ rất khó khăn cho người bệnh, bởi y bác sĩ chỉ giúp người bệnh trong điều trị bằng thuốc còn việc tác động đến người rối nhiễu tâm trí là công việc mà các chuyên viên tâm lý và nhân viên công tác xã hội làm tốt thì lại chưa có. Thực tế cho thấy, SKTT của BNUT trong độ tuổi lao động đóng vai trò vô cùng quan trọng bởi đây là lực lượng trực tiếp, chủ yếu trong việc chăm sóc và nuôi dạy con cái cũng như tạo ra của cải vật chất cho gia đình và xã hội. Do mang trên vai rất nhiều trọng trách, nên việc đối mặt với căn bệnh ung thư càng khiến vấn đề SKTT của BNUT có thể càng trở nên nghiêm trọng hơn. Việc phát hiện và can thiệp sớm có thể giúp BNUT nói chung và BNUT trong 2 độ tuổi lao động nói riêng có vấn đề về SKTT và gia đình của họ phòng chống và kiểm soát được các rối loạn tâm lý, hạn chế những tiêu cực ảnh hưởng đến công tác điều trị cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống cho BNUT.

Nhận thấy rõ vai trò và tầm quan trọng ảnh hưởng của SKTT đối với hiệu quả trị bệnh của BNUT, chúng tôi xác định nghiên cứu các rối loạn lo âu, stress, trầm cảm ở BNUT sẽ cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học cho việc tìm kiếm các biện pháp giúp kiểm soát các vấn đề về SKTT cho BNUT. Bên cạnh đó những vấn đề lý luận về SKTT ở BNUT sẽ là tài liệu tin cậy để cung cấp và bổ trợ kiến thức cơ bản, hữu ích phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy tâm lý trong nghành y khoa. Kết quả nghiên cứu thực tiễn SKTT ở BNUT trong độ tuổi lao động (LĐ) sẽ cho những thông báo khoa học về thực trạng từ đó tìm kiếm các biện pháp giúp BNUT ứng phó có hiệu quả đối với các vấn đề rối loạn tâm thần trong quá trình điều trị. Tính cấp thiết về lý luận và thực tiễn của vấn đề đã thôi thúc các nhà tâm lý học nghiên cứu những khía cạnh của SKTT và chúng tôi chọn “Sức khỏe tâm thần ở bệnh nhân ung thư trong độ tuổi lao động” là đề tài nghiên cứu của luận án.

Luận án này được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: (1) BNUT có nguy cơ mắc các vấn đề SKTT không? (2) Những yếu tố nào có thể ảnh hưởng đến tình trạng SKTT của BNUT? (3) Tình trạng SKTT của BNUT có tác động như thế nào đến chất lượng cuộc sống của họ? 2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu này hướng đến việc cung cấp thông tin cho xã hội và người chăm sóc về hiện trạng SKTT tâm thần của BNUT trong độ tuổi lao động và các yếu tố ảnh hưởng. Trên cơ sở đó, một số kiến nghị được đề xuất nhằm thúc đẩy các hành động quan tâm đến SKTT của BNUT, giảm thiểu các rối nhiễu tâm lý ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của họ.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích đặt ra, các nhiệm vụ nghiên cứu sau đã được hình thành.

- Tổng quan các nghiên cứu về SKTT của bệnh nhân ung thư, về các yếu tố 3 ảnh hưởng đến SKTT của BNUT và mối quan hệ của SKTT với chất lượng cuộc sống (các kết quả đạt được, các khoảng trống cần nghiên cứu gợi ý cho nghiên cứu này của tác giả). - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về sức khỏe tâm thần của bệnh nhân ung thư trong độ tuổi lao động (các khái niệm cơ bản, các luận điểm lý thuyết, cơ sở đo lường SKTT) - Nghiên cứu thực tiễn về sức khỏe tâm thần của bệnh nhân ung thư trong độ tuổi lao động (thực trạng SKTT của nệnh nhân ung thư trong độ tuổi lao động, các yếu tố nguy cơ và tác động của SKTT đến chất lượng cuộc sống của BNUT) - Đề xuất các kiến nghị hướng đến việc thúc đẩy các hành động quan tâm, chăm sóc SKTT của BNUT trong độ tuổi lao động, trước mắt, trong phạm vi bệnh viện, nơi điều trị cho BNUT, và lâu dài, trên bình diện truyền thông xã hội nhằm nâng cao chất lượng sống của BNUT. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Các khía cạnh SKTT ở BNUT trong độ tuổi LĐ ( Stress, lo âu, trầm cảm và trạng thái đau khổ tâm lý chung) và các yếu tố ảnh hưởng đến SKTT ở BNUT (Yếu tố nhân khẩu – xã hội, yếu tố nghề nghiệp, yếu tố liên quan đến bệnh ung thư và bệnh khác, yếu tố gia đình, các yếu tố tâm lý ) 3.2 Khách thể nghiên cứu 230 BNUT trong độ tuổi LĐ tại bệnh viện Ung Bướu – Thành Phố Hồ Chí Minh. Phạm vi nghiên cứu 3.

Phạm vi về nội dung - Giới hạn về các vấn đề SKTT của bệnh nhân ung thư SKTT là phạm trù rộng, gồm nhiều dạng khác nhau, trong đó có cả khía cạnh bệnh và cả khỏe mạnh về tâm trí. Trong nghiên cứu này, dựa trên các nghiên cứu tổng quan, chúng tôi nghiên cứu SKTT của BNUT trong độ tuổi LĐ giới hạn ở hai bình diện là vấn đề SKTT tổng quát chung và một số 4 vấn đề SKTT cụ thể. Trên bình diện tổng quát, chúng tôi đề cập đến trạng thái SKTT chung hay còn được gọi là đau khổ tâm lý – được đo lường bằng thang GHQ-12. Trên bình diện cụ thể, chúng tôi quan tâm đến các vấn đề SKTT cụ thể như: Stress, lo âu, trầm cảm – được đo lường bằng thang DASS-21.

Việc lựa chọn này xuất phát từ mục đích muốn có bức tranh chung về tình trạng SKTT tổng quát, vừa xem xét được những vấn đề SKTT cụ thể, phổ biến nhất, thường xảy ra với BNUT. Ngoài ra, trong đánh giá SKTT, chúng tôi sử dụng thang GHQ-12 và DASS-21 là những thang sàng lọc chứ không phải thang lâm sàng. Vì thế, các vấn đề SKTT được đề cập đến được giới hạn ở mức độ có dấu hiệu về rối loạn SKTT hơn là chẩn đoán lâm sàng là họ bị rối loạn tâm thần. Trong các diễn đạt ở chương 4 (kết quả nghiên cứu), các diễn đạt như rối loạn trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn stress … được hiểu là có nguy cơ mắc các rối loạn đó ở các mức độ từ nhẹ đến nặng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Luận án sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư độ tuổi lao động (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/tam-ly-hoc/tam-ly-hoc-lam-sang/luan-an-suc-khoe-tam-than-benh-nhan-ung-thu-trong-do-tuoi-lao-dong

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Luận án sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư độ tuổi lao động" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án nghiên cứu sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư lao động, phân tích yếu tố nguy cơ và đề xuất giải pháp can thiệp.

Luận án "Luận án sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư độ tuổi lao động" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Luận án sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư độ tuổi lao động" thuộc chuyên ngành Tâm lý học. Danh mục: Tâm Lý Học Lâm Sàng.

Luận án "Luận án sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư độ tuổi lao động" có bao nhiêu trang?

Luận án "Luận án sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư độ tuổi lao động" có 266 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Luận án sức khỏe tâm thần bệnh nhân ung thư độ tuổi lao động" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter