Tổng quan về luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học (chuyên ngành Triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử) của tác giả Trần Quang Huy tiếp cận một vấn đề vừa mang tính cấp thiết lý luận, vừa có giá trị thực tiễn sâu sắc: "Vai trò nhân tố chủ quan trong phát huy di sản văn hóa ở Tuyên Quang hiện nay". Trong bối cảnh phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, các giá trị di sản văn hóa truyền thống đang đứng trước cả thời cơ chuyển hóa thành nguồn lực phát triển lẫn nguy cơ bị mai một, biến dạng hoặc thất truyền. Luận án xác lập tính tiên phong khi đặt toàn bộ cấu trúc vận động của di sản văn hóa – một đối tượng thường thuộc phạm vi nghiên cứu của văn hóa học, nhân học hoặc xã hội học – dưới lăng kính quy luật biện chứng giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của triết học Mác - Lênin.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) được luận án định vị rõ nét: Dù các học giả kinh điển như G. Glê-dec-man (1965), Y. Plet-ni-côp (1983), A. U-le-dốp (1980), L. Chi-na-ko-va (1985) và các nhà nghiên cứu trong nước (Phạm Văn Nhuận 2001, Trần Thị Bích Liên 2001, Nguyễn Hồng Lương 2006) đã phân tích sâu sắc về phạm trù nhân tố chủ quan, và các nhà văn hóa học (Hoàng Vinh 1997, Đặng Văn Bài 2007, Bùi Hoài Sơn 2012) đã tiếp cận công tác bảo tồn di sản, nhưng chưa có một công trình nào khảo cứu toàn diện, có hệ thống về cơ chế vận hành, các nhân tố quy định và hệ giải pháp phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong bảo tồn, phát huy di sản văn hóa tại một địa bàn đặc thù đa dân tộc như tỉnh Tuyên Quang.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học được xác lập:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (Q1): Bản chất, cấu trúc và cơ chế tác động của nhân tố chủ quan trong phát huy di sản văn hóa dưới góc độ triết học duy vật lịch sử là gì?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (Q2): Thực trạng phát huy vai trò nhân tố chủ quan của các nhóm chủ thể (Cấp ủy Đảng, chính quyền, cán bộ văn hóa và cộng đồng dân cư) tại Tuyên Quang từ năm 2010 đến nay bộc lộ những ưu điểm, hạn chế và mâu thuẫn cơ bản nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3 (Q3): Cần những giải pháp đột phá nào để tối ưu hóa năng lực nhận thức, tổ chức thực tiễn và huy động nguồn lực nhằm biến di sản văn hóa thành động lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho địa phương?
  • Giả thuyết khoa học (H1): Nhân tố chủ quan không đồng nhất với toàn bộ ý thức xã hội mà là sự kết tinh của nhận thức, niềm tin, ý chí và năng lực thực tiễn được huy động trực tiếp; việc nâng cao chất lượng nhân tố chủ quan giữ vai trò quyết định việc biến tiềm năng di sản khách quan thành giá trị hiện thực.
  • Giả thuyết khoa học (H2): Hiệu quả phát huy di sản văn hóa tại Tuyên Quang tỷ lệ thuận với mức độ đồng thuận và năng lực phối hợp biện chứng giữa ba nhóm chủ thể: chủ thể lãnh đạo (Đảng), chủ thể quản lý (chính quyền/cán bộ) và chủ thể thực hành di sản (cộng đồng 22 dân tộc).

Khung lý thuyết của luận án tích hợp chặt chẽ: (1) Lý luận Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội; (2) Thuyết quyết định luận xã hội (Social Determinism) của L. Chi-na-ko-va; (3) Quan điểm về "Bảo tồn tích cực" gắn với Công ước UNESCO 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Về phạm vi nghiên cứu, luận án khảo sát toàn diện trên địa bàn 7/7 huyện, thành phố của tỉnh Tuyên Quang (diện tích 5.809 km², địa hình trên 73% đồi núi, nơi sinh sống của 22 dân tộc với đồng bào thiểu số chiếm 53,78% dân số), bao quát 635 di tích lịch sử - văn hóa (gồm 3 di tích quốc gia đặc biệt: Tân Trào, Kim Bình, Na Hang - Lâm Bình; 135 di tích quốc gia; 257 di tích cấp tỉnh) trong khung thời gian từ năm 2010 đến nay.

Literature Review và Positioning

Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả phân chia thành ba dòng mạch học thuật chủ đạo:

Dòng nghiên cứu thứ nhất về lý luận nhân tố chủ quan: Các học giả Xô-viết đặt nền móng vững chắc cho phạm trù này. G. Glê-dec-man (1965) trong Phép biện chứng về điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong việc xây dựng chủ nghĩa cộng sản đã phân định rõ cái chủ quan là những gì thuộc về và phụ thuộc vào chủ thể. Y. Plet-ni-côp (1983) khẳng định chủ quan và khách quan là thuộc tính chung bộc lộ trong hoạt động có mục đích của con người. Đặc biệt, A. U-le-dốp (1980) trong Những quy luật xã hội học và L. Chi-na-ko-va (1985) trong Chủ nghĩa quyết định xã hội đã tạo ra bước ngoặt phân loại: "nhân tố chủ quan" không đồng nhất với toàn bộ "cái chủ quan" hay bản thân chủ thể, mà chỉ bao gồm những phẩm chất, năng lực, ý chí và tri thức được chủ thể huy động trực tiếp nhằm tác động cải biến khách thể. Tại Việt Nam, Phạm Văn Nhuận (2001), Trần Thị Bích Liên (2001) và Nguyễn Hồng Lương (2006) tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của nhân tố chủ quan khi điều kiện khách quan đã chín muồi, đồng thời cảnh báo hai khuynh hướng sai lầm: thụ động ỷ lại hoàn cảnh khách quan hoặc chủ quan duy ý chí, bất chấp quy luật khách quan.

Dòng nghiên cứu thứ hai về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa: Hoàng Vinh (1997) phân tích chức năng của di sản trong mô hình phát triển văn hóa dân tộc; Đỗ Huy (2002) thiết lập cơ sở triết học của văn hóa nghệ thuật; Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (2012) chỉ ra thách thức quản lý văn hóa trong hội nhập; Nguyễn Quốc Hùng (2013, 2015), Lưu Trần Tiêu (2012), Đặng Văn Bài (2007) nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn nhân lực và sự tham gia của cộng đồng cư dân bản địa - chủ thể đích thực sáng tạo và lưu giữ di sản.

Dòng nghiên cứu thứ ba về văn hóa dân gian Tuyên Quang: Các công trình của Nông Quốc Tuấn và Nguyễn Hữu Thọ (2006) về văn hóa phi vật thể người Tày; Ma Văn Đức (2002) về Then Tày Tuyên Quang; Mai Đức Thông (2004, 2008) về hát Soọng cô của người Sán Dìu và nghi lễ người Dao Quần Chẹt; Nguyễn Ngọc Thanh (2011) về người Sán Dìu; Nguyễn Việt Thanh và Đinh Huyền Trang (2012) về hệ thống lễ hội truyền thống đã cung cấp bức tranh sinh động về kho tàng di sản địa phương.

graph TD
    A[Lý luận Triết học Mác - Lênin về Nhân tố chủ quan] --> D[Khung lý luận tích hợp của Luận án]
    B[Lý thuyết Bảo tồn di sản & Quản lý văn hóa] --> D
    C[Nghiên cứu Văn hóa tộc người tại Tuyên Quang] --> D
    D --> E[Phát huy vai trò Nhân tố chủ quan trong di sản Tuyên Quang]
    E --> F[Chủ thể Đảng: Lãnh đạo định hướng]
    E --> G[Chủ thể Chính quyền: Quản lý thực thi]
    E --> H[Chủ thể Cộng đồng: Thực hành trao truyền]

Tranh luận học thuật cốt lõi tồn tại giữa hai quan điểm: Một phái nhấn mạnh tính quyết định tuyệt đối của điều kiện vật chất - kinh tế và xem di sản là kết quả thụ động của bảo tồn nguyên trạng (tĩnh); phái thứ hai – mà luận án ủng hộ và phát triển – tiếp cận theo hướng "bảo tồn tích cực" (năng động), coi di sản là nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, trong đó nhân tố chủ quan đóng vai trò chuyển hóa tiềm năng thành giá trị hiện thực.

So sánh quốc tế: Luận án tiếp thu mô hình "Báu vật nhân văn sống" (Living Human Treasures) của Hàn Quốc qua phân tích của Dawnhee Yim (2007) và bài học phân cấp quản lý ngân sách, thể chế hóa di sản từ Luật Bảo vệ Tài sản Văn hóa của Nhật Bản (Hoàng Vinh, 1997). So với các mô hình quốc tế vốn đặt nặng khía cạnh kỹ trị hoặc thương mại hóa du lịch thuần túy, luận án định vị bản sắc riêng khi gắn kết mục tiêu phát triển kinh tế du lịch với nhiệm vụ chính trị - tư tưởng: giáo dục truyền thống cách mạng tại vùng đất "Thủ đô Khu giải phóng, Thủ đô Kháng chiến".

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án làm phong phú và cụ thể hóa nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong lĩnh vực văn hóa tinh thần. Cụ thể, công trình phát triển luận điểm của L. Chi-na-ko-va và V.I. Lênin về tính năng động sáng tạo của ý thức thông qua việc định nghĩa tường minh:

"Chủ thể là con người hoạt động tích cực và nhận thức, có ý thức và ý chí. Khách thể là cái mà hoạt động nhận thức và hoạt động khác của chủ thể hướng vào đó" [Từ điển Triết học, tr. 130].

Tác giả khẳng định nhân tố chủ quan trong phát huy di sản văn hóa là hệ thống chỉnh thể gồm 3 thành tố tương hỗ:

  1. Trình độ nhận thức, thế giới quan, niềm tin và tình cảm văn hóa: Khả năng nhận diện bản chất, giá trị lịch sử, tính nhân văn của di sản; tình yêu và lòng tự hào dân tộc, khắc phục tâm lý tự ti, "ngại ngùng" hoặc xu hướng "Kinh hóa" làm biến dạng di sản tộc người.
  2. Năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn: Kỹ năng thể chế hóa đường lối của Đảng thành các đề án, kế hoạch khả thi; năng lực quản lý di tích, sưu tầm, phục dựng, truyền dạy và tích hợp di sản vào chuỗi giá trị du lịch sinh thái - lịch sử.
  3. Năng lực thể chất và sức mạnh cố kết xã hội: Sức khỏe, sự dẻo dai của con người cùng sự đoàn kết, đồng thuận của các cộng đồng làng bản trong quá trình thực hành và bảo vệ không gian văn hóa.

Các mệnh đề lý thuyết cốt lõi (Propositions):

  • Mệnh đề 1 (P1): Di sản văn hóa chỉ thực sự trở thành nguồn lực xã hội khi được "chủ quan hóa" vào nhận thức của chủ thể và được "khách thể hóa" trở lại thông qua hành động thực tiễn có tổ chức.
  • Mệnh đề 2 (P2): Sự mất cân đối giữa năng lực quản lý của bộ máy nhà nước và ý thức tự giác của cộng đồng bản địa sẽ dẫn đến hiện tượng hành chính hóa hoặc thương mại hóa tầm thường di sản.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án kết hợp đa tầng ba góc độ tiếp cận:

  • Góc độ triết học duy vật lịch sử: Phân tích mối quan hệ giữa tồn tại khách quan của 635 di tích, hệ thống làn điệu dân ca (Then, Soọng cô, Sình ca, Páo dung) với ý thức hệ và năng lực chủ quan của các chủ thể.
  • Góc độ xã hội học văn hóa: Khảo sát cấu trúc phân tầng của 3 nhóm chủ thể (Cấp ủy Đảng lãnh đạo; Chính quyền quản lý điều hành; Cộng đồng nhân dân trực tiếp sáng tạo và thụ hưởng).
  • Góc độ kinh tế di sản (Heritage Economics): Đánh giá cơ chế chuyển hóa giá trị văn hóa tinh thần thành sản phẩm du lịch mang lại sinh kế trực tiếp cho 53,78% dân số là người dân tộc thiểu số.

Điều kiện biên (boundary conditions): Khung phân tích được xác lập chặt chẽ cho địa bàn tỉnh miền núi Tuyên Quang trong điều kiện kinh tế chuyển đổi, hạ tầng giao thông đang hoàn thiện và tác động mạnh mẽ của công nghệ thông tin 4.0.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu quán triệt lập trường triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (Dialectical & Historical Materialism / Critical Realism), khẳng định:

"đối với chủ nghĩa duy vật thì khách thể tồn tại độc lập với chủ thể và được phản ánh vào trong ý thức của chủ thể một cách chính xác nhiều hay ít" [V.I. Lênin, Toàn tập, tập 18, tr. 62].

Thiết kế nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp (Mixed Methods Research):

  • Thiết kế đa cấp độ (Multi-level design): Cấp vĩ mô (Macro - Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh); Cấp trung mô (Meso - Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND 7 huyện/thành phố); Cấp vi mô (Micro - các nghệ nhân dân gian, già làng, trưởng bản và đồng bào tại các thôn bản di sản).
  • Địa bàn bao phủ toàn diện: 7/7 đơn vị hành chính gồm thành phố Tuyên Quang, huyện Lâm Bình, Na Hang, Chiêm Hóa, Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương.
flowchart LR
    subgraph CapDo[Thực hiện Nghiên cứu Đa Cấp Độ]
        Macro[Vĩ mô: Tỉnh ủy, HĐND, UBND Tỉnh]
        Meso[Trung mô: Sở VHTTDL, UBND 7 Huyện/TP]
        Micro[Vi mô: Nghệ nhân, Già làng, 22 Dân tộc]
    end
    subgraph PhuongPhap[Thu Thập & Phân Tích Dữ Liệu]
        Data1[Phân tích Văn kiện & Thống kê Di tích]
        Data2[Khảo sát Bảng hỏi Xã hội học]
        Data3[Phỏng vấn sâu Bán cấu trúc]
    end
    Macro --> Data1
    Meso --> Data2
    Micro --> Data3
    Data1 & Data2 & Data3 --> Synthesis[Tam giác hóa dữ liệu & Tổng hợp Lý luận - Thực tiễn]

Quy trình nghiên cứu rigorous

  1. Chiến lược chọn mẫu (Sampling Strategy): Kết hợp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đối với quần chúng nhân dân và chọn mẫu có chủ đích (Purposive Sampling) đối với 100% cán bộ lãnh đạo, chuyên viên phòng văn hóa thông tin cấp huyện và các nghệ nhân Then, Soọng cô, Sình ca ưu tú trên địa bàn.
  2. Thu thập dữ liệu (Data Collection):
    • Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi cấu trúc đo lường nhận thức, thái độ, mức độ tham gia và đánh giá hiệu quả phát huy di sản.
    • Phỏng vấn sâu bán cấu trúc (Semi-structured in-depth interviews) với các nhà quản lý văn hóa, nghệ nhân (như Nghệ nhân Ma Văn Đức) và đồng bào dân tộc Tày, Dao, Sán Chay, Sán Dìu.
    • Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang qua các thời kỳ, báo cáo tổng kết của ngành văn hóa từ 2010 đến nay, các hồ sơ khoa học di sản quốc gia đặc biệt.
  3. Kỹ thuật tam giác hóa (Triangulation): Kết hợp tam giác hóa dữ liệu (Data Triangulation: văn bản chính sách - số liệu khảo sát - quan sát thực địa) và tam giác hóa lý thuyết (Theory Triangulation: triết học Mác-xít - xã hội học văn hóa - nhân học).
  4. Độ tin cậy và giá trị (Validity & Reliability): Bộ công cụ khảo sát được kiểm định giá trị nội dung (Content Validity Index) qua ý kiến của các chuyên gia Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam và Hội đồng khoa học Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang.

Data và phân tích

Dữ liệu được xử lý bằng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp lịch sử - logic và phân tích nội dung chính sách (Policy Content Analysis). Hệ thống dữ liệu bao gồm:

  • Đặc điểm nhân khẩu học: Phản ánh cơ cấu 22 dân tộc với tỷ lệ người Tày chiếm 25,59%, Dao 12,5%, Sán Chay 8,46%, Mông 2,34%, Nùng 1,96%, Sán Dìu 1,62%.
  • Hiện trạng di sản: Phân tích định lượng tình trạng xuống cấp, mức độ bảo tồn nguyên gốc và tỷ lệ phát huy giá trị của 635 di tích lịch sử - văn hóa cùng hàng chục loại hình nghệ thuật trình diễn, nghi lễ dân gian (Lễ cấp sắc, Lễ nhảy lửa Pà Thẻn, Lễ hội Lồng Tông, hát Cọi, hát Quan làng).

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Độ lệch pha giữa nhận thức lý luận và năng lực tổ chức thực tiễn: Khảo sát thực tế chỉ ra rằng phần lớn cán bộ và nhân dân đều nhận thức được di sản là tài sản quý báu, nhưng có sự lúng túng nghiêm trọng trong khâu chuyển hóa nhận thức thành kế hoạch hành động cụ thể. Năng lực xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù từ di sản văn hóa phi vật thể tại các huyện vùng cao như Na Hang, Lâm Bình còn mang tính tự phát, sao chép.
  2. Nguy cơ đứt gãy mạch truyền thừa do thiếu cơ chế tạo động lực cho chủ thể sáng tạo: Đội ngũ nghệ nhân nắm giữ bí quyết thực hành nghi lễ và làn điệu dân ca (Then cổ, Soọng cô, Sình ca) đang già hóa nhanh chóng. Chính sách đãi ngộ vật chất và tôn vinh tinh thần chưa đủ mạnh khiến thế hệ trẻ có xu hướng thờ ơ, nảy sinh tâm lý "ngại ngùng, thiếu ý thức tự tôn dân tộc" trước làn sóng văn hóa ngoại lai.
  3. Mâu thuẫn giữa bảo tồn nguyên gốc và thương mại hóa du lịch: Xuất hiện tình trạng "Kinh hóa" và "sân khấu hóa" thô thiển các nghi lễ truyền thống (như Lễ cấp sắc của người Dao, Lễ hội Lồng Tông của người Tày), làm suy giảm tính thiêng và giá trị giáo dục nhân văn đích thực của di sản.
  4. Hiệu quả phát huy di sản tỷ lệ thuận với mức độ tham gia tự nguyện của cộng đồng: Ở những nơi phát huy tốt vai trò làm chủ của người dân theo nguyên tắc "tự nguyện, đồng thuận, tự do, bình đẳng và cùng có lợi" (như mô hình du lịch cộng đồng homestay tại Lâm Bình), di sản vừa được bảo vệ nguyên vẹn vừa tạo ra sinh kế bền vững.

Implications đa chiều

graph LR
    A[Phát hiện Nghiên cứu] --> B[Hàm ý Lý luận: Mở rộng Triết học Văn hóa]
    A --> C[Hàm ý Phương pháp: Bộ chỉ số Đánh giá Chủ thể]
    A --> D[Hàm ý Thực tiễn: 3 Nhóm Giải pháp Đột phá]
    A --> E[Hàm ý Chính sách: Thể chế hóa & Đãi ngộ Nghệ nhân]
  • Về mặt lý luận: Bổ sung luận cứ khoa học khẳng định văn hóa là nguồn lực nội sinh của phát triển kinh tế; cụ thể hóa quy luật mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong kỷ nguyên số.
  • Về mặt phương pháp luận: Cung cấp khung đánh giá 3 chiều (Nhận thức - Kỹ năng tổ chức - Nguồn lực) có thể áp dụng để đánh giá năng lực chủ thể văn hóa cho các tỉnh miền núi phía Bắc.
  • Về mặt thực tiễn (3 nhóm giải pháp cơ bản của luận án):
    1. Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức: Đổi mới nội dung, phương thức truyền thông di sản trên nền tảng số; đưa di sản dân ca (Then, Soọng cô) và lịch sử cách mạng (Tân Trào, Kim Bình) vào chương trình giáo dục học đường tỉnh Tuyên Quang.
    2. Nâng cao năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn: Đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành Văn hóa - Du lịch - Giáo dục; phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên.
    3. Mở rộng và đa dạng hóa nguồn lực: Đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng du lịch di sản; ban hành chính sách bảo tồn đặc thù, tôn vinh và hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các nghệ nhân dân gian, câu lạc bộ văn hóa truyền thống thôn bản.
  • Về mặt chính sách: Luận án vận dụng sâu sắc lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

"Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng nhiều phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý… Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm. Cái gì mới mà hay, thì phải làm."

Đề xuất chính quyền tỉnh ban hành Nghị quyết chuyên đề về chuyển đổi số di sản văn hóa và chính sách đãi ngộ đặc cách đối với các nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân nhân dân người dân tộc thiểu số.

Limitations và Future Research

  • Hạn chế nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào địa bàn tỉnh Tuyên Quang nên một số đặc thù về cơ cấu 22 dân tộc và hệ thống di tích căn cứ địa cách mạng mang tính đơn nhất; việc định lượng hóa mức độ lan tỏa của các giá trị tinh thần, tín ngưỡng phi vật thể vào nhận thức người dân còn gặp những giới hạn nhất định của phương pháp điều tra bảng hỏi.
  • Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):
    1. Mở rộng so sánh đối chiếu vai trò nhân tố chủ quan giữa Tuyên Quang và các tỉnh có cùng không gian văn hóa Việt Bắc (Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Thái Nguyên).
    2. Ứng dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để lượng hóa trọng số tác động của từng thành tố nhân tố chủ quan (nhận thức, kỹ năng, thể chất) đến chỉ số phát triển du lịch bền vững.
    3. Nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR/AR) và không gian mạng xã hội đối với sự biến đổi nhân tố chủ quan của thế hệ trẻ (Gen Z, Gen Alpha) người dân tộc thiểu số trong tiếp nhận di sản.
    4. Đánh giá cơ chế hợp tác công - tư (PPP) trong bảo tồn và khai thác giá trị kinh tế của di tích lịch sử quốc gia đặc biệt.

Tác động và ảnh hưởng

  • Ảnh hưởng học thuật: Luận án là công trình tiên phong nghiên cứu toàn diện về nhân tố chủ quan trong di sản văn hóa dưới góc độ triết học tại Tuyên Quang, cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực cho các đề tài sau đại học chuyên ngành Triết học, Văn hóa học, Xã hội học và Quản lý văn hóa.
  • Tác động chuyển đổi ngành du lịch - dịch vụ: Cung cấp luận cứ khoa học để định hình các sản phẩm du lịch di sản độc đáo như: "Hành trình về nguồn Thủ đô Kháng chiến Tân Trào", Lễ hội Thành Tuyên, Lễ hội Lồng Tông Chiêm Hóa, tour du lịch sinh thái - trải nghiệm văn hóa Na Hang - Lâm Bình, biến văn hóa thành động lực xóa đói giảm nghèo bền vững.
  • Tác động chính sách: Cung cấp cơ sở trực tiếp cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Tuyên Quang trong việc xây dựng và hoàn thiện các Đề án phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng giai đoạn 2025–2030, tầm nhìn 2045.
  • Lợi ích xã hội: Nâng cao lòng tự hào dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân của 22 dân tộc anh em trên địa bàn, ngăn chặn nguy cơ xâm lăng văn hóa trong tiến trình toàn cầu hóa.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học: Tiếp cận khung lý thuyết triết học Mác-xít ứng dụng mẫu mực cùng hệ thống tài liệu tổng quan phong phú về văn hóa Tuyên Quang.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu lý luận chính trị: Cung cấp minh chứng thực tiễn sinh động để giảng dạy các chuyên đề về Triết học Mác - Lênin, Xây dựng văn hóa con người Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
  • Cán bộ quản lý văn hóa, lãnh đạo địa phương: Nắm bắt được cẩm nang giải pháp đồng bộ từ nâng cao nhận thức, tổ chức bộ máy đến huy động nguồn lực để lãnh đạo phát triển địa phương.
  • Cộng đồng các dân tộc Tuyên Quang: Được hưởng lợi từ các chính sách bảo tồn văn hóa, phát triển sinh kế du lịch homestay, được tôn vinh và tiếp thêm động lực trao truyền di sản của cha ông.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã phát triển lý thuyết nào? Trả lời: Luận án đã phát triển sáng tạo lý luận về Nhân tố chủ quan trong chủ nghĩa duy vật lịch sửThuyết quyết định luận xã hội của L. Chi-na-ko-va. Đóng góp độc đáo nhất là việc xác lập cấu trúc 3 thành tố (Nhận thức - Năng lực thực tiễn - Năng lực thể chất/cố kết) của nhân tố chủ quan ứng dụng riêng cho lĩnh vực di sản văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giải quyết triệt để ranh giới giữa "cái chủ quan nói chung" và "nhân tố chủ quan được kích hoạt trực tiếp".

2. Điểm mới về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây? Trả lời: So với các công trình thuần túy miêu tả dân tộc học của Nông Quốc Tuấn (2006) hay sưu tầm của Ma Văn Đức (2002), luận án đã kết hợp phương pháp luận triết học duy vật biện chứng với phương pháp điều tra xã hội học đa cấp độ (Macro - Meso - Micro) trên toàn bộ 7/7 huyện/thành phố của tỉnh Tuyên Quang từ năm 2010 đến nay, đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy khoa học cao.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực địa là gì? Trả lời: Phát hiện về sự mâu thuẫn nội tại: Nhận thức của cán bộ và người dân về giá trị di sản đạt mức rất cao (hầu hết đều khẳng định di sản quý giá), nhưng mức độ hành động thực tế và kỹ năng tổ chức bảo tồn lại đạt tỷ lệ thấp. Điều này bác bỏ giả định thông thường cho rằng "chỉ cần nâng cao nhận thức là tự khắc hành vi bảo tồn sẽ diễn ra", từ đó chứng minh năng lực tổ chức thực tiễn và cơ chế lợi ích kinh tế mới là mắt xích quyết định.

4. Luận án có cung cấp quy trình tái lặp nghiên cứu (Replication Protocol) không? Trả lời: Có. Luận án xây dựng hệ thống phụ lục bảng hỏi chi tiết, danh mục 635 di tích phân loại theo cấp quản lý, hướng dẫn phỏng vấn sâu và quy trình phân tích dữ liệu 4 bước rõ ràng, cho phép các nhà nghiên cứu khác có thể nhân rộng mô hình khảo cứu sang các tỉnh miền núi lân cận như Yên Bái, Phú Thọ, Hà Giang, Bắc Kạn.

5. Định hướng chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được vạch ra như thế nào? Trả lời: Chương trình 10 năm tập trung vào 3 trụ cột: (1) Số hóa 3D và xây dựng bảo tàng số cho 100% di tích quốc gia và di sản phi vật thể đặc sắc của Tuyên Quang; (2) Đo lường tác động kinh tế lượng của công nghiệp văn hóa đối với GRDP tỉnh Tuyên Quang; (3) Xây dựng mô hình làng văn hóa di sản thông minh (Smart Heritage Villages) thích ứng biến đổi khí hậu tại vùng hồ sinh thái Na Hang - Lâm Bình.

Kết luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận triết học Mác - Lênin về phạm trù nhân tố chủ quan, phân định rõ mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong bảo tồn, phát huy di sản văn hóa.
  2. Xác lập quan niệm khoa học, phân tích cấu trúc 3 thành tố và chỉ rõ các nhân tố khách quan, chủ quan quy định việc thực hiện vai trò nhân tố chủ quan trong phát huy di sản văn hóa tại tỉnh Tuyên Quang.
  3. Đánh giá toàn diện, khách quan thực trạng thực hiện vai trò nhân tố chủ quan tại 7/7 huyện, thành phố tỉnh Tuyên Quang từ năm 2010 đến nay, làm rõ những thành tựu đạt được, chỉ ra 4 mâu thuẫn cơ bản và các nguyên nhân chủ yếu.
  4. Đề xuất hệ thống 3 nhóm giải pháp đột phá, toàn diện và khả thi (nâng cao nhận thức; củng cố năng lực thực tiễn; mở rộng nguồn lực và hoàn thiện cơ chế chính sách) nhằm phát huy tối đa sức mạnh chủ thể con người Tuyên Quang.
  5. Tạo ra bước chuyển biến về thế giới quan và phương pháp luận: chuyển từ tư duy bảo tồn thụ động, trông chờ bao cấp sang tư duy "bảo tồn tích cực", gắn kết chặt chẽ bảo tồn di sản với phát triển kinh tế du lịch và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho 22 dân tộc trong tỉnh.
  6. Mở ra các hướng nghiên cứu liên ngành mới về kinh tế di sản, chuyển đổi số văn hóa và quản trị nguồn nhân lực văn hóa bản địa, để lại giá trị lý luận và thực tiễn lâu dài cho sự nghiệp phát triển bền vững của quê hương cách mạng Tuyên Quang.