Tổng quan về luận án

Bối cảnh khoa học của công trình nghiên cứu bắt nguồn từ sự kiện mang tính bước ngoặt vào tháng 12 năm 2016, khi "Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt" chính thức được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sự kiện này tạo nên làn sóng phục hưng mạnh mẽ của tín ngưỡng thờ Mẫu (TNTM) tại vùng đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB). Tuy nhiên, thực tiễn nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc giữa yêu cầu bảo tồn các giá trị nhân văn cốt lõi với xu hướng thương mại hóa, sân khấu hóa quá đà và biến tướng mê tín dị đoan.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) được xác định cụ thể: Trước công trình này, các nghiên cứu trong nước và quốc tế chủ yếu tiếp cận TNTM dưới góc độ nhân học tôn giáo, văn hóa dân gian hoặc lịch sử (tiêu biểu như Ngô Đức Thịnh, 2001; Maurice Durand, 1959). Trong khi đó, hoàn toàn thiếu vắng một nghiên cứu liên ngành có hệ thống đặt TNTM trong trường khúc xạ của khoa học chính trị và công tác tư tưởng, nhằm xây dựng mô hình tuyên truyền giá trị văn hóa (GTVH) có định hướng và chuẩn mực khoa học.

Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được xác lập:

  • Câu hỏi 1: Hệ thống GTVH tự thân của TNTM tại ĐBBB gồm những thành tố chuẩn mực nào cần tuyên truyền trong xã hội hiện đại?
  • Câu hỏi 2: Thực trạng công tác tuyên truyền GTVH của TNTM từ năm 2012 đến nay tồn tại những rào cản và lệch chuẩn cấu trúc nào?
  • Giả thuyết 1 (H1): Hoạt động tuyên truyền GTVH của TNTM sẽ điều chỉnh hiệu quả hành vi thực hành của cộng đồng nếu kết hợp chặt chẽ giữa chủ thể quản lý nhà nước và vai trò tự điều tiết của mạng lưới đồng thầy, thủ nhang.
  • Giả thuyết 2 (H2): Sự chuyển đổi từ phương thức tuyên truyền một chiều sang truyền thông tương tác đa kênh sẽ gia tăng nhận thức đúng đắn của công chúng về ranh giới giữa giá trị tâm linh và phản giá trị thương mại hóa.

Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự giao thoa giữa Lý thuyết công tác tư tưởng vô sản (Marx - Lenin), Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, Lý thuyết truyền thông thuyết phục (Jowett & O’Donnell, 2012) và Lý thuyết giá trị văn hóa như một dạng vốn xã hội (Ngô Đức Thịnh, 2001). Đóng góp mang tính đột phá của công trình là giải quyết triệt để bài toán định kiến lịch sử đối với TNTM, chuyển hóa một hình thái từng bị coi là "mê tín dị đoan" thành nguồn lực văn hóa tinh thần phục vụ xây dựng bản sắc dân tộc. Luận án khảo sát trên mẫu định lượng 500 phiếu điều tra cùng quan sát điền dã sâu tại 5 địa bàn trọng điểm (Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Hải Phòng) trong khung thời gian 2012–2019.

Literature Review và Positioning

Tổng quan tài liệu trong nước và quốc tế cho thấy ba luồng nghiên cứu chủ đạo:

Luồng thứ nhất nghiên cứu về lý luận truyền thông và công tác tư tưởng: Các công trình kinh điển của M. Kalinin [70] và V. Krutetski [102] tại Liên Xô nhấn mạnh giáo dục tư tưởng phải xuất phát từ quy luật tâm lý hình thành nhân cách. Lương Khắc Hiếu [44] trong Cơ sở lý luận công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chuẩn hóa cấu trúc các yếu tố chủ thể, đối tượng, phương tiện và hiệu quả tư tưởng. Ở phương Tây, Garth Jowett và Victoria O’Donnell (2012) trong Propaganda and Persuasion cùng Richard C. Vincent (2007) đã định nghĩa tuyên truyền là quá trình truyền thông có chủ đích nhằm định hình nhận thức và dẫn dắt hành vi xã hội.

Luồng thứ hai nghiên cứu về bản thể luận và giá trị của TNTM: L. M. Cadière (1914–1944) [46] và Maurice Durand (1959) [105] trong Điện thờ và nghi lễ hầu đồng ở Việt Nam đã mô tả thực hành lên đồng dưới lăng kính Shaman giáo. Về sau, Ngô Đức Thịnh [86] trong Đạo Mẫu Việt Nam đã nâng tầm nhận thức khi xác lập hệ thống giá trị nhân sinh, thế giới quan và nghệ thuật diễn xướng dân gian của tín ngưỡng. Nguyễn Ngọc Mai [25] tiếp tục phân tích sự biến đổi của lên đồng dưới tác động của kinh tế thị trường.

Luồng thứ ba nghiên cứu về quản lý nhà nước và bảo tồn di sản: Đặng Văn Bài, Dương Văn Khá, và Fran Proschan (chuyên gia nhân chủng học Hoa Kỳ) nhấn mạnh nguyên tắc trao quyền cho cộng đồng chủ thể tự bảo vệ biểu đạt văn hóa.

Trong diễn đàn học thuật tồn tại hai quan điểm đối lập sâu sắc: Một bên duy lý cực đoan xem nghi lễ hầu đồng là tàn dư mê tín cần thu hẹp, trong khi bên còn lại đề cao tuyệt đối hóa yếu tố tâm linh mà bỏ qua các hệ lụy xã hội như mê tín dị đoan, đốt vàng mã tràn lan và thương mại hóa "buôn thần bán thánh".

Luận án định vị chính xác ở điểm giao thoa: Sử dụng công cụ khoa học chính trị và công tác tư tưởng để "gạn đục khơi trong", giải cấu trúc các phản giá trị và tái cấu trúc hệ giá trị văn hóa chân - thiện - mỹ của TNTM. So với nghiên cứu của Durand (1959) vốn chỉ dừng ở mô tả nhân học tĩnh, hay nghiên cứu của Jowett & O'Donnell (2012) tập trung vào truyền thông chính trị phương Tây, luận án đã mở rộng biên độ lý thuyết vào bối cảnh di sản văn hóa phi vật thể tại một quốc gia xã hội chủ nghĩa đang hội nhập.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng và làm phong phú Lý thuyết công tác tư tưởng của chủ nghĩa Marx - Lenin trong bối cảnh đương đại. Cụ thể, nghiên cứu làm sáng tỏ định nghĩa của GS.TS Lương Khắc Hiếu: "Công tác tuyên truyền là một hình thái, một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng nhằm truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó". Luận án chứng minh rằng tuyên truyền không chỉ áp dụng cho các học thuyết chính trị thuần túy mà hoàn toàn có thể ứng dụng để định hướng các giá trị văn hóa - tín ngưỡng truyền thống.

Đồng thời, công trình kế thừa và phát triển quan điểm của GS.TS Ngô Đức Thịnh: "GTVH là yếu tố cốt lõi của văn hóa, được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng... Nó chính là một thứ vốn xã hội (Social capital) mà trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta có thể khai thác nó như một nguồn lực". Mô hình lý thuyết đề xuất 3 mệnh đề (propositions):

  • Mệnh đề 1: GTVH của TNTM là cấu trúc động tích hợp giá trị nhận thức (thế giới quan Tam phủ - Tứ phủ), giá trị đạo đức - nhân văn (tôn vinh Mẹ, lòng yêu nước, ý thức cội nguồn) và giá trị nghệ thuật trình diễn (chầu văn, hầu đồng).
  • Mệnh đề 2: Tuyên truyền GTVH là quá trình tương tác liên nhân cách giữa 4 nhân tố: Chủ thể lãnh đạo/quản lý - Đội ngũ tuyên truyền/thanh đồng - Phương tiện/kênh biểu đạt - Công chúng tiếp nhận.
  • Mệnh đề 3: Sự thay đổi nhận thức của quần chúng tỷ lệ thuận với tính chân thực của thông điệp và mức độ chuẩn mực hóa của không gian thực hành tín ngưỡng.
       [CHỦ THỂ TUYÊN TRUYỀN]
   (Cơ quan quản lý, Nhà nghiên cứu)
                |
                v  (Thông điệp: Chuẩn mực Chân - Thiện - Mỹ)
   [KÊNH TRUYỀN THÔNG & THỰC HÀNH]
  (Báo chí, Diễn xướng, Bản hội, Đồng thầy)
                |
                v  (Tiếp nhận & Chuyển đổi hành vi)
      [CỘNG ĐỒNG CÔNG CHÚNG]
  (Thanh đồng, Tín đồ, Nhân dân, Du khách)

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án là sự tích hợp liên ngành giữa:

  1. Thuyết công tác tư tưởng và định hướng dư luận xã hội;
  2. Nhân học biểu tượng và lý thuyết vốn văn hóa (Pierre Bourdieu);
  3. Tâm lý học truyền thông đại chúng (Đào Duy Quát, Hà Thị Bình Hòa).

Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập chặt chẽ: Khung lý thuyết này áp dụng đặc thù cho tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ tại châu thổ Bắc Bộ – nơi có sự gắn kết mật thiết giữa văn hóa lúa nước, chế độ mẫu hệ tiềm tàng và mạng lưới di tích dày đặc, không đồng nhất hoàn toàn với thực hành thờ Mẫu Thiên Y A Na ở Nam Trung Bộ hay Bà Chúa Xứ ở Nam Bộ.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận hành trên nền tảng thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử. Thiết kế nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp (mixed-methods) kết hợp đa tầng bậc (multi-level design):

  • Cấp độ vĩ mô: Phân tích đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo (Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016).
  • Cấp độ trung gian: Đánh giá cơ chế quản lý, thiết chế văn hóa và hoạt động tuyên truyền của các ban ngành chức năng tại 5 tỉnh, thành phố.
  • Cấp độ vi mô: Đo lường thái độ, nhận thức và hành vi của cá nhân người thực hành tín ngưỡng và công chúng.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được thiết kế chặt chẽ qua 3 giai đoạn tam giác đạc (triangulation):

  1. Phương pháp xã hội học: Thiết kế và phát 500 phiếu hỏi cấu trúc chuẩn hóa tại Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Hải Phòng. Tiêu chuẩn chọn mẫu phân tầng theo 3 nhóm đối tượng: (1) Nhóm thực hành tín ngưỡng trực tiếp (thanh đồng, cung văn, thủ nhang, pháp sư); (2) Nhóm chuyên gia, nhà nghiên cứu văn hóa, cán bộ quản lý văn hóa; (3) Nhóm công chúng đi lễ và người dân địa phương.
  2. Phương pháp điền dã thực tế: Quan sát tham dự (participant observation), ghi âm, ghi hình trực tiếp tại các trung tâm thực hành lớn: Quần thể Phủ Dầy, Đền Nấp (Nam Định), Đền Lảnh Giang (Hà Nam), Đền Đồng Bằng (Thái Bình), các đền/phủ lớn tại Hà Nội và Hải Phòng.
  3. Phương pháp phân tích văn bản học lịch sử: Xử lý khối tư liệu đồ sộ gồm hơn 60 tuyển tập truyện kể chữ Hán, văn bia, thần tích Hán Nôm (như Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm năm 1811, Đại Nam quốc âm ca khúc của Nguyễn Công Trứ, Tiên phả dịch lục của Kiều Oánh Mậu) và các bản văn chầu cổ truyền.

Độ tin cậy của công cụ khảo sát được đảm bảo qua kiểm định tính nhất quán nội tại; độ giá trị cấu trúc (construct validity) được xác thực qua sự hội tụ giữa dữ liệu định lượng bảng hỏi và biên bản quan sát điền dã thực tế.

Data và phân tích

Dữ liệu xã hội học từ 500 mẫu khảo sát được phân tích đa biến nhằm bóc tách tương quan giữa các yếu tố tác động. Kết quả phân tích nhân tố cho thấy nhận thức của cộng đồng chịu sự chi phối mạnh mẽ của 4 nhóm biến số: Trình độ học vấn của người thực hành, mức độ tiếp cận thông tin chính thống từ báo chí/truyền thông, vai trò định hướng của các "đồng thầy", và mức độ kiểm soát lễ hội của chính quyền cơ sở.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Thứ nhất, luận án chỉ ra thực trạng phân hóa nhận thức sâu sắc sau năm 2016. Dữ liệu khảo sát chứng minh rằng dù 100% đối tượng tự hào khi di sản được UNESCO vinh danh, nhưng có tới hơn 40% người tham gia khảo sát vẫn có xu hướng đồng nhất toàn bộ thực hành hầu đồng với hoạt động cầu tài lộc mang tính thực dụng thương mại, cho thấy công tác tuyên truyền giai đoạn 2012–2016 chủ yếu tập trung vào "quảng bá danh hiệu" mà bỏ trống mảng "giải thích bản chất giá trị".

Thứ hai, phát hiện vai trò mang tính quyết định của mạng lưới "đồng thầy" và "bản hội". Trái với quan niệm truyền thống xem cơ quan quản lý văn hóa là chủ thể tuyên truyền duy nhất, kết quả nghiên cứu khẳng định các đồng thầy là mắt xích truyền thông trực tiếp, có ảnh hưởng chi phối 85% hành vi và quan niệm tâm linh của các tân đồng và con nhang đệ tử.

Thứ ba, nhận diện hiện tượng "lệch chuẩn văn hóa" và biến tướng phản giá trị. Nghiên cứu chỉ ra các biểu hiện suy thoái cụ thể: Sự xuất hiện của trang phục cách tân ngoại lai, biểu diễn quá đà làm mất tính tôn nghiêm, hiện tượng nâng giá dịch vụ tâm linh và tình trạng đốt hàng tấn vàng mã tại các cơ sở thờ tự gây ô nhiễm môi trường và lãng phí kinh tế.

Thứ tư, đúc kết lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản chất của công tác tuyên truyền: "đem một việc gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm". Luận án chứng minh rằng phương thức tuyên truyền giáo điều, mệnh lệnh hành chính hoàn toàn thất bại trước không gian tâm linh; chỉ có mô hình tuyên truyền giải thích, thuyết phục và nêu gương điển hình mới tạo được chuyển biến thực chất.

       [HIỆN TƯỢNG BIẾN TƯỚNG]               [CHUẨN MỰC BẢO TỒN]
  - Sân khấu hóa, thương mại hóa       ->  - Tôn vinh tính thiêng & nghệ thuật
  - Đốt vàng mã tràn lan, trục lợi      ->  - Thực hành tiết kiệm, nhân văn
  - Đồng thầy áp đặt con nhang         ->  - Tuyên truyền, khai sáng nhận thức

Implications đa chiều

Về mặt lý luận, nghiên cứu đóng góp mô hình truyền thông văn hóa - tín ngưỡng đặc thù cho khoa học chính trị và công tác tư tưởng Việt Nam, xác lập ranh giới phân định rõ ràng giữa nhu cầu tâm linh chính đáng và hành vi lợi dụng tín ngưỡng.

Về mặt phương pháp luận, luận án cung cấp quy trình tích hợp giữa phân tích tài liệu văn hiến Hán Nôm và điều tra xã hội học định lượng áp dụng cho nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng.

Về mặt thực tiễn và chính sách, nghiên cứu đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp:

  1. Đổi mới nội dung tuyên truyền: Chuyển trọng tâm từ tuyên truyền hình thức sang giáo dục các giá trị đạo đức, lòng yêu nước và nghệ thuật diễn xướng dân gian;
  2. Chuẩn hóa chủ thể: Tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức văn hóa - lịch sử cho đội ngũ thanh đồng, đồng đền, thủ nhang;
  3. Đa dạng hóa phương tiện: Tận dụng truyền thông số, mạng xã hội, xuất bản phẩm khoa học kết hợp không gian trình diễn thực cảnh;
  4. Hoàn thiện thể chế: Xây dựng quy chế phối hợp liên ngành giữa Ban Tuyên giáo, ngành Văn hóa và chính quyền địa phương trong quản lý di tích.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn thừa nhận một số hạn chế nội tại:

  • Giới hạn không gian: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào 5 tỉnh vùng ĐBBB (Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Hải Phòng), chưa bao quát toàn diện các biến thể thờ Mẫu tại vùng núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ hay Nam Bộ;
  • Dữ liệu cắt ngang: Khảo sát 500 mẫu phản ánh thực trạng tại thời điểm 2012–2019, chưa theo dõi dọc (longitudinal study) sự biến đổi nhận thức qua nhiều thập kỷ;
  • Rào cản định lượng: Tâm lý e ngại của một bộ phận thanh đồng khi chia sẻ về các khoản chi phí thực hành tín ngưỡng khiến một số dữ liệu kinh tế tâm linh chưa được lượng hóa tuyệt đối.

Chương trình nghiên cứu tương lai (future agenda) cần tập trung:

  • Mở rộng nghiên cứu so sánh xuyên vùng giữa thực hành thờ Mẫu ĐBBB với tục thờ Mẫu tại Miền Trung và Miền Nam;
  • Khảo sát tác động của kỷ nguyên số và không gian mạng ảo (Virtual Reality/Livestream) đối với thực hành nghi lễ lên đồng;
  • Nghiên cứu mô hình kinh tế di sản bền vững gắn với du lịch tâm linh có trách nhiệm.

Tác động và ảnh hưởng

Về học thuật, luận án là công trình tiên phong đặt nền móng cho phân ngành nghiên cứu "Tuyên truyền giá trị văn hóa tín ngưỡng" trong hệ thống khoa học chính trị Việt Nam, tạo tiền đề trích dẫn cho hàng loạt luận văn, luận án kế cận.

Về chính sách, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc ban hành các chỉ thị, thông tư quản lý hoạt động tín ngưỡng và bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Về mặt xã hội, luận án góp phần định hướng dư luận xã hội, giúp quần chúng nhân dân nhận diện đúng đắn vẻ đẹp nhân văn của TNTM, giải tỏa định kiến xã hội, đồng thời cô lập và đẩy lùi các biểu hiện trục lợi, mê tín dị đoan tại các cơ sở thờ tự vùng đồng bằng sông Hồng.

Về phương diện quốc tế, công trình đóng góp tài liệu khoa học làm sâu sắc thêm các cam kết của Việt Nam với UNESCO trong Chương trình hành động quốc gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản "Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt".

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học giả chuyên ngành Chính trị học, Công tác tư tưởng, Văn hóa học: Thụ hưởng khung lý thuyết liên ngành và bộ công cụ khảo sát chuẩn hóa;
  • Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ tuyên giáo: Tiếp nhận bộ khuyến nghị chính sách và quy trình xử lý khủng hoảng truyền thông trong lĩnh vực tín ngưỡng;
  • Đội ngũ thực hành tín ngưỡng (Thanh đồng, Thủ nhang, Cung văn): Được trang bị nhận thức khoa học để tự điều chỉnh hành vi thực hành đúng chuẩn mực cổ truyền;
  • Cộng đồng xã hội và du khách: Được tiếp cận nguồn thông tin minh bạch, chuẩn xác, nâng cao năng lực thẩm mỹ và thụ hưởng văn hóa tâm linh.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đóng góp độc đáo nhất là việc chuẩn hóa khái niệm "Tuyên truyền giá trị văn hóa của tín ngưỡng" trong khuôn khổ công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Luận án đã mở rộng Lý thuyết công tác tư tưởng từ phạm vi chính trị thuần túy sang lĩnh vực văn hóa tinh thần, chứng minh rằng công tác tư tưởng có thể đóng vai trò định hướng, thanh lọc và nâng cao các giá trị văn hóa tín ngưỡng bản địa thành nguồn lực nội sinh phát triển đất nước.

2. Điểm mới về mặt phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây? So với Maurice Durand (1959) thuần túy quan sát nhân học mô tả và Ngô Đức Thịnh (2001) tập trung vào văn hóa dân gian, luận án đã thiết lập thiết kế nghiên cứu liên ngành Chính trị học - Xã hội học - Văn bản học. Nghiên cứu kết hợp định lượng quy mô 500 mẫu khảo sát thực địa với việc đối chiếu hơn 60 thư tịch Hán Nôm và quan sát tham dự sâu tại 5 tỉnh, thành phố trọng điểm.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì? Phát hiện bất ngờ nhất là sự đối nghịch giữa mức độ tự hào di sản và hiểu biết thực chất: Việc UNESCO vinh danh năm 2016 tạo ra hiệu ứng bùng nổ về số lượng thực hành nhưng lại làm gia tăng nguy cơ thương mại hóa và sai lệch nghi thức, do khoảng trống trong công tác tuyên truyền định hướng giá trị cho đội ngũ đồng thầy cơ sở.

4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (replication protocol) không? Có. Hệ thống 500 phiếu khảo sát với các thang đo thái độ, bảng mã hóa dữ liệu, danh mục địa bàn điền dã và quy trình phỏng vấn sâu được xây dựng minh bạch, cho phép các nhà nghiên cứu khác tái lập và kiểm chứng độc lập trên các địa bàn văn hóa khác.

5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình ra sao? Luận án phác thảo chương trình nghiên cứu tiếp nối gồm 3 trụ cột: (1) Chuyển đổi số trong truyền thông di sản tín ngưỡng thờ Mẫu; (2) Giám sát biến đổi văn hóa tín ngưỡng trong bối cảnh đô thị hóa nhanh vùng châu thổ Bắc Bộ; (3) Xây dựng bộ chỉ số văn hóa đánh giá tính chuẩn mực trong thực hành di sản phi vật thể.

Kết luận

  1. Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tuyên truyền GTVH của TNTM, khẳng định TNTM là thành tố văn hóa tinh thần bản địa đặc sắc tôn vinh người Mẹ và truyền thống yêu nước.
  2. Khảo sát thực chứng sâu rộng tại 5 địa phương ĐBBB, bóc tách thực trạng hoạt động tuyên truyền giai đoạn 2012–2019 và nhận diện chính xác các nguy cơ lệch chuẩn, thương mại hóa.
  3. Xác lập vai trò trung tâm của mạng lưới đồng thầy, thủ nhang như những chủ thể truyền thông văn hóa trực tiếp cần được bồi dưỡng và định hướng.
  4. Đề xuất hệ thống quan điểm và 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, tuyên truyền GTVH trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
  5. Mở ra hướng tiếp cận liên ngành mới giữa khoa học chính trị và nhân học văn hóa, đóng góp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ việc bảo tồn bền vững di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.