Luận án nghiên cứu quá trình du nhập và phát triển tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng (1900-2018)
Tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng giai đoạn thế kỷ XX đến 2018. Khám phá lịch sử, đặc điểm và biến đổi văn hóa trong nghiên cứu chi tiết.
Luan An
Luận án
Số trang
320
Thời gian đọc
48 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
60 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng thế kỷ XX
- Số trang:
- 320 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng thế kỷ XX
Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng là một hiện tượng văn hóa tâm linh đặc sắc. Tín ngưỡng hình thành và phát triển từ đầu thế kỷ XX đến năm 2018. Đây là quá trình tiếp biến văn hóa sâu sắc giữa các vùng miền. Sự xuất hiện của tục thờ gắn liền với các đợt di dân lịch sử. Người dân mang theo niềm tin tâm linh lên vùng đất mới. Nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn cảnh về hệ thống thờ tự và thực hành tâm linh. Toàn bộ đời sống tín ngưỡng được tái hiện mạch lạc qua từng thời kỳ lịch sử. Các dữ liệu phản ánh rõ nét sự hội nhập văn hóa của cộng đồng người Việt. Tín ngưỡng đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân địa phương. Di sản này khẳng định sức sống bền bỉ trong dòng chảy văn hóa dân tộc. Không gian tâm linh góp phần cố kết cộng đồng cư dân vùng cao nguyên.
1.1. Cơ sở lý luận và điều kiện tự nhiên dân cư
Nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng dựa trên nền tảng phương pháp lịch sử và logic. Khung lý thuyết phân tích mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và đời sống tâm linh. Điều kiện tự nhiên cao nguyên Lang Biang tạo nên những nét đặc thù về sinh hoạt văn hóa. Địa hình đồi núi hiểm trở và khí hậu mát mẻ tác động đến lối sống của cư dân. Quá trình định cư của các nhóm dân cư từ miền Bắc và miền Trung thúc đẩy giao thoa văn hóa. Mật độ dân số tăng nhanh kéo theo nhu cầu xây dựng các cơ sở thờ tự Mẫu. Sự thích ứng của tín ngưỡng với hoàn cảnh địa phương diễn ra mạnh mẽ. Yếu tố địa lý và nhân khẩu học trở thành tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tín ngưỡng.
1.2. Phương pháp tiếp cận điền dã dân tộc học
Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng được kết hợp chặt chẽ. Hướng tiếp cận điền dã dân tộc học đóng vai trò trung tâm trong việc thu thập tư liệu. Quan sát tham dự tập trung vào các nghi lễ lên đồng tại đền, điện và phủ. Phỏng vấn sâu được thực hiện trực tiếp với các thanh đồng và đồng đền cao niên. Con nhang đệ tử và các nhà quản lý văn hóa địa phương cũng cung cấp nhiều dữ liệu quý giá. Dữ liệu thực địa giúp tái hiện chính xác không gian thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Phương pháp thống kê định lượng phân loại chi tiết số lượng và quy mô các điểm thờ tự. Sự kết hợp này mang lại cái nhìn khách quan và khoa học về đời sống tín ngưỡng.
II. Giai đoạn du nhập tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng 1975
Giai đoạn trước năm 1975 ghi nhận sự du nhập đầu tiên của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng. Tục thờ xuất hiện tại cao nguyên Lang Biang vào giữa những năm 20 của thế kỷ XX. Hai luồng văn hóa thờ Mẫu từ miền Bắc và miền Trung du nhập gần như đồng thời. Số lượng cơ sở thờ Mẫu ban đầu còn khá khiêm tốn. Toàn tỉnh ghi nhận khoảng 34 cơ sở thờ tự qua khảo sát và ký ức thanh đồng cao niên. Các cơ sở này tập trung chủ yếu tại Đà Lạt, Đơn Dương và Bảo Lộc. Người di cư mang theo truyền thống thờ Mẫu để cầu bình an và may mắn nơi đất khách. Nghi lễ ban đầu tổ chức quy mô nhỏ trong gia đình hoặc dòng họ. Sự hiện diện của các đền điện tạo nền móng vững chắc cho sinh hoạt tín ngưỡng về sau.
2.1. Quá trình xuất hiện trên cao nguyên Lang Biang
Tín ngưỡng thờ Mẫu theo chân các đợt di dân đến khai phá vùng đất cao nguyên Lâm Đồng. Những năm 1920 đánh dấu bước khởi đầu của các hoạt động thờ phụng tâm linh người Việt. Người dân lập am, miếu nhỏ để thờ Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và Mẫu Liễu Hạnh. Dạng thức thờ Mẫu miền Bắc với hệ thống Tam phủ Tứ phủ phát triển song hành cùng dạng thức miền Trung. Sự thích nghi với không gian rừng núi Lang Biang tạo nên sự gắn kết tâm linh thiêng liêng. Các cơ sở thờ tự xuất hiện rải rác quanh các đồn điền, khu dân cư mới lập. Thanh đồng và con nhang duy trì nghi lễ thờ cúng trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn. Hoạt động này tạo điểm tựa tinh thần vững chắc cho người dân xa xứ.
2.2. Vai trò lịch sử của tổ chức Việt Nam Thánh Mẫu hội
Sự thành lập Việt Nam Thánh Mẫu hội là mốc son quan trọng của tín ngưỡng thời kỳ này. Trụ sở Tổng hội đặt tại Đền Việt Nam Thánh Mẫu trên đường Ngô Quyền, thành phố Đà Lạt. Tổ chức ra đời giúp quy tụ đông đảo tín đồ và chuẩn hóa nghi lễ thờ Mẫu. Hoạt động của Hội tạo động lực thúc đẩy tín ngưỡng phát triển mạnh mẽ khắp miền Nam. Số lượng thực hành tín ngưỡng và các vấn hầu gia tăng rõ rệt. Đền đón tiếp nhiều thanh đồng và con nhang từ Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Sài Gòn. Mạng lưới kết nối tâm linh giữa Lâm Đồng và các tỉnh lân cận được mở rộng nhanh chóng. Tổ chức thể hiện tính liên kết cộng đồng cao trong sinh hoạt tâm linh người Việt.
III. Phát triển cơ sở tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng 2018
Từ năm 1976 đến 2018, hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng trải qua nhiều chuyển biến sâu sắc. Giai đoạn 1976 - 1990 chứng kiến sự biến động lớn do hoàn cảnh lịch sử và xã hội. Việc thờ tự thời kỳ này mang tính cầm chừng tại các hộ tư gia. Sau năm 1991, chính sách đổi mới tín ngưỡng tôn giáo của Nhà nước tạo bước ngoặt lớn. Kinh tế ổn định giúp người dân có điều kiện phục hồi và mở rộng các đền điện. Hệ thống cơ sở thờ tự phát triển bùng nổ trên toàn địa bàn tỉnh. Tính đến năm 2018, toàn tỉnh Lâm Đồng có 144 cơ sở thờ Mẫu tại 12/12 huyện thị. Nghi lễ lên đồng và các thực hành văn hóa tâm linh diễn ra sôi nổi và thường xuyên hơn.
3.1. Chuyển biến giai đoạn 1976 đến 1990
Sau năm 1975, đời sống kinh tế xã hội có nhiều thay đổi tác động đến sinh hoạt tín ngưỡng. Trong giai đoạn 1976 - 1990, toàn tỉnh chỉ thành lập mới được 17 cơ sở thờ Mẫu. Hoạt động thờ Mẫu bước vào thời kỳ khó khăn do chính sách quản lý văn hóa bấy giờ. Nhiều nơi tiến hành thu tượng thánh, bát hương hoặc dỡ bỏ các ban thờ công cộng. Các thực hành nghi lễ lên đồng bị hạn chế và phải diễn ra kín đáo tại tư gia. Thanh đồng và con nhang thực hiện việc cúng lễ trong phạm vi nội bộ gia đình. Mặc dù gặp nhiều trở ngại, ngọn lửa tín ngưỡng vẫn được gìn giữ âm thầm qua nhiều thế hệ. Sự kiên trì này bảo tồn nền tảng nghi lễ cho giai đoạn phục hưng sau đó.
3.2. Sự bùng nổ số lượng cơ sở thờ Mẫu từ 1991 đến 2018
Giai đoạn 1991 - 2018 ghi nhận sự phát triển vượt bậc của mạng lưới thờ Mẫu tại địa phương. Toàn tỉnh có thêm 93 cơ sở thờ Mẫu mới được xây dựng và tôn tạo khang trang. Chính sách đổi mới tôn giáo tín ngưỡng tạo hành lang thông thoáng cho hoạt động tâm linh. Tổng số 144 cơ sở phủ kín 12 huyện, thành phố thuộc tỉnh Lâm Đồng. Các nghi lễ thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ được tổ chức công khai, bài bản. Quy mô các khóa lễ ngày càng lớn với sự tham gia của đông đảo người dân. Dạng thức thờ Mẫu miền Bắc chiếm số lượng vượt trội so với dạng thức miền Trung. Hoạt động tâm linh trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng.
IV. Giá trị đặc trưng tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng nay
Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng mang đậm tính bản địa và sự dung hợp văn hóa đa dạng. Tín ngưỡng khẳng định vị thế quan trọng trong bức tranh văn hóa tâm linh Việt Nam. Dạng thức thờ Mẫu miền Bắc chiếm ưu thế nhưng dung nạp hài hòa yếu tố miền Trung. Nghi lễ thể hiện lòng tri ân công đức tiền nhân và tình yêu quê hương đất nước. Thực hành lên đồng phản ánh nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo của dân tộc. Bên cạnh các giá trị tích cực, tín ngưỡng vẫn còn một số biểu hiện lệch chuẩn thương mại hóa. Định hướng bảo tồn đúng đắn giúp giữ gìn nét đẹp nguyên bản của di sản. Địa phương cần kết hợp hài hòa giữa tự do tín ngưỡng và quản lý văn hóa nhà nước.
4.1. Bản sắc giao thoa văn hóa Bắc và Trung
Sự song hành giữa dạng thức thờ Mẫu miền Bắc và miền Trung tạo nét đặc sắc riêng biệt. Miền Bắc nổi bật với nghi thức hầu đồng Tam phủ Tứ phủ trang nghiêm và quy củ. Miền Trung mang dấu ấn thờ Thiên Y A Na với cách bài trí và lễ vật phong phú. Hai luồng văn hóa hòa quyện tự nhiên trên đất Lâm Đồng mà không xảy ra xung đột. Bản sắc văn hóa vùng miền được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế hệ di dân. Không gian thờ Mẫu trở thành nơi gắn kết tình đồng hương và lưu giữ ký ức quê hương. Cấu trúc thờ tự tại các đền phủ thể hiện sự tôn trọng truyền thống cội nguồn. Nét giao thoa này làm phong phú thêm di sản văn hóa phi vật thể của địa phương.
4.2. Bảo tồn di sản Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ
Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Công tác bảo tồn tại Lâm Đồng cần gắn liền với việc phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp. Cơ quan quản lý văn hóa địa phương cần tăng cường hướng dẫn các cơ sở thờ tự. Việc tổ chức các nghi lễ lên đồng cần đảm bảo trang nghiêm, lành mạnh và tiết kiệm. Cần ngăn chặn kịp thời các hành vi biến tướng mang tính mê tín dị đoan và thương mại hóa. Nâng cao nhận thức cho các thanh đồng, đồng đền và con nhang đệ tử về giá trị di sản. Sự phối hợp chặt chẽ giữa cộng đồng và chính quyền sẽ bảo vệ bền vững di sản văn hóa.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (320 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộxii TÓM TẮT Luận án là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và tƣơng đối toàn diện về quá trình du nhập và phát triển của tín ngƣỡng thờ Mẫu (TNTM) ở Lâm Đồng từ đầu thế kỷ XX đến năm 2018. Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Các phương pháp nghiên cứu định tính với hƣớng tiếp cận điền dã dân tộc học qua hai hình thức chủ yếu là quan sát - tham dự (đối với thực hành TNTM, đặc biệt là nghi lễ lên đồng tại các cơ sở thờ tự) và phỏng vấn sâu (đối với các đồng đền, thanh đồng, con nhang đệ tử và các nhà quản lý văn hóa địa phƣơng) và phương pháp nghiên cứu định lượng cũng đƣợc sử dụng để thực hiện tốt những nhiệm vụ đặt ra. Trên cơ sở khảo sát toàn diện các cơ sở thờ Mẫu toàn tỉnh, lần đầu tiên bức tranh về TNTM ở Lâm Đồng đƣợc tái hiện trên tất cả các phƣơng diện nhƣ cơ sở thờ tự, sinh hoạt tín ngƣỡng… trong suốt quá trình lịch sử từ đầu thế kỷ XX đến năm 2018.
Nội dung luận án chia làm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Trình bày một số nội dung về cơ sở lý và thực tiễn của luận án; những nét cơ bản nhất về các điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân cƣ tác động đến nội dung nghiên cứu của luận án. Bên cạnh đó, nội dung chƣơng 1 cũng đề cập đến giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu và một số khái niệm đƣợc sử dụng trong luận án. Chƣơng 2: Trình bày những nội dung về quá trình du nhập và phát triển của TNTM ở Lâm Đồng từ đầu thế kỷ XX đến 1975. Nghiên cứu cho thấy tục thờ này xuất hiện trên cao nguyên Lang Biang vào giữa những năm 20 của thế kỷ XX với hai dạng thức thờ Mẫu miền Bắc và miền Trung xuất hiện gần nhƣ đồng thời.
Giai đoạn này, các cơ sở thờ Mẫu xuất hiện ít, con số ghi nhận đƣợc từ thực tế cũng nhƣ qua ký ức của các thanh đồng cao niên là 34 cơ sở, phân bố chủ yếu tại Đà Lạt, Đơn Dƣơng, Bảo Lộc. Sự phát triển của TNTM Lâm Đồng giai đoạn này đƣợc đánh dấu bằng sự xuất của Việt Nam Thánh Mẫu hội, trụ sở của Tổng hội đƣợc đặt tại Đền Việt Nam Thánh Mẫu, đƣờng Ngô Quyền, Đà Lạt. Sự xuất hiện của tổ chức này đã đánh dấu thời kỳ TNTM tại Lâm Đồng và khu vực miền Nam Việt Nam có nhiều khởi sắc. Giai đoạn này, không chỉ số lƣợng các thực hành TNTM gia tăng mà số xiii lƣợng các thanh đồng, con nhang đệ tử tại các cơ sở thờ Mẫu ở Lâm Đồng cũng đến từ nhiều tỉnh thành khác nhƣ Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Sài Gòn… Chƣơng 3: Trình bày về sự thành lập và phát triển các cơ sở thờ Mẫu ở Lâm Đồng giai đoạn 1976 đến năm 2018.
Trong những năm 1976 - 1990, có 17 cơ sở đƣợc lập mới, sinh hoạt TNTM tại Lâm Đồng cũng bƣớc vào thời kỳ đầy biến động, nhiều cơ sở bị thu tƣợng thánh, bát hƣơng, thậm chí là dỡ bỏ… việc thờ tự và thực hành tín ngƣỡng mang tính cầm chừng. Tuy nhiên do sự đổi mới trong chính sách tôn giáo, tín ngƣỡng của Đảng và Nhà nƣớc, sự ổn định và phát triển kinh tế cùng nhiều yếu tố khác nên từ năm 1991 đến 2018 không chỉ “nở rộ” 93 cơ sở thờ Mẫu mới mà các nghi lễ thực hành TNTM cũng đƣợc tổ chức thƣờng xuyên hơn. Toàn tỉnh Lâm Đồng hiện có 144 cơ sở thờ Mẫu đƣợc phân bố tại 12/12 huyện thị. Nghiên cứu cũng cho thấy, TNTM ở Lâm Đồng đã và đang tồn tại hai dạng thức thờ tự chính là dạng thức thờ Mẫu miền Bắc và dạng thức thờ Mẫu miền Trung, trong đó dạng miền Bắc chiếm số lƣợng vƣợt trội.
Chƣơng 4: Luận án nêu rõ những đặc trƣng của TNTM ở Lâm Đồng trong bức tranh toàn cảnh của TNTM ở Việt Nam, những giá trị, hạn chế cũng nhƣ xu hƣớng phát triển của tín ngƣỡng này tại Lâm Đồng trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, luận án đƣa ra một số khuyến nghị với các cơ quan chức năng địa phƣơng trong công tác bảo tồn phát huy những giá trị tích cực của Di sản văn hóa Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của ngƣời Việt tại Lâm Đồng. xiv SUMMARY The dissertation is an indepth, systematic and relatively comprehensive scientific research work about the process of introduction and establishment of beliefs in the Mother Goddesses in Lam Dong province from the early twentieth century to 2018. The study mainly uses the historical and logical methods.
The qualitative research method with the ethnographic fieldwork approach of two main forms of observation - attendance (for practices related to the beliefs in the Mother Goddesses, especially the mediumship at the Mother Goddess temples) and in-depth interviews (for the owners of the Mother Goddess temples, Spirit Mediums, the disciples of Spirit Mediums and local cultural managers), and quantitative research method is also employed to accomplish the research tasks. On the basis of a comprehensive survey of beliefs in the Mother Goddesses establishments throughout the province, for the first time, the picture of beliefs in the Mother Goddesses in Lam Dong province is reconstructed in all aspects such as worship facilities, religious activities. during the course of history from the early twentieth century to 2018. The content of the thesis is divided into 4 chapters: Chapter 1: Presenting some contents about the theoretical and practical basis of the thesis; the most basic features of natural conditions, population characteristics impacting on the content of the thesis.
Besides, the content of chapter 1 also mentioned hypotheses, research questions and some concepts used in the thesis. Chapter 2: Presenting the process of introduction and establishment of beliefs in the Mother Goddesses in Lam Dong province from the early twentieth century to 1975. Research shows that this worship was appeared in Lang Biang plateau in the mid-20s of the twentieth century with two forms of North and Central Mother Goddess forms appeared at the same time. In this period, the temples of beliefs in the Mother Goddesses were not popular with the venues reported from reality as well as the memories of old Spirit Mediums were 34 establishments, mainly distributed in Da Lat city, Bao Loc city, Don Duong district.
The xv development of beliefs in the Mother Goddesses in Lam Dong province this period was marked by the establishment of Vietnam Holy Mother Association, the headquarters of the congregation is located at Vietnam Holy Mother Temple, Ngo Quyen street, Da Lat city. The establishment of this organization marked the flourishing period of beliefs in the Mother Goddesses in Lam Dong province and the South of Vietnam region. This period, not only the number of practices related to the beliefs in the Mother Goddesses increased but also the number of Spirit Mediums, the disciples of Spirit Mediums at Mother Goddess temples in Lam Dong province also come from many other provinces such as Khanh Hoa, Ninh Thuan, Binh Thuan and Ho Chi Minh city. Chapter 3: Presenting the introduction and development of Mother Goddess temples during the period of 1976-2018.
From 1976 - 1990, 17 temples were created anew, however the Mother Goddess practice went into chaos with many statues removed, incence burning suspended and temples were not maintained… and the worshipping and general practice of the creed were not properly maintained. However, under the renewal of religious and creed policies of the Party and the State, the economic stability together with many other factors, 93 new temples have mushroomed from 1991 to 2018 and the worshipping rituals have also been properly performed. All over Lam Dong province, there are 144 temples allocated in 12/12 districts. The research also reveals that there have been two forms of beliefs in the Mother Goddesses in Lam Dong province, i.e the northern and the central, among which the former dominates.
Chapter 4: The thesis highlights the characteristics of beliefs in the Mother Goddesses in Lam Dong province in the panorama of beliefs in the Mother Goddesses in Vietnam, the values and limitations as well as the likely development trend of beliefs in the Mother Goddesses in Lam Dong province. On that basis, the thesis has some recommendations for local authorities in conservation work to promote the positive values of The Practices related to the Vietnamese belief in Mother Goddesses of the Three Realms” has been officially recognized by UNESCO as an intangible cultural heritage of humanity in Lam Dong province. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Tín ngƣỡng thờ Mẫu (TNTM) còn gọi là tín ngƣỡng (TN) Tam phủ, Tứ phủ là một hiện tƣợng văn hóa độc đáo, riêng có của ngƣời Việt ra đời từ giữa thế kỷ XVI. Sự xuất hiện của loại hình thờ phụng này là: Sự phản ứng một cách rất quyết liệt của TN bản địa với xu hƣớng tôn giáo (TG) ngoại lai từ Tây phƣơng tới.
Hiện tƣợng thờ Mẫu Liễu Hạnh phản ánh hai khuynh hƣớng quan trọng chống đối lại những hệ tƣ tƣởng và TG ngoại lai: Khổng giáo đến từ Trung Hoa và Công giáo đến từ tây Âu. Nhƣng nó cũng phản ánh xu hƣớng phủ định vai trò của chính quyền phong kiến trung ƣơng tập quyền, vai trò của vƣơng triều (Đặng Việt Bích, 2005, tr. Bản chất của loại hình TN này là sự tôn thờ một nhân vật huyền thoại, nói chính xác hơn là một nguyên mẫu có thật đã đƣợc huyền thoại hóa - Thánh Mẫu Liễu Hạnh, con gái thứ hai của Ngọc Hoàng thƣợng đế, vị Tiên Chúa có khả năng che chở, bênh vực, giúp đỡ cho tất cả những ngƣời dân lƣơng thiện, nhất là phụ nữ, thoát khỏi những hiểm họa, tai ƣơng. Gắn với TNTM là hoạt động diễn xƣớng đậm màu shaman giáo hết sức độc đáo mà khẩu ngữ dân gian quen gọi là lên đồng với những vũ điệu múa thiêng sôi động và một loại hình lễ nhạc đƣợc biết đến với tên gọi dân dã là hát chầu văn/hát hầu đồng.
Gần đây, hình thức diễn xƣớng độc đáo này còn đƣợc biết đến với danh xƣng Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt (Practices related to the Viet beliefs in the Mother Goddesses of Three Realms). Vào ngày 01/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa (Ethiopia), di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt tại 21 tỉnh thành của Việt Nam, gồm các tỉnh từ Thừa Thiên - Huế trở ra Bắc và thành phố Hồ Chí Minh (Tp HCM) đã chính thức đƣợc UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tối ngày 02/4/2017, tại Quần thể di tích thờ Mẫu Phủ Dầy, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định - một trong những cái nôi 2 sinh thành loại hình TNTM, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Nam Định, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH,TT&DL) phối hợp tổ chức lễ đón bằng vinh danh của UNESCO đối với loại hình diễn xƣớng độc đáo này.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng từ thế kỷ XX đến 2018 (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/nghien-cuu-van-hoa/ton-giao-hoc/luan-an-nghien-cuu-tin-nguong-tho-mau-lam-dong-the-ky-xx-den-2018
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng từ thế kỷ XX đến 2018" nghiên cứu về vấn đề gì?
Tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng giai đoạn thế kỷ XX đến 2018. Khám phá lịch sử, đặc điểm và biến đổi văn hóa trong nghiên cứu chi tiết.
Luận án "Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng từ thế kỷ XX đến 2018" có bao nhiêu trang?
Luận án "Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng từ thế kỷ XX đến 2018" có 320 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Lâm Đồng từ thế kỷ XX đến 2018" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.