Luận án thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp - Nghiên cứu từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa

"Luận án nghiên cứu thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa, đề xuất giải pháp hoàn thiện."

Tác giả

Luan An

Số trang

163

Thời gian đọc

25 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt của tác giả

Trích nguyên văn từ luận án

của đề tài Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế mỗi nước với khoa học công nghệ phát triển ngày càng mạnh mẽ thì vấn đề bảo vệ môi trường (BVMT) càng trở nên quan trọng và cấp thiết không chỉ đối với mỗi quốc gia mà đã trở thành vấn đề toàn cầu. Môi trường liên quan chặt chẽ đến cuộc sống của con người, đồng thời là một dạng tài nguyên đặc biệt, ảnh hưởng đến mọi hoạt động và sự phát triển của xã hội. Trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam, sự suy thoái, ô nhiễm và sự cố môi trường đang làm cho môi trường có những thay đổi bất lợi cho con người. Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác, trong quá trình phát triển phải đối mặt với những khó khăn là làm thế nào để cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và BVMT. Phát triển kinh tế không chỉ là tăng trưởng kinh tế về tốc độ, quy mô mà còn phải bao gồm cả sự cân đối trong tăng trưởng mà môi trường là một trong các yếu tố quan trọng tạo nên sự cân đối đó. Tăng trưởng kinh tế nhưng hy sinh môi trường sẽ để lại những hậu quả khôn lường mà kinh nghiệm quốc tế đã cho thấy, đây là thách thức trong quá trình phát triển đất nước ta trong bối cảnh hội nhập. Ở Việt Nam, vấn đề môi trường đã được đặt ra trước những năm đổi mới. Nhưng chỉ khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thì vấn đề này mới thực sự trở nên cấp thiết. Từ đó, bảo vệ môi trường được Đảng

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Cấp thiết bảo vệ môi trường khu công nghiệp Thanh Hóa
Số trang:
163 trang
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Cấp thiết bảo vệ môi trường khu công nghiệp Thanh Hóa

Bảo vệ môi trường (BVMT) là vấn đề cấp thiết trên toàn cầu. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ làm vấn đề này càng trở nên quan trọng. Môi trường liên quan chặt chẽ đến cuộc sống con người, là dạng tài nguyên đặc biệt. Môi trường ảnh hưởng mọi hoạt động, sự phát triển của xã hội. Trên phạm vi toàn cầu, tại Việt Nam, suy thoái, ô nhiễm, sự cố môi trường gây ra những thay đổi bất lợi. Việt Nam và nhiều quốc gia khác đối mặt thách thức: cân bằng tăng trưởng kinh tế và BVMT. Phát triển kinh tế không chỉ tăng trưởng về tốc độ, quy mô. Nó phải bao gồm sự cân đối, mà môi trường là yếu tố quan trọng. Tăng trưởng kinh tế hy sinh môi trường sẽ để lại hậu quả khôn lường. Kinh nghiệm quốc tế đã cho thấy điều này. Đây là thách thức lớn trong quá trình phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập.

1.1. Tầm quan trọng bảo vệ môi trường toàn cầu

Môi trường là vấn đề cấp thiết toàn cầu. Khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ. Vấn đề bảo vệ môi trường (BVMT) ngày càng quan trọng. Môi trường liên quan chặt chẽ cuộc sống con người. Môi trường là dạng tài nguyên đặc biệt, ảnh hưởng mọi hoạt động xã hội và sự phát triển. Trên phạm vi toàn cầu, tại Việt Nam, sự suy thoái, ô nhiễm, sự cố môi trường đang làm môi trường thay đổi bất lợi cho con người. Việt Nam, nhiều quốc gia khác, trong quá trình phát triển phải đối mặt khó khăn. Khó khăn là làm thế nào để cân bằng tăng trưởng kinh tế và BVMT. Phát triển kinh tế không chỉ tăng trưởng tốc độ, quy mô. Kinh tế còn phải cân đối, môi trường là yếu tố quan trọng tạo nên sự cân đối đó. Tăng trưởng kinh tế nhưng hy sinh môi trường sẽ để lại hậu quả khôn lường. Kinh nghiệm quốc tế đã chứng minh điều này. Đây là thách thức lớn trong quá trình phát triển đất nước ta trong bối cảnh hội nhập.

1.2. Môi trường trong chiến lược phát triển bền vững

Vấn đề môi trường tại Việt Nam đã được đặt ra trước đổi mới. Chỉ khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vấn đề này thực sự trở nên cấp thiết. Bảo vệ môi trường được Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền và người dân đặc biệt quan tâm. Nghị quyết số 41-NQ/TW (15/11/2004) nhấn mạnh vai trò, nhiệm vụ cơ bản về công tác BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết số 24-NQ/TW (03/06/2013) của Bộ Chính trị về việc chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng chỉ rõ yêu cầu: “phát triển nhanh và bền vững, tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, BVMT, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã khẳng định quan điểm phát triển kinh tế phải đi đôi với BVMT. Từng bước thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Bảo vệ môi trường trong các Khu công nghiệp Thanh Hóa là một phần không thể thiếu của chiến lược này.

II. Thực trạng vi phạm thi hành pháp luật môi trường KCN

Vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) diễn ra trên nhiều lĩnh vực, địa bàn, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất trong các khu công nghiệp (KCN). Các làng nghề, hoạt động nhập khẩu, khai thác lâm sản, khoáng sản, quản lý và xử lý chất thải cũng có vi phạm. Đến hết năm 2018, cả nước có 326 KCN. Nhiều doanh nghiệp có lắp đặt hệ thống xử lý chất thải nhưng luôn cố tình vi phạm, sử dụng thủ đoạn tinh vi, lén lút xả thải ra môi trường. Họ xây dựng hệ thống bí mật, phức tạp, ngụy trang bằng hệ thống đạt tiêu chuẩn rất khó phát hiện. Các trường hợp điển hình như công ty Vedan Việt Nam, công ty Miwon, công ty Hào Dương, công ty giấy Việt Trì, Formosa Hà Tĩnh với 53 lỗi vi phạm quy định môi trường KCN. Tình hình vi phạm pháp luật BVMT diễn biến phức tạp nhưng việc tuân thủ môi trường doanh nghiệp và thực hiện pháp luật BVMT còn nhiều tồn tại.

2.1. Tình hình vi phạm pháp luật môi trường tại KCN

Vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) diễn ra trên nhiều lĩnh vực, địa bàn. Đặc biệt là lĩnh vực sản xuất trong các khu công nghiệp (KCN). Các làng nghề, hoạt động nhập khẩu, khai thác lâm sản, khoáng sản, quản lý xử lý chất thải cũng có vi phạm. Đến hết năm 2018, cả nước có 326 KCN. Nhiều doanh nghiệp lắp đặt hệ thống xử lý chất thải. Tuy nhiên, họ cố tình vi phạm, sử dụng thủ đoạn tinh vi, lén lút xả thải. Ví dụ, xây dựng hệ thống bí mật, phức tạp. Ngụy trang bằng hệ thống đạt tiêu chuẩn rất khó phát hiện. Công ty Vedan Việt Nam, Miwon, Hào Dương, giấy Việt Trì, Formosa Hà Tĩnh là các ví dụ điển hình. Formosa Hà Tĩnh vi phạm tới 53 lỗi về quy định môi trường KCN. Tình hình vi phạm pháp luật BVMT diễn biến phức tạp. Việc tuân thủ môi trường doanh nghiệp còn nhiều tồn tại. Thực trạng này đặt ra vấn đề cần kiểm soát ô nhiễm công nghiệp hiệu quả hơn.

2.2. Hạn chế trong thực thi pháp luật bảo vệ môi trường

Thực thi pháp luật BVMT còn nhiều yếu kém. Các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường chưa thực sự chủ động. Nhiều cơ quan thiếu phương tiện, cán bộ BVMT còn hạn chế. Đây là nguyên nhân chủ yếu của thực trạng yếu kém. Thực tiễn này đặt ra vấn đề cấp thiết. Cần hoàn thiện các cơ chế kiểm soát. Kiểm soát việc thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN phải hiệu quả. Điều này bao gồm việc hoàn thiện các quy định pháp luật. Việc quy định, thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN rất quan trọng. Mục tiêu là vừa gìn giữ môi trường xanh, sạch. Bảo đảm quyền sống trong môi trường trong lành của người dân. Đồng thời, phải phát huy tối đa nguồn lực phát triển kinh tế đất nước. Việc xử lý chất thải khu công nghiệp và xử phạt vi phạm môi trường cần được tăng cường.

III. Hạn chế quy định pháp luật bảo vệ môi trường khu công nghiệp

Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường (BVMT) trong các khu công nghiệp (KCN), có thể thấy Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 còn có những nội dung khá chung chung. Luật có nhiều thiếu sót, chưa mang tính hệ thống, thiếu cụ thể dẫn tới khó khả thi. Ví dụ, đánh giá tác động môi trường (ĐTM) trong các KCN còn thiếu chặt chẽ. Nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh trong các KCN vẫn có thể lách luật để không phải lập báo cáo ĐTM. Hệ thống xả thải các chất thải của doanh nghiệp không đấu nối với hệ thống xả thải chung của KCN. Thiếu các quy định về phí bảo vệ môi trường đối với khí thải, về xác định thiệt hại môi trường không khí, môi trường nước. Chế tài xử phạt khi vi phạm pháp luật BVMT trong các KCN còn chưa đủ mạnh. Bên cạnh đó, quy định về quy chuẩn môi trường trong các KCN hiện nay đã lạc hậu so với khu vực và thế giới. Những điểm thiếu sót, hạn chế trong các quy định pháp luật đã gây khó khăn rất lớn cho các cơ quan quản lý nhà nước trong thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN. Công tác giám sát môi trường KCN Thanh Hóa và các khu vực khác bị ảnh hưởng tiêu cực.

3.1. Thiếu sót về quy định đánh giá tác động môi trường

Các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường (BVMT) trong các khu công nghiệp (KCN) còn nhiều thiếu sót. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 có nhiều nội dung chung chung. Luật không mang tính hệ thống, thiếu cụ thể, khó khả thi. Ví dụ, đánh giá tác động môi trường (ĐTM) trong các KCN còn thiếu chặt chẽ. Điều này dẫn đến nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh có thể lách luật. Họ tránh phải lập báo cáo ĐTM. Hệ thống xả thải của doanh nghiệp không đấu nối với hệ thống xả thải riêng của mình với hệ thống xả thải chung của KCN. Đây là lỗ hổng lớn trong kiểm soát ô nhiễm công nghiệp. Việc này gây khó khăn cho việc quản lý, giám sát. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môi trường xung quanh. Cần có quy định rõ ràng hơn về ĐTM và kết nối hệ thống xử lý chất thải khu công nghiệp.

3.2. Chế tài xử phạt quy chuẩn môi trường lạc hậu

Pháp luật hiện hành thiếu các quy định cụ thể. Thiếu quy định về phí bảo vệ môi trường đối với khí thải. Thiếu quy định về xác định thiệt hại môi trường không khí, môi trường nước. Chế tài xử phạt khi vi phạm pháp luật BVMT trong các KCN còn yếu. Các mức phạt chưa đủ sức răn đe. Quy định về quy chuẩn môi trường trong các KCN hiện nay đã lạc hậu. Chúng không còn phù hợp so với khu vực và thế giới. Điều này tạo kẽ hở cho doanh nghiệp lợi dụng. Nó làm giảm hiệu quả công tác BVMT. Cần cập nhật, bổ sung các quy định về phí, xác định thiệt hại. Đồng thời, tăng cường chế tài xử phạt vi phạm môi trường. Quy chuẩn môi trường cũng cần được nâng cấp kịp thời.

3.3. Khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước

Những điểm thiếu sót, hạn chế trong các quy định pháp luật gây khó khăn lớn. Khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước trong thực hiện pháp luật BVMT. Công tác giám sát môi trường KCN Thanh Hóa và các khu vực khác gặp nhiều thách thức. Việc xác định hành vi vi phạm, áp dụng chế tài không dễ dàng. Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, Việt Nam tham gia nhiều sân chơi chung. Điều này đòi hỏi pháp luật môi trường phải đồng bộ, hiệu quả hơn. Các cơ quan quản lý cần công cụ pháp lý đủ mạnh. Công cụ đó phải giúp họ kiểm soát và bảo vệ môi trường hiệu quả. Cần hỗ trợ họ trong việc tuân thủ môi trường doanh nghiệp.

IV. Kiểm soát giám sát ô nhiễm khu công nghiệp Thanh Hóa

Tình hình kiểm soát ô nhiễm công nghiệp trong các khu công nghiệp (KCN) còn nhiều bất cập. Mặc dù nhiều doanh nghiệp có hệ thống xử lý chất thải, tình trạng xả thải lén lút vẫn diễn ra. Hệ thống bí mật, phức tạp, ngụy trang đạt tiêu chuẩn khiến việc phát hiện khó khăn. Các doanh nghiệp cố tình không đấu nối hệ thống xả thải riêng với hệ thống xả thải chung của KCN. Điều này làm giảm hiệu quả của các dự án xử lý chất thải tập trung. Việc xử lý chất thải khu công nghiệp không được quản lý đồng bộ. Tình trạng này gây ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp môi trường sống xung quanh. Vai trò giám sát môi trường KCN Thanh Hóa nói riêng và các KCN khác nói chung là rất quan trọng. Tuy nhiên, các cơ quan quản lý nhà nước chưa thực sự chủ động, thiếu phương tiện, cán bộ BVMT còn hạn chế về năng lực. Điều này làm giảm hiệu quả của công tác giám sát, khiến việc phát hiện và xử lý vi phạm gặp nhiều khó khăn.

4.1. Thực trạng kiểm soát hệ thống xả thải doanh nghiệp

Tình hình kiểm soát ô nhiễm công nghiệp trong các khu công nghiệp (KCN) còn nhiều bất cập. Mặc dù nhiều doanh nghiệp có hệ thống xử lý chất thải, tình trạng xả thải lén lút vẫn diễn ra. Hệ thống bí mật, phức tạp, ngụy trang đạt tiêu chuẩn khiến việc phát hiện khó khăn. Các doanh nghiệp cố tình không đấu nối hệ thống xả thải riêng với hệ thống xả thải chung của KCN. Điều này làm giảm hiệu quả của các dự án xử lý chất thải tập trung. Việc xử lý chất thải khu công nghiệp không được quản lý đồng bộ. Tình trạng này gây ô nhiễm nghiêm trọng. Nó đe dọa trực tiếp môi trường sống xung quanh. Cần có giải pháp kỹ thuật và pháp lý chặt chẽ hơn.

4.2. Vai trò giám sát của cơ quan quản lý môi trường KCN

Vai trò giám sát môi trường KCN Thanh Hóa nói riêng và các KCN khác nói chung là rất quan trọng. Tuy nhiên, các cơ quan quản lý nhà nước chưa thực sự chủ động. Họ thiếu phương tiện, cán bộ BVMT còn hạn chế về năng lực. Điều này làm giảm hiệu quả của công tác giám sát. Việc phát hiện, xử lý vi phạm gặp nhiều khó khăn. Ban quản lý khu kinh tế Nghi Sơn và các KCN Thanh Hóa cần được tăng cường nguồn lực. Họ cần có quyền hạn rõ ràng hơn. Điều này giúp tăng cường tuân thủ môi trường doanh nghiệp. Giúp đảm bảo các quy định môi trường KCN được thực thi nghiêm minh. Cần có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cấp quản lý.

V. Giải pháp nâng cao tuân thủ môi trường KCN Thanh Hóa

Để nâng cao tuân thủ môi trường doanh nghiệp tại các khu công nghiệp (KCN), việc hoàn thiện khung pháp lý là cần thiết. Luật Bảo vệ môi trường cần được sửa đổi, bổ sung để các quy định cụ thể, mang tính hệ thống hơn. Cần khắc phục tình trạng chung chung, thiếu khả thi. Quy định về đánh giá tác động môi trường (ĐTM) phải chặt chẽ hơn, không để các cơ sở sản xuất lách luật. Cần quy định rõ việc đấu nối hệ thống xả thải doanh nghiệp vào hệ thống chung của KCN. Các quy định về phí bảo vệ môi trường, xác định thiệt hại môi trường cần được bổ sung, đặc biệt đối với khí thải và môi trường nước. Cùng với đó, cần tăng cường năng lực cho các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường. Họ cần được trang bị đầy đủ phương tiện kỹ thuật, cán bộ BVMT cần được đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn để chủ động hơn trong công tác giám sát môi trường KCN Thanh Hóa. Chế tài xử phạt vi phạm môi trường cần được tăng cường, mức phạt phải đủ sức răn đe. Quy chuẩn môi trường trong các KCN cần được cập nhật, phù hợp với tiêu chuẩn khu vực và quốc tế. Cần thiết lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ, bao gồm cả hệ thống giám sát tự động và các đợt kiểm tra định kỳ, đột xuất. Điều này sẽ góp phần hiệu quả vào việc xử lý chất thải khu công nghiệp và đảm bảo môi trường xanh, sạch.

5.1. Hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ môi trường KCN

Để nâng cao tuân thủ môi trường doanh nghiệp, việc hoàn thiện khung pháp lý là cần thiết. Luật Bảo vệ môi trường cần được sửa đổi, bổ sung. Các quy định pháp luật cần cụ thể, mang tính hệ thống hơn. Cần khắc phục tình trạng chung chung, thiếu khả thi. Quy định về đánh giá tác động môi trường (ĐTM) phải chặt chẽ hơn. Không để các cơ sở sản xuất lách luật. Cần quy định rõ việc đấu nối hệ thống xả thải doanh nghiệp vào hệ thống chung của KCN. Các quy định về phí bảo vệ môi trường, xác định thiệt hại môi trường cần được bổ sung. Đặc biệt là đối với khí thải và môi trường nước. Điều này sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác kiểm soát ô nhiễm công nghiệp.

5.2. Nâng cao năng lực thực thi giám sát pháp luật môi trường

Cần tăng cường năng lực cho các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường. Họ cần được trang bị đầy đủ phương tiện kỹ thuật. Cán bộ BVMT cần được đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn. Điều này giúp họ chủ động hơn trong công tác giám sát môi trường KCN Thanh Hóa. Chế tài xử phạt vi phạm môi trường cần được tăng cường. Mức phạt phải đủ sức răn đe. Quy chuẩn môi trường trong các KCN cần được cập nhật. Chúng phải phù hợp với tiêu chuẩn khu vực, quốc tế. Cần thiết lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ. Bao gồm cả hệ thống giám sát tự động và các đợt kiểm tra định kỳ, đột xuất. Điều này sẽ góp phần hiệu quả vào việc xử lý chất thải khu công nghiệp và đảm bảo môi trường xanh, sạch.

Mục lục chi tiết luận án

MỞ ĐẦU
1. Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.1.1. Các công trình nghiên cứu trong nước
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu về thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường và thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp
2. Chương 2: Những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp
3. Chương 3: Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa
4. Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp từ thực tiễn tỉnh thanh hóa

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (163 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Tính cấp thiết của đề tài Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế mỗi nước với khoa học công nghệ phát triển ngày càng mạnh mẽ thì vấn đề bảo vệ môi trường (BVMT) càng trở nên quan trọng và cấp thiết không chỉ đối với mỗi quốc gia mà đã trở thành vấn đề toàn cầu. Môi trường liên quan chặt chẽ đến cuộc sống của con người, đồng thời là một dạng tài nguyên đặc biệt, ảnh hưởng đến mọi hoạt động và sự phát triển của xã hội. Trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam, sự suy thoái, ô nhiễm và sự cố môi trường đang làm cho môi trường có những thay đổi bất lợi cho con người. Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác, trong quá trình phát triển phải đối mặt với những khó khăn là làm thế nào để cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và BVMT.

Phát triển kinh tế không chỉ là tăng trưởng kinh tế về tốc độ, quy mô mà còn phải bao gồm cả sự cân đối trong tăng trưởng mà môi trường là một trong các yếu tố quan trọng tạo nên sự cân đối đó. Tăng trưởng kinh tế nhưng hy sinh môi trường sẽ để lại những hậu quả khôn lường mà kinh nghiệm quốc tế đã cho thấy, đây là thách thức trong quá trình phát triển đất nước ta trong bối cảnh hội nhập. Ở Việt Nam, vấn đề môi trường đã được đặt ra trước những năm đổi mới. Nhưng chỉ khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thì vấn đề này mới thực sự trở nên cấp thiết.

Từ đó, bảo vệ môi trường được Đảng và Nhà nước, các cấp chính quyền và người dân đặc biệt quan tâm. Ngày 15/11/2004, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW trong đó nhấn mạnh vai trò và nhiệm vụ cơ bản về công tác BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/06/2013 của Bộ Chính trị về việc chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng chỉ rõ yêu cầu:“phát triển nhanh và bền vững, tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, BVMT, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”[53,tr87]. Như vậy, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã khẳng định quan điểm phát triển kinh tế phải đi đôi với BVMT, 1 từng bước thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

Trên thực tế, vi phạm pháp luật về BVMT diễn ra trên nhiều lĩnh vực, địa bàn, nhất là lĩnh vực sản xuất trong các khu công nghiệp (KCN); lĩnh vực sản xuất làng nghề; nhập khẩu; khai thác lâm sản, khoáng sản, lĩnh vực quản lý và xử lý chất thải… Đối với các KCN, theo cổng thông tin điện tử Viện nghiên cứu lập pháp đến hết năm 2018 cả nước có 326 KCN, trong đó một số doanh nghiệp có lắp đặt hệ thống xử lý chất thải nhưng luôn cố tình vi phạm, thủ đoạn tinh vi, lén lút xả thải ra môi trường như xây dựng hệ thống bí mật, phức tạp, ngụy trang bằng hệ thống đạt tiêu chuẩn rất khó phát hiện ra như công ty Vedan Việt Nam, công ty Miwon, công ty Hào Dương, công ty giấy Việt Trì, formosa Hà Tĩnh vi phạm tới 53 lỗi về những quy định của pháp luật về môi trường trong KCN … Tình hình vi phạm pháp luật BVMT diễn biến phức tạp, nhưng việc thực hiện pháp luật BVMT còn nhiều tồn tại. Các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường chưa thực sự chủ động, thiếu phương tiện, cán bộ BVMT hạn chế… là nguyên nhân chủ yếu của thực trạng yếu kém trong thực hiện pháp luật BVMT hiện nay. Thực tiễn này đặt ra vấn đề cần phải hoàn thiện các cơ chế nhằm kiểm soát việc thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN có hiệu quả, trong đó có việc hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này. Việc quy định và thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN như thế nào để vừa gìn giữ được một môi trường xanh, sạch, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân đồng thời vẫn có điều kiện phát huy tối đa các nguồn lực cho phát triển kinh tế đất nước là hết sức quan trọng.

Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về pháp luật BVMT trong các KCN, trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, có thể thấy Luật quy định còn có những nội dung khá chung chung, nhiều thiếu sót, chưa mang tính hệ thống, thiếu cụ thể dẫn tới khó khả thi. Ví dự như: đánh giá tác động môi trường (ĐTM) trong các KCN còn thiếu dẫn đến nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh trong các KCN vẫn có thể lách luật qua các quy định pháp luật để không phải lập báo cáoĐTM ; hệ thống xả thải các chất thải của doanh nghiệp không đấu nói với hệ thống xả thải chung của KCN; thiếu các quy định về phí 2 bảo vệ môi trường đối với khí thải, về xác định thiệt hại môi trường không khí, môi trường nước; chế tài xử phạt khi vi phạm việc thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN;. Bên cạnh đó, quy định về quy chuẩn môi trường trong các KCN hiện nay đã lạc hậu so với khu vực và thế giới. Những điểm thiếu sót hạn chế trong các quy định pháp luật đã gây khó khăn rất lớn cho các cơ quan quản lý nhà nước trong thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN.

Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã, đang và sẽ tham gia vào các sân chơi chung của khu vực cũng như thế giới như: khu vực mậu dịch tự do ASEAN, Tổ chức thương mại thế giới WTO, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Liên minh thuế quan Nga, Belarusia, Kazakhstan,. Việc tham gia vào các sân chơi chung này đòi hỏi Việt Nam phải hoàn thiện các quy định pháp luật môi trường trong nước phù hợp với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, Việt Nam đã tham gia một số công ước quốc tế về BVMT không khí, ứng phó với những biến đổi của khí hậu như: Công ước khung về ứng phó với những biến đổi của khí hậu của Liên hợp quốc, Công ước về bảo vệ tầng ozon, Nghị định thư Kyoto về ứng phó với những biến đổi của khí hậu,. Bởi vậy, nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về BVMT nói chung trong đó có môi trường trong các KCN nói riêng để đảm bảo môi trường trong lành, phù hợp với các cam kết quốc tế là một đòi hỏi cấp thiết.

Ở tỉnh Thanh Hóa, trên cơ sở các quy định của pháp luật về BVMT, chính quyền các cấp đã ban hành các văn bản và thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN. Nhưng nhìn chung việc thực hiện pháp luật BVMT vẫn còn yếu kém, hạn chế, kết quả đạt được chưa đáp ứng yêu cầu. Vì vậy, nghiên cứu những vấn đề vướng mắc về lý luận như chủ thể, nội dung, hình thức thực hiện pháp luật BVMT; đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN ở tỉnh Thanh Hóa cũng như trên cả nước là vấn đề cấp bách hiện nay. Xuất phát từ tình hình trên, tác giả chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” làm Luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, 3 với mong muốn góp phần bảo đảm thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN trên cả nước nói chung và ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN và thực tiễn thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN tỉnh Thanh Hóa, luận án hướng đến mục đích nghiên cứu là đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án cần thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây: Một là: tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án, nghiên cứu sinh cần thu thập các tài liệu, công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án; nhận xét, đánh giá, nêu quan điểm về những kết quả đạt được các công trình nghiên cứu, xác định các vấn đề, nội dung cần tiếp tục giải quyết trong luận án.

Hai là: phân tích, khái quát làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN, bao gồm khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, hình thức, các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN. Ba là: phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện các quy định pháp luật BVMT trong các KCN ở tỉnh Thanh Hóa. Từ đó, rút ra các nhận xét về những ưu điểm, hạn chế; phân tích những nguyên nhân của kết quả và hạn chế. Đây là cơ sở thực tiễn để đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN.

Bốn là: Trên cơ sở nhận thức lý luận, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN ở tỉnh Thanh Hóa, luận án đề xuất các quan điểm, giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN ở Việt Nam hiện nay. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận án 3. Đối tượng nghiên cứu luận án Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN; hệ thống quy định pháp luật BVMT trong các KCN và thực tiễn thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN ở tỉnh Thanh Hóa. Phạm vi nghiên cứu luận án - Về phạm vi nghiên cứu đề tài: tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN.

Không gian nghiên cứu của đề tài là ở tỉnh Thanh Hóa và thời gian nghiên cứu ở thời điểm 5 năm trở lại đây. - Phạm vi về chủ thể: + Các chủ thể quản lý nhà nước: Chính phủ; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp; Sở Tài nguyên và Môi trường; Phòng Tài nguyên và Môi trường; Ban quản lý dự án KCN Thanh Hóa. + Doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các KCN Thanh Hóa. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/luat-hoc/luat-hanh-chinh/luan-an-thuc-hien-phap-luat-bao-ve-moi-truong-trong-cac-khu-cong-nghiep-tu-thuc

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa" nghiên cứu về vấn đề gì?

"Luận án nghiên cứu thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa, đề xuất giải pháp hoàn thiện."

Luận án "Pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa" có bao nhiêu trang?

Luận án "Pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa" có 163 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter