Luận án ts luật học pháp luật về hợp đồng hành chính của một số quốc gia và nghi
Phân tích pháp luật hợp đồng hành chính trong hệ thống luật Việt Nam. Đề xuất hoàn thiện khung pháp lý.
Số trang
167
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I.Nhu cầu cấp thiết nghiên cứu pháp luật hợp đồng hành chính
Xu hướng xã hội hóa dịch vụ công đang diễn ra mạnh mẽ. Vai trò của tư nhân trong cung cấp dịch vụ công được khuyến khích. Điều này dẫn đến sự gia tăng hợp đồng giữa nhà nước và khu vực tư nhân. Các hợp đồng này mang tính chất đặc thù. Chúng khác biệt so với hợp đồng dân sự, thương mại thông thường. Tại Việt Nam, nhiều hợp đồng tương tự hợp đồng hành chính chưa được định danh rõ. Chúng thường được xếp vào hợp đồng dân sự hoặc thương mại. Điều này tạo ra khoảng trống pháp lý. Cơ sở lý luận về hợp đồng hành chính còn thiếu. Việc nghiên cứu là cần thiết. Việc xác định sai bản chất hợp đồng ảnh hưởng quyền lợi người dân. Ví dụ điển hình là hợp đồng BOT. Ở Pháp, BOT là hợp đồng hành chính, đòi hỏi minh bạch. Tại Việt Nam, BOT là hợp đồng kinh doanh thương mại. Quy trình thỏa thuận, ký kết có thể bị giữ bí mật. Điều này gây ra phản ứng tiêu cực từ công chúng. Quyền và lợi ích của người dân bị tác động nghiêm trọng. Hợp đồng nhà máy điện hay thu phí cầu Bến Thủy là minh chứng.
1.1. Tăng cường giao kết hợp đồng nhà nước tư nhân
Xu hướng xã hội hóa dịch vụ công đang diễn ra mạnh mẽ. Vai trò của tư nhân trong cung cấp dịch vụ công được khuyến khích. Điều này dẫn đến sự gia tăng hợp đồng giữa nhà nước và khu vực tư nhân. Các hợp đồng này mang tính chất đặc thù. Chúng khác biệt so với hợp đồng dân sự, thương mại thông thường.
1.2. Pháp luật hợp đồng hành chính chưa rõ ràng tại Việt Nam
Tại Việt Nam, nhiều hợp đồng tương tự hợp đồng hành chính chưa được định danh rõ. Chúng thường được xếp vào hợp đồng dân sự hoặc thương mại. Điều này tạo ra khoảng trống pháp lý. Cơ sở lý luận về hợp đồng hành chính còn thiếu. Việc nghiên cứu làm rõ là cần thiết cho pháp luật hợp đồng hành chính.
1.3. Hệ lụy từ việc xác định sai loại hợp đồng hành chính
Việc xác định sai bản chất hợp đồng ảnh hưởng quyền lợi người dân. Hợp đồng BOT là ví dụ điển hình. Ở Pháp, BOT là hợp đồng hành chính, đòi hỏi minh bạch. Tại Việt Nam, BOT là hợp đồng kinh doanh thương mại. Quá trình đàm phán, thực hiện có thể bị giữ bí mật. Điều này gây phản ứng tiêu cực từ công chúng. Quyền và lợi ích người dân bị tác động nghiêm trọng. Hợp đồng liên quan đến nhà máy điện hoặc thu phí cầu Bến Thủy là minh chứng.
II.Hợp đồng hành chính Vai trò trong quản lý nhà nước hiệu quả
Mục tiêu xây dựng nền hành chính phục vụ là trọng tâm. Chính phủ kiến tạo chủ động thiết kế hệ thống pháp luật tốt. Nhà nước không làm thay thị trường. Vai trò là tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Đầu tư vào các khu vực tư nhân không thể. Điều này yêu cầu cải cách phương thức quản lý. Hợp đồng hành chính là công cụ hỗ trợ quan trọng. Chính phủ cần cải cách quản lý dịch vụ công. Mục tiêu là hiệu quả và đáp ứng nhu cầu người dân. Đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ công là cần thiết. Điều này đo lường sự hài lòng của người dân. Hợp đồng hành chính giúp chuẩn hóa quy trình. Nó đảm bảo tính công khai, minh bạch. Toàn cầu hóa và hội nhập đặt ra yêu cầu mới. Chính phủ cần đáp ứng nhanh chóng các thay đổi. Xây dựng chính phủ điện tử, chính phủ số là xu thế. Chuyển đổi từ hành chính cai trị sang hành chính phục vụ. Hợp đồng hành chính là công cụ quản trị tốt. Nó giúp các cơ quan nhà nước hoạt động hiệu quả. Nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
2.1. Hướng tới nền hành chính phục vụ chính phủ kiến tạo
Mục tiêu xây dựng nền hành chính phục vụ là trọng tâm. Chính phủ kiến tạo chủ động thiết kế hệ thống pháp luật, chính sách, thể chế tốt. Nhà nước không làm thay thị trường. Vai trò là tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Điều này yêu cầu cải cách phương thức quản lý, với hợp đồng trong hành chính công là công cụ.
2.2. Cải cách phương thức quản lý dịch vụ công
Chính phủ cần cải cách quản lý dịch vụ công. Mục tiêu là hiệu quả và đáp ứng nhu cầu người dân. Đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ công là cần thiết. Điều này đo lường sự hài lòng của người dân. Hợp đồng hành chính giúp chuẩn hóa quy trình, đảm bảo tính công khai, minh bạch.
2.3. Vai trò hợp đồng hành chính trong quản trị nhà nước hiện đại
Toàn cầu hóa và hội nhập đặt ra yêu cầu mới cho quản lý nhà nước. Chính phủ cần đáp ứng nhanh chóng các thay đổi. Xây dựng chính phủ điện tử, chính phủ số là xu thế. Chuyển đổi từ hành chính cai trị sang hành chính phục vụ. Hợp đồng hành chính là công cụ quản trị tốt. Nó giúp các cơ quan nhà nước hoạt động hiệu quả.
III.Thách thức pháp lý của hợp đồng trong hành chính công Việt Nam
Hợp đồng BOT đang được xem là hợp đồng thương mại. Quyền giữ bí mật kinh doanh được áp dụng. Quá trình đàm phán, thực hiện không công khai. Điều này dẫn đến thiếu minh bạch. Người dân không được biết thông tin chi tiết. Lợi ích của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Các dự án giao thông, năng lượng là ví dụ. Các hợp đồng bản chất hành chính được thực hiện dưới hình thức dân sự/kinh tế. Điều này dẫn đến bất cập về luật áp dụng. Các điều khoản nội dung hợp đồng chưa phù hợp. Quyền và nghĩa vụ các bên không được xác định rõ ràng. Giải quyết tranh chấp còn nhiều khó khăn. Phương thức đối tác công tư (PPP) đang được chú trọng. Lĩnh vực này cần hoàn thiện hành lang pháp lý. Việc thiếu quy định rõ ràng về hợp đồng hành chính cản trở phát triển PPP. Nó ảnh hưởng đầu tư công, dịch vụ công, kinh tế tư nhân.
3.1. Phân loại hợp đồng BOT gây bất lợi cho người dân
Hợp đồng BOT đang được xem là hợp đồng thương mại. Quyền giữ bí mật kinh doanh được áp dụng. Quá trình đàm phán, thực hiện không công khai. Điều này dẫn đến thiếu minh bạch. Người dân không được biết thông tin chi tiết. Lợi ích của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ví dụ điển hình là các dự án giao thông, năng lượng.
3.2. Bất cập trong luật áp dụng và nội dung hợp đồng hành chính
Các hợp đồng bản chất hành chính được thực hiện dưới hình thức dân sự/kinh tế. Điều này dẫn đến bất cập về luật áp dụng. Các điều khoản nội dung hợp đồng chưa phù hợp. Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng chưa rõ ràng. Giải quyết tranh chấp còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng chủ thể hợp đồng hành chính.
3.3. Thiếu hụt hành lang pháp lý cho đối tác công tư
Phương thức đối tác công tư (PPP) đang được chú trọng. Lĩnh vực này cần hoàn thiện hành lang pháp lý. Việc thiếu quy định rõ ràng về hợp đồng hành chính cản trở phát triển PPP. Nó ảnh hưởng đầu tư công, dịch vụ công, kinh tế tư nhân, liên quan đến đối tượng hợp đồng hành chính.
IV.Giải pháp hoàn thiện pháp luật hợp đồng hành chính tại Việt Nam
Nghiên cứu làm rõ mặt lý luận hợp đồng hành chính là cần thiết. Điều này tạo cơ sở cho quy định pháp luật. Khái niệm, bản chất, đặc điểm hợp đồng hành chính cần được định hình. Phân biệt rõ ràng với hợp đồng dân sự, thương mại. Pháp luật cần bổ sung quy định cụ thể. Xác định rõ chủ thể hợp đồng hành chính, đối tượng hợp đồng hành chính. Quy định hình thức hợp đồng hành chính, nội dung, trình tự giao kết hợp đồng. Đảm bảo quyền tự do thỏa thuận trong khuôn khổ pháp luật. Khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân. Hành lang pháp lý cần bảo vệ quyền lợi người dân. Đặc biệt là người sử dụng dịch vụ công. Quy định cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả. Đảm bảo tính công khai, minh bạch. Xây dựng niềm tin của người dân. Hướng tới mục tiêu quản trị tốt, hành chính phục vụ.
4.1. Xây dựng cơ sở lý luận vững chắc về hợp đồng hành chính
Nghiên cứu làm rõ mặt lý luận hợp đồng hành chính là cần thiết. Điều này tạo cơ sở cho quy định pháp luật phù hợp. Khái niệm, bản chất, đặc điểm của hợp đồng hành chính cần được định hình rõ. Phân biệt rõ ràng với hợp đồng dân sự, thương mại là trọng tâm của luận án tiến sĩ luật học này.
4.2. Hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý dịch vụ công
Pháp luật cần bổ sung quy định cụ thể về hợp đồng hành chính. Xác định rõ chủ thể hợp đồng hành chính, đối tượng hợp đồng hành chính. Quy định hình thức hợp đồng hành chính, nội dung, trình tự giao kết hợp đồng. Đảm bảo quyền tự do thỏa thuận trong khuôn khổ. Khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân trong quản lý nhà nước.
4.3. Đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể hợp đồng hành chính
Hành lang pháp lý cần bảo vệ quyền lợi người dân. Đặc biệt là người sử dụng dịch vụ công. Quy định cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả. Đảm bảo tính công khai, minh bạch. Xây dựng niềm tin của người dân. Hướng tới mục tiêu quản trị tốt, hành chính phục vụ thông qua việc củng cố pháp luật hợp đồng hành chính.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (167 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộPHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, với xu hướng đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích vai trò của tư nhân tham gia vào cung cấp các dịch vụ công thì cùng với đó là sự gia tăng số lượng các hợp đồng được giao kết giữa một bên chủ thể là nhà nước gia tăng. Các hợp đồng này thường được gọi là hợp đồng hành chính hoặc hợp đồng chính phủ, với quy chế pháp lý có nhiều điểm đặc thù khác với các hợp đồng dân sự, thương mại. Ở Việt Nam, thực tiễn cho thấy có nhiều hợp đồng giống với hợp đồng hành chính ở một số quốc gia nhưng chưa có một quy định rõ ràng và thường được xác định là hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại.
Do đó, trong nhiều trường hợp, quyền lợi của người dân với tư cách là bên cung cấp dịch vụ hoặc sử dụng dịch vụ công bị ảnh hưởng. Chẳng hạn hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT) là một loại hợp đồng hành chính ở Pháp, do đó quy trình thỏa thuận, ký kết hợp đồng này phải công khai, minh bạch là yêu cầu bắt buộc. Hiện nay, hợp đồng BOT được nhìn nhận dưới góc độ kinh doanh thương mại, được điều chỉnh bởi Luật Đầu tư 2020 và các nghị định hướng dẫn, quy định hợp đồng này là hợp đồng kinh doanh thương mại nên được quyền giữ bí mật kinh doanh. Do đó, quá trình đàm phán, soạn thảo hợp đồng, thực hiện hợp đồng sẽ không được công bố.
Bởi vậy, nhiều trường hợp quyền và lợi ích của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ví dụ như, hợp đồng liên quan đến nhà máy điện nếu không được công khai, minh bạch và sau đó gây ra một thảm họa môi trường thì chắc chắn sẽ gây ra ảnh hưởng đến niềm tin của người dân … Tương tự việc thu phí ở cầu Bến Thủy ở Nghệ An và Hà Tĩnh, nếu là Hợp đồng hành chính, Nhà nước phải ấn định rõ mức phí, đoạn đường thu phí và thời gian thu phí; nhà thầu thực hiện phải chấp hành. Nhưng vì hợp đồng BOT đang được coi là hợp đồng thương mại, nhà thầu BOT lại được quyền thực hiện những việc đó và người dân phản ứng tiêu cực bằng cách dùng tiền lẻ mua vé, diễu hành xe phản đối việc thu phí gây ách tắc giao thông một thời gian dài. Đặc biệt là, với mục tiêu xây dựng nền hành chính phục vụ, việc tăng cường đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ công để đo mức độ hài lòng của người dân đối với việc thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ và các dịch vụ do bộ máy hành chính là 1 cần thiết.
Yêu cầu đặt ra đối với Chính phủ phải cải cách phương thức quản lý đối với việc cung cấp dịch vụ công hướng tới hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của người dân. Như vậy, trong thực tiễn ở Việt Nam đã thực hiện một số loại hợp đồng mà xét về bản chất là hợp đồng hành chính ở các quốc gia khác nhưng trong pháp luật Việt Nam được thực hiện dưới hình thức hợp đồng dân sự hoặc hợp đồng kinh tế. Các hợp đồng này đang thực hiện là hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế dẫn tới có một số vấn đề như luật áp dụng, các điều khoản nội dung hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng, giải quyết tranh chấp còn bất cập, chưa giải quyết được thỏa đáng đối với chính các bên trong hợp đồng và với người thứ ba là người dân với tư cách người tiêu dùng dịch vụ công. Trong khi đó, phương thức đối tác công tư trong cung ứng dịch vụ công đang là lĩnh vực được chú trọng, cần hoàn thiện hành lang pháp lý để thúc đẩy cho phát triển lĩnh vực đầu tư công, dịch vụ công và kinh tế tư nhân trong giai đoạn hiện nay.
Do vậy, hợp đồng hành chính là vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn ở nước ta, việc nghiên cứu làm rõ về mặt lí luận về hợp đồng hành chính để làm cơ sở đưa ra các quy định pháp luật phù hợp là vô cùng cần thiết. Ngoài ra, toàn cầu hóa và hội nhập yêu cầu chính phủ phải cải cách và đáp ứng đối với những thay đổi nhanh chóng về kinh tế, xã hội, chính trị và xu hướng công nghệ quốc tế. Nắm bắt xu hướng quản trị nhà nước ở các quốc gia và bối cảnh trong nước, Nhà nước định hướng xây dựng "Chính phủ kiến tạo”, trong đó có các nội dung: Chính phủ chủ động thiết kế ra một hệ thống pháp luật tốt, những chính sách tốt, thể chế tốt để nuôi dưỡng nền kinh tế phát triển, chứ không phải bị động đối phó với những diễn biến trên thực tế. Nhà nước không làm thay thị trường, những khu vực nào thị trường có thể làm được, doanh nghiệp tư nhân có thể làm được thì Nhà nước không can thiệp, mà thay vào đó là tạo điều kiện cho các doanh nghiệp làm.
Nhà nước sẽ chỉ đầu tư vào những khu vực các doanh nghiệp tư nhân không thể đầu tư. Ngoài ra, xây dựng chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước, chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của quốc gia. Việc chuyển từ hành chính cai trị sang nền hành chính phục vụ, từ chính phủ cai trị sang chính phủ phục vụ, hình thức và phương pháp hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan hành chính nhà nước nói riêng cần có thay đổi hợp lý. Trong bối cảnh đó, sử 2 dụng hợp đồng hành chính sẽ giúp quản trị nhà nước về dịch vụ công thỏa mãn các tiêu chí của quản trị tốt và yêu cầu của nền hành chính phục vụ.
Việc sử dụng hợp đồng hành chính trong quản lý nhà nước sẽ ngày càng phổ biến và gia tăng. Đặc biệt là một loại hợp đồng hành chính là hợp đồng đối tác công tư đang là xu hướng của các quốc gia thực hiện rất phổ biến. Chẳng hạn ở Hoa Kỳ, từ những năm 1980 tư nhân hóa là một phong trào cải cách trong đó có sự gia tăng các bên phi chính phủ vào việc thực hiện các dịch vụ công. Trước đây, nhiệm vụ của chính phủ là duy trì việc cung cấp các dịch vụ thiết yếu như thức ăn, nước uống, nhà ở, năng lượng, thuốc chữa bệnh.
Vai trò của chính phủ có sự thay đổi khi các cơ quan hành chính gia tăng sự hợp tác đối với khu vực tư, cơ quan nhà nước và tư nhân cùng chia sẻ trách nhiệm này; phạm vi của mục đích công cũng được mở rộng, quy định về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp bởi các tổ chức ngoài chính phủ gia tăng. Nhiều dự án PPP mang lại kết quả cao như trong năm 2013, 24 bang của Hoa Kỳ đã ký hợp đồng với các đối tác tư đối với 94 con đường cao tốc trị giá 54,5 tỷ đô. Trong lĩnh vực cung cấp nước sạch, theo thống kê đến năm 2007, có khoảng 155.000 công ty ở Hoa Kỳ. Các công ty nhà nước hoặc tư nhân đã tham gia trong lĩnh vực cung cấp nước sạch cho tổng cộng khoảng 242 triệu người vào năm 2000.
Như vậy có thể thấy việc cung cấp và phân phối nước sạch tại Hoa Kỳ rất đa dạng, không phải chỉ có một loại hình sở hữu công duy nhất mà còn có thể có các hợp tác xã hoặc các doanh nghiệp tư nhân đủ điều kiện. Theo một nghiên cứu vào năm 2019, ngành công nghiệp cung ứng nước sạch tại Hoa Kỳ đạt tới 61,8 tỷ đô, chứng tỏ đây là một lĩnh vực kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận cho nhà đầu tư tư nhân3. Ở Việt Nam nhu cầu về hợp tác công tư trong cung cấp dịch vụ công cũng rất lớn. Theo quy hoạch, đến năm 2050 Việt Nam phải có 9.000 km đường cao tốc và gần 30.000 km đường quốc lộ.
Trong khi đó, ngân sách dự kiến đáp ứng 2/3, còn lại huy động vốn tư nhân. Song trong giai đoạn 2021-2022 vốn tư nhân vào hạ tầng gần như không có. Đây là thách thức rất lớn trong việc thu hút 300.000 tỷ đồng vốn tư nhân trong 10 năm để đầu tư các dự án này. Chủ trương, quan điểm của Đảng về cơ chế thu hút nguồn nhân lực tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng đã được cụ thể hóa trong quá trình xây dựng Luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 (Luật PPP), với sự kế thừa những quy định tốt đã và đang thực hiện, đồng thời bổ sung các nội dung mới, quan trọng bảo đảm tính đặc thù của đầu tư PPP, tạo môi 3 trường pháp lý ổn định hơn cho các dự án PPP trong thời gian tới, cũng như tạo niềm tin cho cộng đồng các nhà đầu tư, doanh nghiệp, đặc biệt là nhà đầu tư quốc tế.
Từ đó, thu hút tối đa nguồn lực của khu vực tư nhân; sử dụng hiệu quả nguồn lực này để bù đắp những thiếu hụt của ngân sách nhà nước trong đầu tư cơ sở hạ tầng, dịch vụ công; tạo động lực mới thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững trong những giai đoạn tới. Tuy nhiên, các quy định hướng dẫn thi hành còn ít ỏi với nhiều vấn đề chưa được giải quyết làm cho phương thức đối tác công tư chưa thu hút được nhiều bên tư nhân tham gia, nhiều dự án đối tác công tư đang triển khai phải tạm dừng hoặc chuyển đổi thành đầu tư công. Đại hội Đảng lần thứ XIII (2021) chỉ ra xu hướng và xác định khâu đột phá trong phát triển kinh tế hiện nay, trong đó có nội dung:“Đổi mới mạnh mẽ hơn phương thức quản lý nhà nước về kinh tế theo hướng chuyển giao những công việc Nhà nước không nhất thiết phải làm cho các tổ chức xã hội, chuyển đổi cung cấp trực tiếp dịch vụ công sang phương thức đặt hàng”5, với việc đẩy mạnh phương thức đặt hàng chính là thông qua hình thức hợp đồng hành chính, đồng thời “đẩy mạnh cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trường, thúc đẩy xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp công”6. Hoạt động xã hội hoá chính là đưa đối tác tư nhân tham gia vào công ứng dịch vụ công.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án ts luật học pháp luật về hợp đồng hành chính của một" nghiên cứu về vấn đề gì?
Phân tích pháp luật hợp đồng hành chính trong hệ thống luật Việt Nam. Đề xuất hoàn thiện khung pháp lý.
Luận án "Luận án ts luật học pháp luật về hợp đồng hành chính của một" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án ts luật học pháp luật về hợp đồng hành chính của một" thuộc chuyên ngành Luật học. Danh mục: Luật Hành Chính.
Luận án "Luận án ts luật học pháp luật về hợp đồng hành chính của một" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án ts luật học pháp luật về hợp đồng hành chính của một" có 167 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án ts luật học pháp luật về hợp đồng hành chính của một" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.