Luận án nghiên cứu nhân sinh quan Phật giáo trong Truyện Kiều của Nguyễn Du - Giá trị và hạn chế
"Phân tích sâu sắc quan niệm nhân sinh Phật giáo qua Truyện Kiều của Nguyễn Du, luận án khám phá tư tưởng triết học Phật giáo trong tác phẩm kinh điển."
Số trang
158
Thời gian đọc
24 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan nhân sinh quan Phật giáo trong Truyện Kiều
- Số trang:
- 158 trang
- Chuyên ngành:
- Triết học
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan nhân sinh quan Phật giáo trong Truyện Kiều
Tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du phản ánh sâu sắc tư tưởng Phật giáo trong Truyện Kiều. Tác phẩm khắc họa bức tranh xã hội phong kiến khủng hoảng cuối thế kỷ 18. Con người bị chà đạp bởi đồng tiền và quyền lực bất công. Tác giả tìm đến giáo lý nhà Phật để lý giải bi kịch kiếp người. Giáo lý từ bi và cứu khổ mang lại điểm tựa tinh thần vững chắc. Nhân sinh quan Phật giáo thấm nhuần qua từng nhân vật và biến cố. Tác phẩm không chỉ kể lại một câu chuyện tình duyên trắc trở. Đây là bản trường ca triết học về kiếp nhân sinh khổ đau. Luận án đi sâu phân tích hệ thống tư tưởng này một cách toàn diện. Nghiên cứu làm sáng tỏ giá trị văn hóa và tư tưởng của kiệt tác thi ca.
1.1. Bối cảnh tiếp nhận triết lý nhân sinh Nguyễn Du
Nguyễn Du sống trong thời kỳ lịch sử đầy biến động và bão táp. Xã hội phong kiến suy tàn bộc lộ nhiều bất công tàn bạo. Nỗi đau nhân thế thôi thúc việc định hình triết lý nhân sinh Nguyễn Du. Ông tiếp thu tinh hoa văn hóa truyền thống kết hợp giáo lý nhà Phật. Đạo Phật vào Việt Nam từ thế kỷ thứ nhất và gắn bó mật thiết với người dân. Giáo lý nhà Phật trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn thi hào họ Nguyễn. Thế giới quan Phật giáo giúp tác giả nhìn nhận thấu đáo bản chất con người. Tình thương bao la hướng về những kiếp người nhỏ bé và bất hạnh. Hoàn cảnh sống tạo tiền đề vững chắc cho việc tiếp nhận tư tưởng từ bi.
1.2. Thuyết luân hồi và duyên khởi trong cấu trúc tác phẩm
Cấu trúc tác phẩm vận động theo thuyết luân hồi và duyên khởi chặt chẽ. Mọi sự vật và hiện tượng đều liên kết qua mối quan hệ nhân duyên. Gặp gỡ hay chia ly không phải là sự ngẫu nhiên vô cớ. Cuộc gặp gỡ giữa Thúy Kiều và Kim Trọng khởi đầu cho chuỗi nhân duyên định mệnh. Cuộc đời lưu lạc mười lăm năm phản ánh vòng quay luân hồi chìm nổi. Vòng xoáy sinh tử và nghiệp quả cuốn lấy số phận từng nhân vật. Mỗi hành động gieo rắc đều trở thành nguyên nhân cho quả báo tương lai. Tư tưởng duyên khởi giải thích quy luật tương tác giữa các mối quan hệ xã hội. Kết cấu tác phẩm phản ánh sinh động dòng chảy biến dịch của cuộc đời.
1.3. Cơ sở hình thành nhân sinh quan Phật giáo thời trung đại
Phật giáo dung hòa sâu sắc với tín ngưỡng dân gian của người Việt. Tinh thần cứu nhân độ thế tạo nên sức sống bền bỉ qua ngàn năm. Văn học trung đại tiếp nhận Phật giáo như một nguồn cảm hứng nhân đạo. Xã hội khủng hoảng khiến con người tìm kiếm sự an ủi tâm linh. Giáo lý nghiệp báo và giải thoát đáp ứng nhu cầu tâm lý thời đại. Nguyễn Du kế thừa truyền thống Phật học của tổ tiên và thời cuộc. Ông vận dụng linh hoạt giáo lý nhà Phật vào sáng tác văn chương. Nhân sinh quan trong tác phẩm mang đậm hơi thở cuộc sống trần thế. Đây là nền tảng triết học vững chắc nâng tầm giá trị kiệt tác thi ca.
II. Thuyết nhân quả nghiệp báo Truyện Kiều của Nguyễn Du
Thuyết nhân quả nghiệp báo Truyện Kiều là trục tư tưởng cốt lõi của tác phẩm. Nguyễn Du dùng luật nhân quả để giải thích mọi biến thiên của số phận. Gieo nhân lành gặt quả ngọt, gieo nghiệp ác chịu trừng phạt thích đáng. Tác phẩm xây dựng bức tranh công lý rõ ràng giữa cõi đời đầy oan trái. Kẻ thủ ác như Mã Giám Sinh, Tú Bà hay Bạc Bà đều nhận kết cục bi thảm. Người sống thiện lương như Thúy Kiều cuối cùng cũng tìm thấy sự thanh thản. Quy luật nghiệp báo không chỉ là giáo điều tôn giáo trừu tượng. Đó là niềm tin của nhân dân vào lẽ công bằng ở đời. Tác giả khẳng định quy luật đạo đức tất yếu chi phối toàn bộ nhân sinh.
2.1. Thuyết nhân quả nghiệp báo Truyện Kiều qua số phận nhân vật
Cuộc đời mỗi nhân vật thể hiện rõ thuyết nhân quả nghiệp báo Truyện Kiều. Thúy Kiều chịu nỗi oan khiên do nghiệp chướng tiền định và món nợ trần gian. Nàng chấp nhận hy sinh chữ tình để trọn vẹn chữ hiếu thiêng liêng. Hành động bán mình cứu cha là căn nguyên gieo mầm phúc đức về sau. Ngược lại, nhóm buôn thịt bán người chuốc lấy quả báo nhãn tiền tàn khốc. Từ Hải vì trung dũng hy sinh nhưng danh tiếng vẫn lưu truyền bất diệt. Hoạn Thư nhờ chút khôn ngoan và biết hướng thiện nên thoát khỏi họa sát thân. Tác phẩm miêu tả sinh động quá trình vận hành nghiêm ngặt của luật nhân quả. Số phận nhân vật là minh chứng sống động cho quy luật đạo đức này.
2.2. Mối quan hệ giữa chữ Mệnh và chữ Nghiệp trong Truyện Kiều
Tác phẩm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa chữ Mệnh và chữ Nghiệp trong Truyện Kiều. Chữ Mệnh biểu thị sự an bài của hoàn cảnh và trời đất. Chữ Nghiệp nhấn mạnh vào hành vi đạo đức và ý chí chủ quan con người. Nguyễn Du không nhìn nhận số phận theo hướng định mệnh thụ động và bế tắc. Nghiệp do chính thân, khẩu, ý của con người tự tay tạo dựng nên. Con người hoàn toàn có khả năng cải biến nghiệp chướng bằng nỗ lực tu dưỡng. Kiều chịu khổ ải nhưng tâm hồn luôn giữ trọn lòng trinh bạch và hướng thiện. Nàng chủ động chuyển hóa nghiệp dữ thành nghiệp lành qua hành động cứu đời. Triết lý này đem lại niềm hy vọng lớn lao cho những kiếp người cùng khổ.
2.3. Quy luật vay trả và bài học đạo đức xã hội
Quy luật vay trả vận hành công bằng và không bỏ sót bất kỳ ai. Mọi món nợ danh lợi, ân oán đều phải hoàn trả sòng phẳng giữa đời. Bức tranh báo ân báo oán thể hiện khát vọng công lý cháy bỏng. Nhân dân thời phong kiến luôn gửi gắm niềm tin vào lẽ công bằng tối thượng. Quy luật này thức tỉnh lương tri của những kẻ đang lầm đường lạc lối. Lối sống tham lam, ích kỷ ắt dẫn đến vực thẳm diệt vong tàn nhẫn. Việc tu nhân tích đức đem lại sự bình an đích thực cho tâm hồn. Bài học nghiệp báo nhắc nhở con người sống trách nhiệm và chân thành. Đây là nền tảng xây dựng chuẩn mực đạo đức bền vững cho cộng đồng.
III. Quan niệm chữ Tâm trong Truyện Kiều và sự giải thoát
Tác phẩm khẳng định vị trí tối thượng của chữ Tâm trong cuộc sống nhân loại. Quan niệm chữ Tâm trong Truyện Kiều là đỉnh cao triết lý nhân sinh Nguyễn Du. Chữ Tâm đại diện cho lòng từ bi, sự vị tha và đạo đức trong sáng. Tài năng lớn lao nhưng thiếu vắng cái Tâm sẽ dễ dẫn đến tai họa khôn lường. Chữ Tâm có sức mạnh to lớn hơn mọi định mệnh nghiệt ngã ở đời. Tác giả đặt cái Tâm lên trên tài năng và danh vị thế tục. Tấm lòng nhân hậu giúp con người đứng vững trước giông bão cuộc đời. Đây là ngọn đèn soi sáng con đường vượt qua khổ ải trầm luân. Tác phẩm hướng con người vươn tới giá trị chân thiện mỹ cao đẹp.
3.1. Ý nghĩa sâu sắc của quan niệm chữ Tâm trong Truyện Kiều
Nguyễn Du đúc kết chân lý bất hủ về quan niệm chữ Tâm trong Truyện Kiều. Thi hào khẳng định chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài rực rỡ. Cái Tâm là cội nguồn của mọi phẩm hạnh và giá trị nhân cách cao quý. Thúy Kiều vượt qua bao nhục nhã nhờ giữ vẹn tấm lòng trong sạch. Nàng luôn xót thương cho số phận của người khác trước nỗi đau của chính mình. Lòng trắc ẩn biến đau thương thành động lực sống thanh cao và kiên cường. Cái Tâm là điểm tựa vững chắc nâng đỡ nhân cách con người trước cám dỗ. Triết lý này đề cao giá trị đạo đức cao thượng hơn hẳn danh lợi phù phiếm. Đây là tinh hoa triết học Phật giáo được khúc xạ qua lăng kính văn học.
3.2. Vai trò chữ Tâm trong việc hoán cải số mệnh nghiệt ngã
Cái Tâm có khả năng chuyển hóa vận mệnh và giải trừ mọi nghiệp chướng sâu dày. Định mệnh khắc nghiệt không thể hủy hoại một linh hồn lương thiện và trong sáng. Kiều gánh chịu khổ nạn mười lăm năm nhưng tâm tính không hề vấy bẩn. Sự hiếu thảo và lòng nhân ái đã hoán cải số phận bi kịch của nàng. Nàng tích tụ phúc đức lớn lao qua từng hành động hy sinh cao cả. Đoạn kết đoàn viên là phần thưởng xứng đáng cho người giữ vẹn chữ Tâm. Tu tâm dưỡng tính chính là chìa khóa mở ra cánh cửa hạnh phúc đích thực. Tư tưởng này khẳng định sức mạnh tự chủ và tinh thần bất khuất của con người.
3.3. Giác ngộ và giải thoát trong Đoạn trường tân thanh
Quá trình giác ngộ và giải thoát trong Đoạn trường tân thanh diễn ra qua thử thách. Nỗi đau trần thế trở thành lò luyện giúp thanh lọc tâm hồn con người. Kiều tìm đến cửa Phật như một nơi nương tựa bình yên và thanh tịnh. Hình tượng sư Giác Duyên đại diện cho ánh sáng cứu rỗi và trí tuệ giải thoát. Hành động cứu Kiều tại sông Tiền Đường mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Đó là khoảnh khắc con người rũ bỏ bụi trần và vượt qua bể khổ trầm luân. Sự giải thoát ở đây không đơn thuần là xuất gia lánh đời tịch mịch. Đó là sự giải thoát trong tâm hồn ngay giữa cuộc sống trần thế nhiều sóng gió.
IV. Nghiệp duyên số phận nàng Kiều và tư tưởng sắc không
Tác phẩm khắc họa sâu sắc nghiệp duyên số phận nàng Kiều suốt mười lăm năm lưu lạc. Cuộc đời nàng là chuỗi ngày dài chìm nổi trong bể khổ trần gian vô tận. Tư tưởng sắc sắc không không giải thích bản chất biến ảo của danh vọng và sắc tài. Mọi vinh hoa phú quý chỉ như áng mây trôi bồng bềnh thoáng chốc. Sắc đẹp tuyệt trần hay tài năng xuất chúng đều phải chịu quy luật vô thường khắc nghiệt. Nguyễn Du nhìn thấu quy luật vận động của vạn vật qua lăng kính Phật pháp. Cuộc đời là cõi tạm đầy ắp những nghịch cảnh và ảo mộng phù du. Con người cần thấu hiểu chân lý để vượt qua mọi chấp niệm u mê trần thế.
4.1. Nghiệp duyên số phận nàng Kiều qua mười lăm năm lưu lạc
Mười lăm năm lưu lạc là hiện thân rõ nét của nghiệp duyên số phận nàng Kiều. Nàng bước vào dòng đời với bao nỗi oan khuất và cay đắng tột cùng. Từ lầu xanh nhơ nhuốc đến chốn quan trường quyền uy, nơi đâu cũng đầy hiểm nguy. Nàng nếm trải đủ mùi vị của sự phản bội, lừa lọc và bạo lực tàn bạo. Mỗi chặng đường lưu lạc đều gắn liền với một món nợ tiền duyên phải trả. Nàng chấp nhận gánh vác tai ương để cứu giúp gia đình qua cơn nguy biến. Sự kiên cường giúp nàng giữ vững phẩm giá giữa bùn lầy nhơ nhớp của xã hội. Cuộc đời Kiều là bài ca bi tráng về sức chịu đựng phi thường của người phụ nữ.
4.2. Tư tưởng sắc sắc không không phản ánh lẽ vô thường
Tác phẩm thể hiện nhuần nhuyễn tư tưởng sắc sắc không không của triết học Phật giáo. Vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành rồi cũng phai tàn theo năm tháng trôi nhanh. Tiền tài, quyền uy của Từ Hải phút chốc tan thành mây khói hư ảo. Danh lợi trần tục không thể mang lại sự bình yên vĩnh cửu cho kiếp người. Vô thường là quy luật tất yếu chi phối toàn bộ cõi nhân sinh hữu hạn. Nhận thức được lẽ sắc không giúp con người buông bỏ tham sân si mù quáng. Con người không còn bi lụy trước những mất mát và thăng trầm của đời sống. Triết lý vô thường mang lại sự an nhiên và thanh thản tuyệt đối cho tâm hồn.
4.3. Sự giác ngộ chân lý sau những biến cố thăng trầm
Sau giông bão cuộc đời, con người đạt đến sự giác ngộ chân lý sâu sắc. Kiều nhận ra danh lợi và ái ân trần tục chỉ là ảo ảnh phù du. Cuộc tái hợp cùng Kim Trọng chuyển hóa thành tình bạn tri kỷ thanh cao. Sự thay đổi này phản ánh đỉnh cao của nhận thức giác ngộ và buông xả. Nàng không còn vướng bận vào những dục vọng hay oán thù xưa cũ đã qua. Tâm hồn nàng trở nên tĩnh lặng như mặt nước hồ mùa thu phẳng lặng. Sự thấu hiểu quy luật vũ trụ giúp con người sống chan hòa với thực tại. Đây là cái kết nhân văn và đậm chất triết lý Phật giáo của tác phẩm.
V. Từ bi bác ái trong văn học trung đại qua Truyện Kiều
Truyện Kiều là đỉnh cao của tinh thần từ bi bác ái trong văn học trung đại. Tác phẩm cất lên tiếng kêu thương da diết cho số phận con người bất hạnh. Nguyễn Du dành tình cảm trân trọng đặc biệt đối với người phụ nữ tài sắc bạc mệnh. Tấm lòng nhân đạo của tác giả vượt qua mọi ranh giới tư tưởng phong kiến hẹp hòi. Tác phẩm lên án đanh thép sự tàn bạo của xã hội đồng tiền vô nhân đạo. Tinh thần Phật giáo trở thành vũ khí tư tưởng bảo vệ quyền sống con người. Tình thương bao la ôm trọn cả những mảnh đời lầm lỡ và cơ hàn nhất. Giá trị nhân văn cao cả làm nên sức sống vĩnh cửu của kiệt tác thi ca.
5.1. Tinh thần từ bi bác ái trong văn học trung đại Việt Nam
Tinh thần từ bi bác ái trong văn học trung đại bắt nguồn từ đạo lý dân tộc. Tư tưởng Phật giáo làm phong phú và sâu sắc thêm truyền thống nhân văn ấy. Nguyễn Du nhìn nhận con người bằng con mắt từ bi và tấm lòng bao dung rộng mở. Ông không phán xét nhân vật bằng định kiến đạo đức phong kiến khắt khe cổ hủ. Tác giả đồng cảm sâu sắc với nỗi đau thể xác và tinh thần của nàng Kiều. Tình thương nhân ái trải rộng đến cả những vong hồn bơ vơ không nơi nương tựa. Tư tưởng từ bi thúc đẩy việc xây dựng một xã hội hòa ái và nhân văn. Đây là đóng góp to lớn của Phật giáo vào nền văn học nước nhà.
5.2. Giá trị nhân bản và tiếng nói bênh vực con người
Tác phẩm khẳng định mạnh mẽ giá trị nhân bản và quyền sống của con người. Con người có quyền được yêu thương, được tôn trọng và hưởng hạnh phúc trọn vẹn. Nguyễn Du phê phán gay gắt những hủ tục phong kiến chà đạp phẩm giá nhân tính. Ông vạch trần bộ mặt xấu xa của tầng lớp quan lại tham lam và tàn bạo. Tiếng nói bênh vực người yếu thế vang lên dõng dạc qua từng câu thơ lục bát. Tinh thần nhân văn Phật giáo soi đường cho cuộc đấu tranh vì công lý xã hội. Tác phẩm khơi dậy khát vọng giải phóng con người khỏi áp bức và bất công. Giá trị nhân bản tỏa sáng rực rỡ và vượt qua mọi giới hạn thời gian.
5.3. Bài học đạo đức và ý nghĩa thực tiễn cho đời sống hiện đại
Nhân sinh quan Phật giáo trong tác phẩm mang ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn. Xã hội hiện đại đang đối mặt với nguy cơ suy thoái đạo đức và lối sống thực dụng. Triết lý chữ Tâm nhắc nhở con người giữ gìn sự trong sạch và tính trung thực. Lòng từ bi giúp gắn kết cộng đồng và đẩy lùi bạo lực cùng sự vô cảm. Luật nhân quả cảnh tỉnh con người trước những hành vi tham nhũng và phi pháp. Tác phẩm trở thành cẩm nang giáo dục nhân cách quý báu cho mọi thế hệ. Việc nghiên cứu tư tưởng tác phẩm góp phần xây dựng nền văn hóa lành mạnh. Giá trị đạo đức trường tồn tiếp tục soi sáng con đường phát triển bền vững.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (158 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộMỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7 1. Tình hình nghiên cứu 7 1. Một số vấn đề đặt ra qua các công trình nghiên cứu 25 Chương 2: NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO 28 2. Cơ sở hình thành nhân sinh quan Phật giáo 28 2.
Nội dung nhân sinh quan Phật giáo 39 Chương 3: NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO TRONG “TRUYỆN KIỀU” CỦA NGUYỄN DU 59 3. Khái lược chung về cuộc đời của Nguyễn Du và “Truyện Kiều” 59 3. Nội dung Nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du 71 Chương 4: MỘT SỐ GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA VIỆC NGHIÊN CỨU NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO TRONG “TRUYỆN KIỀU” CỦA NGUYỄN DU 101 4. Một số giá trị của nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” 101 4.
Một số hạn chế của nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du 116 4. Ý nghĩa việc nghiên cứu nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du 126 KẾT LUẬN 145 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 149 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới được du nhập vào nước ta vào khoảng thế kỷ I. Mặc dù là một tôn giáo ngoại sinh nhưng Phật giáo đã sớm khẳng định mình và tìm được chỗ đứng vững chắc trong đời sống tinh thần cũng như trong nhiều hoạt động văn hoá xã hội khác của người Việt Nam.
Để có thể nhanh chóng xác lập được vị thế của mình trong đời sống xã hội Việt Nam, tất nhiên bên cạnh việc lựa chọn con đường, cách thức truyền bá phù hợp với tâm lý, truyền thống của người Việt thì không thể không nhắc đến nội dung giáo lý của nhà Phật. Với tinh thần từ, bi, hỉ, xả của mình, Phật giáo đã tạo nên sự khác biệt với những hệ tư tưởng cùng thời được người Hán truyền bá vào Việt Nam. Nếu như Nho giáo phải mất một thời gian khá dài khi mà xã hội Việt Nam đã tương đối phát triển mới được trọng dụng thì Phật giáo ngay từ khi du nhập vào Việt Nam đã nhanh chóng hoà mình vào nền văn hoá của người bản địa bằng những câu chuyện thần thoại mang tính nhân văn cao cả (ông Bụt tốt bụng, thương, giúp người lương thiện khi gặp hoàn cảnh khó khăn…). Chúng ta biết rằng Phật giáo không đơn thuần là một tôn giáo với hệ thống thần linh và nghi lễ thờ cúng của mình, mà nó còn là một học thuyết triết học tương đối thâm sâu.
Trong những tư tưởng triết học đó, ngoài sự lý giải về quan niệm sống của con người thì Phật giáo đã dành rất nhiều nội dung cho những vấn đề liên quan đến con người, đến cuộc đời của con người (nhân sinh quan). Có thể khẳng định rằng, những tư tưởng Phật giáo ảnh hưởng sâu đậm trong xã hội và con người Việt Nam đa phần và chủ yếu là những quan niệm xoay quanh vấn đề về con người và cuộc đời con người (nhân sinh quan). 2 Những quan niệm này cùng với thời gian đã không ngừng thấm sâu vào hành vi, lời nói, sinh hoạt hàng ngày của người Việt (những quan niệm về thiện ác, về nhân quả và nghiệp báo, khuyên con người làm lành lánh dữ…). Không những vậy, nó còn ảnh hưởng tới cả những chuẩn mực xã hội được cộng đồng thừa nhận, ảnh hưởng đến pháp luật của nhà nước, ảnh hưởng tới văn học nghệ thuật, tới không gian kiến trúc… của người Việt Nam.
Nói cách khác, Phật giáo đã trở thành một phần không thể thiếu trong nền văn hoá mang đậm bản sắc của người Việt Nam. Trong sự ảnh hưởng của Phật giáo tới văn học nghệ thuật Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc tới một tác phẩm bất hủ của Nguyễn Du, đó là “Truyện Kiều”. Đọc “Truyện Kiều” của Nguyễn Du có thể thấy rõ sự khủng hoảng của xã hội phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, thấy được cuộc sống của con người (đặc biệt là những người phụ nữ) bị chà đạp và xâm hại nặng nề. Với Nguyễn Du, đằng sau câu chuyện về cuộc đời của Thuý Kiều là những day dứt, những băn khoăn, những niềm mong ước về một cuộc sống hạnh phúc bình yên của mỗi con người.
Có thể cảm nhận được những ảnh hưởng sâu sắc mà Nguyễn Du đã tiếp nhận từ Phật giáo mà cụ thể là nhân sinh quan Phật giáo thông qua khái niệm nhân quả, nghiệp báo, tâm… thể hiện trong cuộc đời của Thuý Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, Mã Giám Sinh…. Truyện Kiều không chỉ dừng lại là một tác phẩm văn học đơn thuần phản ánh tình hình xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX mà những vấn đề do nó đặt ra vẫn không hề lạc hậu đối với xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thị trường đã nảy sinh rất nhiều các vấn đề liên quan đến con người và xã hội, đặc biệt là các vấn đề về đạo đức. Đó là sự thống trị của đồng tiền, coi đồng tiền là trên hết trong lối sống thực dụng của một số cá nhân.
Vì tiền họ sẵn sàng xâm hại các chuẩn 3 mực đạo đức của xã hội, các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những hình ảnh Mã Giám Sinh, Tú Bà, Bạc Hà, Bạc Hạnh, Khuyển, Ưng… xuất hiện ngày càng nhiều trong xã hội. Sự xuống cấp và băng hoại về đạo đức không chỉ diễn ra trong dân chúng mà còn xuất hiện ở một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý của nhà nước (giống như hình ảnh những tên quan lại phong kiến đã trực tiếp hoặc gián tiếp đẩy Thúy Kiều và gia đình của mình vào khó khăn hoạn nạn) với tình trạng tham nhũng, cửa quyền và vô cảm trước nhân dân. Trong Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Đảng ta đã khẳng định: Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách. Xây dựng và phát huy lối sống "Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người"; kết hợp hài hòa tính tích cực cá nhân và tính tích cực xã hội; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình và xã hội.
Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn. Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người [21]. Chính vì vậy, việc phân tích và vận dụng tư tưởng tích cực về đạo đức, tôn giáo trong các tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung, tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du nói riêng để khuyến khích con người làm việc thiện, tránh xa việc ác, tự chịu trách nhiệm với những hành vi cá nhân của bản thân… từ đó góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp, lành mạnh hơn, hướng con người đến giá trị chân - thiện - mỹ là việc làm hết sức cần thiết. 4 Với tính cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn như vậy, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du - Giá trị và hạn chế” làm đề tài luận án tiến sĩ triết học của mình.
Mục đích và nhiệm vụ của luận án 2. Mục đích Phân tích nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du và những giá trị, hạn chế của nó. Nhiệm vụ - Trình bày cơ sở hình thành cũng như nội dung của nhân sinh quan Phật giáo thể hiện trong quan niệm về nghiệp báo, nhân quả. - Trình bày và chỉ ra nhân sinh quan Phật giáo qua quan niệm về nghệp báo và nhân quả trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
- Chỉ ra những giá trị và hạn chế của nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du; ý nghĩa của việc nghiên cứu này. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu: nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Phạm vi nghiên cứu: luận án giới hạn việc phân tích nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du chỉ trên khía cạnh thuyết nhân quả, nghiệp báo trong “Truyện Kiều”.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4. Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc kế thừa có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại và những giá trị truyền thống của dân tộc. Phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, ngoài ra còn sử dụng các phương pháp như: lịch sử - cụ thể, hệ thống hóa, phân tích và tổng hợp, so sánh, thống kê, văn bản học. 5 Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra thì luận án có sự kết hợp giữa các phương pháp trong từng chương, mục của luận án, trong đó, phương pháp phân tích và tổng hợp là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong luận án.
Cụ thể: - Ở mục 1.1 chương 1, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và tổng hợp để đưa ra đánh giá về tình hình nghiên cứu của luận án. - Ở chương 2, tác giả dùng phương pháp lịch sử - cụ thể, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê để chỉ ra cơ sở hình thành và phát triển của Phật giáo, quan niệm về nghiệp, nhân quả và luân hồi trong nhân sinh quan Phật giáo. - Ở chương 3, tác giả dùng phương pháp lịch sử - cụ thể, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp văn bản học đối với “Truyện Kiều” và tiểu sử Nguyễn Du cùng các quan niệm về nghiệp báo, nhân quả trong “Truyện Kiều”. - Chương 4, tác giả sử dụng phương pháp lịch sử - cụ thể, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp văn bản học để đưa ra những đánh giá về giá trị và hạn chế của quan niệm nhân quả, nghiệp báo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Luận án nhân sinh quan Phật giáo trong Truyện Kiều (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/nghien-cuu-van-hoa/ton-giao-hoc/luan-an-nhan-sinh-quan-phat-giao-trong-truyen-kieu-cua-nguyen-du
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án nhân sinh quan Phật giáo trong Truyện Kiều" nghiên cứu về vấn đề gì?
"Phân tích sâu sắc quan niệm nhân sinh Phật giáo qua Truyện Kiều của Nguyễn Du, luận án khám phá tư tưởng triết học Phật giáo trong tác phẩm kinh điển."
Luận án "Luận án nhân sinh quan Phật giáo trong Truyện Kiều" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án nhân sinh quan Phật giáo trong Truyện Kiều" thuộc chuyên ngành Triết học. Danh mục: Tôn Giáo Học.
Luận án "Luận án nhân sinh quan Phật giáo trong Truyện Kiều" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án nhân sinh quan Phật giáo trong Truyện Kiều" có 158 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án nhân sinh quan Phật giáo trong Truyện Kiều" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.