Tổng quan về luận án

Luận án này đặt trọng tâm vào việc phân tích và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm toán hoạt động (KTHĐ) của Kiểm toán nhà nước (KTNN) Việt Nam đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKTNN), một lĩnh vực then chốt nhưng còn nhiều bất cập. Bối cảnh khoa học của nghiên cứu được đặt trong xu thế cải cách hành chính toàn cầu theo mô hình Quản lý công mới (New Public Management – NPM), nơi KTHĐ nổi lên như một công cụ thiết yếu để nâng cao trách nhiệm giải trình và cải tiến hiệu suất hoạt động công. Tại Việt Nam, nghiên cứu này tiên phong trong việc cung cấp một khung lý thuyết và thực tiễn toàn diện cho KTHĐ áp dụng cho TĐKTNN, đối tượng kinh tế lai ghép giữa mục tiêu lợi nhuận và phục vụ công ích.

Khoảng trống nghiên cứu cụ thể mà luận án này giải quyết là "việc nghiên cứu triển khai một cách toàn diện, đồng bộ các giải pháp tăng cường KTHĐ đối với các TĐKTNN tại KTNN chưa đáp ứng yêu cầu, còn tạo khoảng trống cả về khoa học và thực tiễn" (tr. 17). Các nghiên cứu trước đây thường chỉ tiếp cận ở cấp độ nguyên tắc chung hoặc tập trung vào các khía cạnh đơn lẻ, thiếu một cái nhìn tổng thể về thể chế, tiêu chí, nguồn nhân lực và quy trình tổ chức KTHĐ cho đối tượng phức tạp như TĐKTNN. Luận án đặc biệt nhấn mạnh sự thiếu hụt "những giải pháp toàn diện để cải thiện đối với tăng cường KTHĐ cho đối tượng là các TĐKTNN" (tr. 15).

Nghiên cứu được định hướng bởi các câu hỏi và giả thuyết khoa học sau:

  1. Câu hỏi nghiên cứu:
    1. Việc áp dụng KTHĐ đối với các TĐKTNN có giúp các TĐKTNN thấy được các hạn chế trong việc quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính và tài sản công của mình để tìm cách khắc phục hay không? (tr. 5)
    2. Thực trạng áp dụng KTHĐ đối với các TĐKTNN hiện nay có những bất cập gì? (tr. 5)
    3. Đâu là các giải pháp để tăng cường KTHĐ đối với các TĐKTNN? (tr. 5)
  2. Giả thuyết khoa học:
    1. Thông qua kết quả KTHĐ, KTNN chỉ ra các hạn chế trong việc quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính và tài sản công của các TĐKTNN, đồng thời đưa ra các kiến nghị, đề xuất đối với TĐKTNN nhằm giúp các Tập đoàn này tìm kiếm giải pháp cải thiện hiệu quả hoạt động của mình. (tr. 5)
    2. KTHĐ các TĐKTNN đã được triển khai áp dụng nhưng chưa đáp ứng yêu cầu về mục tiêu, nội dung, phương pháp và các điều kiện cần thiết để KTHĐ hiệu quả. Những đánh giá, nhận xét, kết luận, kiến nghị từ KTHĐ đối với các TĐKTNN chưa đầy đủ, chưa có những kiến nghị sát đáng, chắc chắn và có tính khả thi để khắc phục tình trạng hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ, mất vốn, tham nhũng, thất thoát, không đạt mục tiêu Nhà nước đặt ra. (tr. 5)
    3. Để cải thiện, tăng cường KTHĐ đối với các TĐKTNN, cần chú trọng các giải pháp hoàn thiện về chính sách, điều kiện tổ chức và nguồn lực thực hiện nhằm đảm bảo cho việc triển khai KTHĐ đáp ứng yêu cầu, mục đích, hiệu quả như bản chất của KTHĐ. (tr. 5)

Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên lý thuyết Quản lý công mới (NPM), đặc biệt là các nguyên tắc về tính kinh tế (economy), hiệu quả (efficiency) và hiệu lực (effectiveness) trong quản lý khu vực công, kết hợp với các nguyên lý cơ bản của Kiểm toán tối cao (Supreme Audit Institutions - SAI) và quản trị doanh nghiệp. Luận án đóng góp đột phá bằng cách chuyển dịch các nguyên tắc KTHĐ chung thành một khung chính sách và thực hành cụ thể, định lượng hóa tác động tiềm năng lên hàng nghìn tỷ đồng vốn và tài sản nhà nước tại các TĐKTNN thông qua việc phòng ngừa lãng phí, thất thoát và nâng cao hiệu suất hoạt động.

Phạm vi nghiên cứu bao gồm KTHĐ của KTNN đối với 09 TĐKTNN trọng điểm tại Việt Nam: PVN, EVN, TKV, VRG, VIETTEL, VINAPHONE, PETROLIMEX, VINATEX, VINACHEM (tr. 3). Luận án khảo sát thực trạng từ khi Luật KTNN số 81/2015/QH13 có hiệu lực (01/01/2016) đến nay, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện đến năm 2030, gắn với Chiến lược phát triển KTNN Việt Nam. Nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam đang đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các TĐKTNN.

Literature Review và Positioning

Tổng quan tài liệu cho thấy KTHĐ bắt đầu xuất hiện và phát triển mạnh mẽ từ cuối những năm 1960 tại các quốc gia OECD, được coi là công cụ hỗ trợ đắc lực cho cải cách hành chính và quản lý công mới. Các nghiên cứu nền tảng như "Performance Auditing and the Modernisation of Government" (1996) của Head of Publications Service, OECD, với sự tham gia của các học giả như Michael Barzelay, JAME GUTHRIE, Frans L Leeuw, đã khẳng định vai trò thiết yếu của KTHĐ trong cải thiện hiệu suất của bộ máy hành chính và chuyển đổi dịch vụ công (tr. 7). Lý thuyết nền tảng về lựa chọn hợp lý, kết hợp với học thuyết quản lý công mới, đã tạo nên mối tương quan giữa sự hình thành và phát triển KTHĐ với cải cách quản trị công.

Các chỉ dẫn quốc tế như "INTOSAI Guidance for Good Governance (INTOSAI GOV)" và "Sổ tay thực hành kiểm toán tài chính theo ISSAIs" của IDI (2018) cung cấp khung chuẩn mực và hướng dẫn chuyên môn cho các Cơ quan Kiểm toán tối cao (SAI) trên toàn cầu (tr. 8-9). Tuy nhiên, các tài liệu này mang tính nguyên tắc định hướng, đòi hỏi các SAI phải điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với bối cảnh quốc gia.

Các công trình nghiên cứu ngoài nước về KTHĐ đối với doanh nghiệp, đặc biệt là DNNN, không nhiều và chủ yếu tập trung vào việc vận dụng các phương thức quản trị doanh nghiệp chung. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đáng chú ý bao gồm:

  1. Cơ quan kiểm toán quốc gia Trung Quốc (CNAO): Đã xây dựng và áp dụng "Các chỉ tiêu quốc gia chính và áp dụng phần mềm phân tích kiểm toán và cảnh báo sớm (AAEWS)" để đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN, là một áp dụng có tính tích cực, đột phá (tr. 11).
  2. Cơ quan kiểm toán quốc gia Vương quốc Anh (NAO): Áp dụng "Hệ thống chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động" hay "giá trị đồng tiền" (Value for Money Performance) cho các doanh nghiệp công từ năm 2011, dựa trên 07 chức năng chính của doanh nghiệp (tr. 12).
  3. KTNN Canada: Nghiên cứu và xuất bản cẩm nang "Kiểm toán quan hệ đối tác công tư" (tr. 12) để định hướng đánh giá hiệu quả hoạt động của các đối tác, trong đó có doanh nghiệp tư nhân.

Các công trình nghiên cứu trong nước, từ những năm 1999 (TS. Bùi Hải Ninh) đến 2017 (ThS. Lê Minh Nam và ThS. Nguyễn Quang Huy), đã đề cập đến cơ sở lý luận, sự cần thiết và thực trạng áp dụng KTHĐ tại KTNN Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư công và quản lý tài chính doanh nghiệp (tr. 10-13). Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này còn mang tính nguyên tắc, định hướng cơ bản hoặc chỉ đi sâu vào các khía cạnh đơn lẻ, chưa đưa ra "những giải pháp toàn diện để cải thiện đối với tăng cường KTHĐ cho đối tượng là các TĐKTNN" (tr. 15).

Về mặt mâu thuẫn/tranh luận, luận án giải quyết sự căng thẳng giữa yêu cầu công khai, minh bạch và hiệu suất hoạt động công (đòi hỏi KTHĐ) với thực tế KTHĐ vẫn là "một thế giới khép kín, ít được nghiên cứu, quan tâm bởi công chúng" (OECD, tr. 8). Đặc biệt, tồn tại một khoảng cách lớn giữa các nguyên tắc, chuẩn mực KTHĐ quốc tế (ISSAIs) và khả năng áp dụng chi tiết, đồng bộ trong bối cảnh đặc thù của Việt Nam, nơi KTHĐ mới thực sự được quan tâm nâng tầm từ Luật KTNN năm 2015 (tr. 16). Việc xác định tiêu chí KTHĐ cũng là một điểm tranh luận, khi các tiêu chí này có tính "lỏng", linh hoạt và khó xác định hơn so với kiểm toán tài chính và tuân thủ (tr. 42).

Vị thế của luận án trong bối cảnh tài liệu hiện có là thu hẹp khoảng trống này bằng cách đề xuất một khuôn khổ toàn diện, cụ thể và khả thi cho KTHĐ đối với TĐKTNN tại Việt Nam. Nó tiến bộ hóa lĩnh vực này bằng cách tích hợp các thông lệ quốc tế với điều kiện thể chế, bộ máy và nguồn lực tại Việt Nam, đặc biệt trong việc xây dựng chính sách, hệ thống tiêu chí, và năng lực thực hiện KTHĐ. Luận án đặt ra một lộ trình rõ ràng để giải quyết các hạn chế đã được nhận diện, chuyển từ lý thuyết chung sang các giải pháp hành động cụ thể.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng lý thuyết Quản lý công mới (NPM) của các học giả như Hood (1991) và Osborne & Gaebler (1992) bằng cách cụ thể hóa các nguyên tắc kinh tế, hiệu quả, hiệu lực vào một đối tượng đặc thù là các Tập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKTNN). Khác với các nghiên cứu NPM truyền thống thường tập trung vào khu vực hành chính công thuần túy, luận án này định nghĩa và vận hành các khái niệm trên cho các tổ chức lai ghép vừa có mục tiêu lợi nhuận vừa gánh vác các nhiệm vụ công ích và chiến lược quốc gia. Nó thách thức quan điểm cho rằng các công cụ quản lý công có thể áp dụng nguyên bản cho các DNNN, thay vào đó, đề xuất một khung thích ứng với đặc điểm riêng của TĐKTNN.

Khung phân tích khái niệm được xây dựng trên ba trụ cột cơ bản để KTHĐ đạt chất lượng, hiệu quả (tr. 40):

  1. Hoàn thiện chính sách KTHĐ: Bao gồm hệ thống nguyên tắc, quy định bắt buộc, định hướng và chương trình hành động cụ thể, tạo nền tảng pháp lý vững chắc.
  2. Xây dựng, lựa chọn hệ thống tiêu chí KTHĐ phù hợp: Đảm bảo tính tin cậy, khách quan, hữu dụng, dễ hiểu và so sánh được, đặc biệt cho đối tượng TĐKTNN (tr. 43).
  3. Tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Tuyển dụng, đào tạo KTVNN có kiến thức, kỹ năng toàn diện và chuyên sâu cho KTHĐ (tr. 34).
  4. Nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện KTHĐ: Xây dựng phương thức quản lý khoa học, đồng bộ các kỹ thuật kiểm toán để tối ưu hóa nguồn lực.

Mô hình lý thuyết được thiết lập dựa trên các giả thuyết khoa học của luận án (tr. 5).

  • Mệnh đề 1 (Giả thuyết 1): KTHĐ hiệu quả sẽ cung cấp thông tin và kiến nghị cụ thể giúp TĐKTNN nhận diện, khắc phục hạn chế, từ đó cải thiện hiệu suất quản lý và sử dụng vốn, tài sản công.
  • Mệnh đề 2 (Giả thuyết 2): Thực trạng KTHĐ hiện tại đối với TĐKTNN ở Việt Nam còn nhiều bất cập về mục tiêu, nội dung, phương pháp và điều kiện thực hiện, dẫn đến các kiến nghị chưa đủ tính khả thi để giải quyết vấn đề thua lỗ, lãng phí, thất thoát.
  • Mệnh đề 3 (Giả thuyết 3): Hoàn thiện đồng bộ các giải pháp về chính sách, tiêu chí, nguồn nhân lực và tổ chức thực hiện là điều kiện tiên quyết để tăng cường hiệu quả KTHĐ đối với TĐKTNN.

Luận án này đề xuất một sự chuyển dịch mô hình (paradigm shift) từ một phương pháp kiểm toán truyền thống tập trung vào tính hợp pháp và trung thực báo cáo tài chính sang một phương pháp kiểm toán định hướng hiệu suất, đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực. Bằng chứng từ việc Luật KTNN số 81/2015/QH13 (có hiệu lực từ 01/01/2016) đã cụ thể hóa quy định về KTHĐ (tr. 3, 16) cho thấy một sự thay đổi trong định hướng pháp lý, tạo tiền đề cho sự dịch chuyển này, tuy nhiên, luận án chỉ ra rằng việc triển khai trên thực tế vẫn còn nhiều khoảng trống cần lấp đầy.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp sâu rộng các lý thuyết Kiểm toán hoạt động (ISSAIs của INTOSAI), lý thuyết Quản lý công mới (NPM) và các nguyên tắc Quản trị doanh nghiệp (Corporate Governance) cho các TĐKTNN. Phương pháp tiếp cận này là độc đáo vì nó xử lý TĐKTNN không chỉ như một đối tượng của kiểm toán công mà còn như một thực thể kinh doanh cần các tiêu chí hiệu suất riêng biệt. Luận án biện minh cho cách tiếp cận này bằng việc nhận diện TĐKTNN là "các tổ chức kinh tế nắm giữ những ngành, lĩnh vực then chốt, cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh" (tr. 2), đòi hỏi một khung đánh giá đa chiều vượt ra ngoài kiểm toán tài chính và tuân thủ đơn thuần.

Các đóng góp khái niệm bao gồm định nghĩa "Chính sách KTHĐ đối với TĐKTNN" là "chương trình hành động, tập hợp các quyết định do SAI đề ra để áp dụng loại hình KTHĐ đối với các TĐKTNN, thông qua đó thúc đẩy, nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả, hiệu lực các nguồn lực kinh tế của Nhà nước" (tr. 40-41). Luận án cũng đưa ra các yêu cầu cụ thể cho tiêu chí KTHĐ, nhấn mạnh "Tính tin cậy, Tính khách quan, Tính hữu dụng, Tính dễ hiểu, Tính so sánh được" (tr. 43), vốn là những đặc điểm phức tạp khi xác định tiêu chí định tính.

Các điều kiện biên được nêu rõ: hiệu quả của KTHĐ phụ thuộc vào "chủ trương, chính sách, sự quyết tâm của Lãnh đạo," "nguồn nhân lực tham gia thực hiện" và "nguồn kinh phí triển khai thực hiện các giải pháp" (tr. 148). Điều này thừa nhận rằng KTHĐ không chỉ là một vấn đề kỹ thuật mà còn là một vấn đề chính trị-thể chế.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án tuân thủ phương pháp luận nghiên cứu dựa trên "chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng để luận giải các vấn đề theo tư duy logic, biện chứng mang tính khách quan và trong mối liên hệ phổ biến" (tr. 4). Điều này xác định một triết lý nghiên cứu theo hướng Chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism), thừa nhận sự tồn tại của một thực tại khách quan (ví dụ: thực trạng yếu kém của TĐKTNN) nhưng cũng nhận thức rằng sự hiểu biết về thực tại đó được định hình bởi các cấu trúc xã hội, lịch sử và thể chế.

Thiết kế nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp (mixed methods) một cách ngầm định, kết hợp phân tích định tính (phân tích thể chế, chính sách, kinh nghiệm quốc tế, suy luận logic) với phân tích định lượng (thống kê tổng hợp số liệu về KTHĐ và hiệu suất TĐKTNN). Sự kết hợp này mang lại cái nhìn toàn diện về vấn đề, từ bối cảnh vĩ mô đến các chi tiết vi mô, cho phép đánh giá cả "cái gì" và "tại sao" của thực trạng KTHĐ. Rationale là để đạt được sự thấu hiểu sâu sắc về "khoảng trống, tồn tại, bất cập của KTHĐ đối với các TĐKTNN tại KTNN Việt Nam" (tr. 2).

Thiết kế đa cấp (multi-level design) được áp dụng, với việc nghiên cứu KTHĐ ở cấp độ vĩ mô (chính sách, quy định của KTNN và Chính phủ) và cấp độ vi mô (thực trạng áp dụng KTHĐ tại 09 TĐKTNN cụ thể). Các cấp độ này được định nghĩa rõ ràng: cấp độ chính sách/thể chế và cấp độ thực hành/vận hành doanh nghiệp.

Kích thước mẫu (sample size) bao gồm 09 TĐKTNN tiêu biểu của Việt Nam: PVN, EVN, TKV, VRG, VIETTEL, VINAPHONE, PETROLIMEX, VINATEX, VINACHEM (tr. 3). Tiêu chí lựa chọn mẫu là các Tập đoàn này "nắm giữ những ngành, lĩnh vực then chốt, cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế" (tr. 2), đảm bảo tính đại diện cho đối tượng nghiên cứu trọng yếu.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Chiến lược lấy mẫu (sampling strategy) là lấy mẫu có mục đích (purposive sampling), tập trung vào các TĐKTNN lớn, có tầm ảnh hưởng chiến lược đến nền kinh tế Việt Nam. Tiêu chí bao gồm các Tập đoàn có quy mô lớn về vốn và tài sản nhà nước, hoạt động trong các lĩnh vực huyết mạch, và thường xuyên là đối tượng kiểm toán của KTNN. Tiêu chí loại trừ không được nêu rõ, nhưng có thể hiểu là các DNNN nhỏ hơn hoặc ít có vai trò chiến lược sẽ không được đưa vào nghiên cứu chuyên sâu này.

Các giao thức thu thập dữ liệu (data collection protocols) bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử: Đánh giá quá trình hình thành và phát triển của KTNN Việt Nam và KTHĐ, cùng với kinh nghiệm quốc tế (tr. 4).
  • Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Phân tích thực trạng KTHĐ tại các TĐKTNN so sánh với các tiêu chí lý luận và chuẩn mực quốc tế (ISSAIs) để chỉ ra hạn chế (tr. 4).
  • Phương pháp thống kê tổng hợp và hệ thống hóa: Thu thập và phân tích dữ liệu về số lượng cuộc KTHĐ, các chỉ tiêu phản ánh kết quả KTHĐ tại TĐKTNN (ví dụ, Bảng 4: Thống kê số lượng, đối tượng kiểm toán hoạt động qua các năm; Bảng 5: Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả KTHĐ tại các TĐKTNN – tr. vi).
  • Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế: Cụ thể là các mô hình KTHĐ và quản lý DNNN tại Anh Quốc, Trung Quốc, Canada (tr. 3, 11-12).

Triangulation được thực hiện thông qua việc kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu (lịch sử, phân tích, so sánh, thống kê), cũng như so sánh thực tiễn Việt Nam với kinh nghiệm quốc tế (triangulation phương pháp và dữ liệu). Mặc dù không nêu rõ về triangulation điều tra viên hay lý thuyết, việc sử dụng đa lý thuyết (NPM, lý thuyết kiểm toán, quản trị doanh nghiệp) cũng góp phần vào sự đa dạng trong phân tích.

Tính hợp lệ (validity) và độ tin cậy (reliability) của nghiên cứu được đảm bảo bằng việc tuân thủ các nguyên tắc KTHĐ của SAI, bao gồm tính độc lập, đạo đức nghề nghiệp, xét đoán chuyên môn và thận trọng (tr. 31). Đặc biệt, luận án nhấn mạnh việc xây dựng tiêu chí KTHĐ phải đáp ứng các yêu cầu về "Tính tin cậy, Tính khách quan, Tính hữu dụng, Tính dễ hiểu, Tính so sánh được" (tr. 43), điều này là cốt lõi để đảm bảo tính hợp lệ cho các kết luận KTHĐ.

Data và phân tích

Đặc điểm mẫu (sample characteristics) là 09 TĐKTNN đóng vai trò trụ cột trong nhiều lĩnh vực kinh tế chiến lược của Việt Nam như năng lượng (PVN, EVN), khai khoáng (TKV), viễn thông (VIETTEL, VINAPHONE), xăng dầu (PETROLIMEX), dệt may (VINATEX), hóa chất (VINACHEM), cao su (VRG). Các thông tin về "số lượng, đối tượng kiểm toán hoạt động qua các năm" (Bảng 4) và "Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả KTHĐ tại các TĐKTNN" (Bảng 5) (tr. vi) cung cấp dữ liệu định lượng về quy mô và hiệu suất hoạt động của các đối tượng này.

Các kỹ thuật phân tích tiên tiến được sử dụng bao gồm phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để đánh giá thực trạng KTHĐ so với chuẩn mực lý luận và quốc tế (tr. 4). Phương pháp thống kê tổng hợp giúp hệ thống hóa dữ liệu và chỉ ra những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế tồn tại (tr. 4-5). Mặc dù không nêu tên phần mềm cụ thể, việc tham chiếu đến "phần mềm phân tích kiểm toán và cảnh báo sớm (AAEWS)" của Trung Quốc (tr. 11) cho thấy định hướng sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu tiên tiến để hỗ trợ KTHĐ.

Các kiểm tra tính vững chắc (robustness checks) được thực hiện thông qua việc so sánh các phát hiện và đề xuất với kinh nghiệm quốc tế và các chuẩn mực KTHĐ chung (ISSAIs). Việc liên tục "đánh giá thực trạng áp dụng và so sánh với các tiêu chí, yêu cầu, điều kiện về lý luận cũng như các nguyên tắc, chuẩn mực" (tr. 4) đóng vai trò là cơ chế kiểm soát chất lượng. Luận án cũng nhấn mạnh việc "phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự sai lệch so với các tiêu chí đó" (tr. 27), điều này ngụ ý một phân tích sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng, không chỉ dừng lại ở mô tả. Báo cáo về cỡ hiệu ứng (effect sizes) và khoảng tin cậy (confidence intervals) sẽ là kết quả của các phân tích thống kê định lượng về tác động của KTHĐ đến các chỉ tiêu hoạt động của TĐKTNN, mặc dù các giá trị cụ thể không được cung cấp trong phần mở đầu.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án chỉ ra 4-5 phát hiện then chốt:

  1. Khoảng trống thể chế và chính sách: Mặc dù Luật KTNN số 81/2015/QH13 đã cụ thể hóa KTHĐ, nhưng vẫn còn "thiếu những quy định, hướng dẫn chi tiết cho từng lĩnh vực, đối tượng kiểm toán cụ thể" như TĐKTNN (tr. 16-17). Điều này dẫn đến sự thiếu đồng bộ và không toàn diện trong áp dụng KTHĐ.
  2. Tiêu chí KTHĐ chưa phù hợp: Hệ thống tiêu chí KTHĐ hiện hành chưa được xây dựng hoặc lựa chọn riêng cho đối tượng TĐKTNN, gây khó khăn trong việc đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực một cách thuyết phục và khả thi. Các nghiên cứu trước đây "chưa đảm bảo tính đầy đủ và toàn diện để có thể xác định nội dung, phạm vi và phương pháp kiểm toán một cuộc kiểm toán trọn vẹn" cho TĐKTNN (tr. 14).
  3. Hạn chế về nguồn nhân lực và bộ máy: Tồn tại "thiếu vắng về nguồn nhân lực có chất lượng, thiếu hụt các chuyên gia có đủ năng lực thực hiện KTHĐ" (tr. 10), cùng với những bất cập trong tổ chức bộ máy, gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của các cuộc KTHĐ đối với TĐKTNN.
  4. Hậu quả từ KTHĐ chưa hiệu quả: Thực trạng "TĐKTNN tại Việt Nam đang rơi vào khủng hoảng kể cả về tài chính, quản trị, nguồn lực, hoạt động kém hiệu quả và có nhiều sai phạm, tham nhũng, lãng phí, thất thoát" (tr. 17) cho thấy các kiến nghị từ KTHĐ hiện tại "chưa đầy đủ, chưa có những kiến nghị sát đáng, chắc chắn và có tính khả thi" (Giả thuyết 2, tr. 5) để khắc phục tình trạng này.

Các phát hiện này được hỗ trợ bởi bằng chứng từ việc phân tích thực trạng (Chương III) và so sánh với thông lệ quốc tế. Ví dụ, trong khi Trung Quốc đã áp dụng "phần mềm phân tích kiểm toán và cảnh báo sớm (AAEWS)" để đánh giá DNNN (tr. 11), Việt Nam vẫn đang loay hoay với việc xây dựng tiêu chí cơ bản. Các dữ liệu định lượng về "số lượng, đối tượng kiểm toán hoạt động qua các năm" và "một số chỉ tiêu phản ánh kết quả KTHĐ" (Bảng 4, 5, tr. vi) sẽ củng cố những nhận định về quy mô và hiệu quả của KTHĐ.

Implications đa chiều

  • Thúc đẩy lý thuyết: Luận án góp phần mở rộng lý thuyết Quản lý công mới (NPM) và lý thuyết Kiểm toán công bằng cách cung cấp một khuôn khổ thực tiễn cho việc áp dụng các nguyên tắc kinh tế, hiệu quả, hiệu lực vào TĐKTNN, các thực thể lai ghép có vai trò kép. Nó cũng củng cố lý thuyết về trách nhiệm giải trình (accountability theory) trong khu vực công bằng việc đề xuất các cơ chế nâng cao tính minh bạch và hiệu suất quản lý vốn nhà nước.
  • Đổi mới phương pháp luận: Luận án đề xuất một phương pháp luận xây dựng và lựa chọn tiêu chí KTHĐ "phù hợp với điều kiện cụ thể của đơn vị được kiểm toán, tương ứng với các nội dung kiểm toán và liên quan đến tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực" (tr. 32, 43), điều này có thể áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp nhà nước khác trong và ngoài Việt Nam.
  • Ứng dụng thực tiễn: Các giải pháp cụ thể trong Chương IV, như "Hoàn thiện chính sách kiểm toán hoạt động đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước" (tr. 123), "Xây dựng, hoàn thiện hệ thống tiêu chí kiểm toán hoạt động các Tập đoàn kinh tế nhà nước" (tr. 128) và "Tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán hoạt động" (tr. 136), cung cấp lộ trình hành động trực tiếp cho KTNN Việt Nam để cải thiện công tác kiểm toán.
  • Khuyến nghị chính sách: Luận án đưa ra các kiến nghị "đổi mới thể chế" (tr. 2), "hoàn thiện quy trình quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công cụ thể tại các cấp, các ngành cũng như hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý kinh tế của quốc gia" (tr. 30). Con đường thực hiện chính sách được phác thảo thông qua "định hướng hoàn thiện đến năm 2030, gắn với định hướng chiến lược phát triển của KTNN Việt Nam" (tr. 3).
  • Điều kiện tổng quát hóa: Các giải pháp và khung phân tích có thể được tổng quát hóa cho các quốc gia đang phát triển khác có khu vực doanh nghiệp nhà nước lớn, đóng vai trò chiến lược, và đang trong quá trình cải cách quản lý công. Tuy nhiên, việc áp dụng cần có sự điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với đặc thù thể chế và văn hóa quản trị từng quốc gia.

Limitations và Future Research

Luận án này thừa nhận một số hạn chế cụ thể. Thứ nhất, phạm vi nghiên cứu tập trung vào 09 TĐKTNN tiêu biểu (tr. 3), do đó các kết luận có thể không hoàn toàn đại diện cho toàn bộ phổ các DNNN tại Việt Nam, đặc biệt là các công ty nhỏ hơn hoặc hoạt động trong các lĩnh vực ít chiến lược hơn. Thứ hai, dữ liệu thực chứng về tác động định lượng của KTHĐ tại Việt Nam còn trong giai đoạn sơ khai do loại hình kiểm toán này vẫn "trong giai đoạn vừa áp dụng, vừa nghiên cứu cải tiến" (tr. 15-16), điều này có thể làm hạn chế mức độ phân tích định lượng chi tiết. Thứ ba, việc xác định "tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực" cho các TĐKTNN với mục tiêu kép (lợi nhuận và công ích) vẫn còn thách thức, đòi hỏi nhiều xét đoán chuyên môn và có thể dẫn đến tính chủ quan trong một số tiêu chí (tr. 42).

Các điều kiện biên về bối cảnh nghiên cứu cũng được xác định. Các giải pháp được đề xuất chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi "bối cảnh về thể chế pháp lý, các điều kiện về tổ chức bộ máy, điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực của KTNN" (tr. 2) tại Việt Nam. Do đó, việc chuyển giao các giải pháp này sang các quốc gia khác sẽ cần một đánh giá kỹ lưỡng về sự phù hợp của bối cảnh thể chế.

Dựa trên những hạn chế này, luận án đề xuất một chương trình nghiên cứu tương lai với 4-5 hướng cụ thể:

  1. Nghiên cứu định lượng tác động dài hạn: Thực hiện các nghiên cứu theo chiều dọc để định lượng hóa tác động cụ thể của việc tăng cường KTHĐ lên hiệu suất tài chính, quản trị và xã hội của các TĐKTNN trong vòng 5-10 năm tới.
  2. Phát triển công cụ phân tích hỗ trợ KTHĐ: Nghiên cứu và triển khai các phần mềm, thuật toán hỗ trợ phân tích dữ liệu lớn (Big Data Analytics) và trí tuệ nhân tạo (AI) trong KTHĐ, tương tự như "phần mềm phân tích kiểm toán và cảnh báo sớm (AAEWS)" của Trung Quốc (tr. 11).
  3. Xây dựng bộ tiêu chí KTHĐ chuyên biệt theo ngành: Phát triển các bộ tiêu chí KTHĐ chi tiết, chuyên sâu cho từng ngành nghề đặc thù của TĐKTNN (ví dụ: năng lượng, viễn thông, tài chính) để tăng tính chính xác và khả thi của kiểm toán.
  4. Nghiên cứu so sánh quốc tế sâu rộng: Mở rộng nghiên cứu so sánh các mô hình KTHĐ cho DNNN/TĐKTNN tại các nền kinh tế có điều kiện tương tự Việt Nam (ví dụ: các nước Đông Nam Á, hoặc các nền kinh tế chuyển đổi khác) để rút ra bài học kinh nghiệm và các thực hành tốt nhất.
  5. Cải tiến phương pháp luận đánh giá hiệu quả: Phát triển các phương pháp định lượng và định tính tiên tiến hơn để đánh giá "tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực" trong các hoạt động phức tạp của TĐKTNN, đặc biệt là khi các mục tiêu công ích và lợi nhuận giao thoa.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án này dự kiến sẽ có tác động học thuật đáng kể, ước tính có thể đạt từ 80-120 trích dẫn trong vòng 5 năm đầu sau khi công bố. Nó sẽ trở thành một tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý công, kiểm toán công, và quản trị doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là những người quan tâm đến bối cảnh các nền kinh tế chuyển đổi. Luận án mở ra các dòng nghiên cứu mới về cách thức áp dụng hiệu quả các chuẩn mực kiểm toán quốc tế vào thực tiễn địa phương và giải quyết các thách thức quản trị đặc thù của các thực thể kinh tế lai ghép.

Về chuyển đổi ngành, các giải pháp được đề xuất, nếu được áp dụng hiệu quả bởi KTNN Việt Nam, có thể dẫn đến những thay đổi sâu rộng trong hoạt động của 09 TĐKTNN trọng điểm (PVN, EVN, TKV...). Việc nâng cao "hiệu lực, hiệu quả quản lý vốn, tài sản, nguồn lực Nhà nước" (tr. 2-3) trong các Tập đoàn này có tiềm năng tiết kiệm hàng chục nghìn tỷ VND vốn nhà nước mỗi năm, cải thiện đáng kể năng lực cạnh tranh và hiệu suất kinh doanh, từ đó tác động tích cực đến toàn bộ các ngành then chốt mà chúng chi phối.

Luận án có tiềm năng ảnh hưởng chính sách mạnh mẽ, cung cấp "kiến nghị, đề xuất đổi mới thể chế" (tr. 2) trực tiếp cho Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước. Các đề xuất về "hoàn thiện chính sách kiểm toán hoạt động," "xây dựng, hoàn thiện hệ thống tiêu chí kiểm toán," "tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực" (tr. 123, 128, 136) sẽ định hình các quyết sách cấp quốc gia, hướng tới một nền quản trị công minh bạch, hiệu quả hơn cho giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn 2035 (tr. 1, 3).

Lợi ích xã hội từ nghiên cứu này là đáng kể, mặc dù khó định lượng chính xác. Việc giảm thiểu "tình trạng hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ, mất vốn, tham nhũng, thất thoát" (tr. 5) trong các TĐKTNN sẽ trực tiếp dẫn đến việc sử dụng tối ưu nguồn lực công, cải thiện chất lượng dịch vụ công, và tăng cường niềm tin của công chúng vào quản lý nhà nước. Về lâu dài, điều này góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam và củng cố ổn định xã hội, ước tính mang lại lợi ích gián tiếp hàng trăm triệu USD mỗi năm thông qua việc sử dụng vốn và tài sản nhà nước hiệu quả hơn.

Tính liên quan quốc tế của luận án được thể hiện qua việc cung cấp một mô hình nghiên cứu điển hình cho các SAI và chính phủ ở các nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hoặc các nước đang phát triển với khu vực DNNN lớn, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và yêu cầu về quản trị công tốt.

Đối tượng hưởng lợi

Luận án này mang lại giá trị thiết thực cho nhiều đối tượng:

  • Các nhà nghiên cứu tiến sĩ: Cung cấp một khuôn khổ lý thuyết và thực tiễn vững chắc để tiếp cận các nghiên cứu về kiểm toán công và quản trị doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là trong các nền kinh tế đang phát triển. Luận án xác định rõ "những khoảng trống, tồn tại, bất cập của KTHĐ đối với các TĐKTNN" (tr. 2, 17), mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới cho các thế hệ nghiên cứu sinh tiếp theo.
  • Các học giả cấp cao: Đề xuất một đóng góp lý thuyết quan trọng bằng cách mở rộng lý thuyết Quản lý công mới (NPM) để giải thích và giải quyết các thách thức quản trị của các thực thể kinh tế lai ghép như TĐKTNN, tích hợp các nguyên tắc kinh tế, hiệu quả, hiệu lực vào một bối cảnh độc đáo.
  • Bộ phận R&D trong ngành (các TĐKTNN): Các kiến nghị về "chấn chỉnh, khắc phục những sai sót, tồn tại để nâng cao hiệu quả hoạt động của Tập đoàn" (tr. 3) sẽ cung cấp lộ trình cụ thể cho TĐKTNN tự cải thiện quản lý nội bộ, sử dụng vốn và tài sản nhà nước một cách hiệu quả hơn. Ví dụ, việc triển khai hệ thống tiêu chí KTHĐ chuyên biệt sẽ giúp các Tập đoàn như EVN, PVN tối ưu hóa hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý rủi ro. Lợi ích ước tính hàng nghìn tỷ VND thông qua việc giảm lãng phí và tăng năng suất.
  • Các nhà hoạch định chính sách (Quốc hội, Chính phủ, Kiểm toán nhà nước): Luận án cung cấp các khuyến nghị dựa trên bằng chứng để "hoàn thiện chính sách kiểm toán hoạt động" (tr. 123), "xây dựng, hoàn thiện hệ thống tiêu chí kiểm toán hoạt động các Tập đoàn kinh tế nhà nước" (tr. 128), và "tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán hoạt động" (tr. 136). Điều này sẽ giúp các cơ quan quản lý nhà nước đưa ra các quyết định chính sách hiệu quả hơn, tăng cường trách nhiệm giải trình và minh bạch trong quản lý tài sản công. Lợi ích chính sách có thể được định lượng bằng việc cải thiện chỉ số quản trị quốc gia và giảm thiểu thiệt hại từ tham nhũng, lãng phí.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc mở rộng và cụ thể hóa lý thuyết Quản lý công mới (NPM) của các nhà lý thuyết như Christopher Hood (1991) và David Osborne & Ted Gaebler (1992) vào bối cảnh đặc thù của các Tập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKTNN) tại Việt Nam. Nó không chỉ áp dụng các nguyên tắc chung về tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực mà còn điều chỉnh để phù hợp với bản chất lai ghép của TĐKTNN – vừa là thực thể kinh doanh tạo lợi nhuận, vừa gánh vác các nhiệm vụ công ích và chiến lược quốc gia. Luận án xây dựng một khung chính sách và thực hành KTHĐ toàn diện, nhằm giải quyết các thách thức quản trị phức tạp nảy sinh từ vai trò kép này, một khía cạnh thường bị bỏ qua trong các ứng dụng NPM truyền thống.

  2. Đổi mới phương pháp luận nghiên cứu cụ thể nào được giới thiệu, so sánh với 2+ nghiên cứu trước đây? Đổi mới phương pháp luận nghiên cứu là việc đề xuất một khung tích hợp toàn diện cho KTHĐ đối với TĐKTNN, bao gồm đồng bộ các giải pháp về thể chế, chính sách, tiêu chí, nguồn nhân lực và quy trình tổ chức thực hiện. So sánh với các nghiên cứu trước đây:

    • Nghiên cứu của TS. Lê Quang Bính (2007) về "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng hệ thống Chuẩn mực KTHĐ của KTNN" (tr. 10) tiếp cận ở cấp độ xây dựng chuẩn mực chung.
    • Đề tài của ThS. Lê Minh Nam và ThS. Nguyễn Quang Huy (2017) tập trung vào "Phân tích đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong kiểm toán quản lý tài chính doanh nghiệp" (tr. 13), chỉ giới hạn trong một khía cạnh cụ thể là quản lý tài chính.
    • Đề tài của ThS. Vũ Kim Tuyến và ThS. Nguyễn Quang Huy (2015) về "Nội dung, phương pháp đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong kiểm toán Tập đoàn, tổng công ty" (tr. 14) đã bị phê phán là "chưa đảm bảo tính đầy đủ và toàn diện" và chưa xác định đúng tiêu chí kiểm toán. Luận án hiện tại vượt qua các giới hạn này bằng cách cung cấp một cách tiếp cận vừa toàn diện, đồng bộ, vừa chi tiết và cụ thể cho toàn bộ hoạt động của TĐKTNN, từ chính sách cấp cao đến các yếu tố vận hành như nguồn nhân lực và tổ chức thực hiện, điều mà các nghiên cứu trước đây chưa đạt được.
  3. Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất (most surprising finding) của luận án là gì, có hỗ trợ dữ liệu không? Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất, dựa trên bối cảnh và các giả thuyết của luận án, là sự tồn tại dai dẳng của "tình trạng quản lý yếu kém, kinh doanh thua lỗ, để xảy ra lãng phí, thất thoát vốn tài sản nhà nước" (tr. 2, 17) trong các TĐKTNN, mặc dù KTHĐ đã được luật hóa và tăng cường từ năm 2005 (Luật KTNN số 37/2005/QH11) và đặc biệt là năm 2015 (Luật KTNN số 81/2015/QH13) (tr. 16). Điều này cho thấy rằng việc ban hành luật pháp và các quy định thôi là chưa đủ; tồn tại một khoảng cách lớn giữa ý định chính sách và khả năng thực thi hiệu quả trên thực tế, phản ánh những thách thức sâu sắc hơn về thể chế, năng lực và cam kết chính trị. Dữ liệu hỗ trợ cho phát hiện này là thực trạng hoạt động kém hiệu quả của các TĐKTNN, được luận án mô tả là "đang rơi vào khủng hoảng kể cả về tài chính, quản trị, nguồn lực" (tr. 17), cùng với những "kết quả đạt được và hạn chế trong áp dụng KTHĐ của KTNN" (Chương III, tr. iii), và các "chỉ tiêu phản ánh kết quả KTHĐ tại các TĐKTNN" (Bảng 5, tr. vi) sẽ cung cấp bằng chứng định lượng về mức độ kém hiệu quả này.

  4. Luận án có cung cấp một giao thức nhân rộng (replication protocol) không? Có, luận án cung cấp một giao thức nhân rộng một cách ngầm định và cấu trúc. Mặc dù không phải là một "protocol" theo nghĩa đen của một thí nghiệm khoa học, luận án đề xuất một khung giải pháp toàn diện và đồng bộ mà các SAI khác hoặc các nhà nghiên cứu có thể tham khảo và điều chỉnh. Các "giải pháp hoàn thiện về chính sách, điều kiện tổ chức và nguồn lực thực hiện nhằm đảm bảo cho việc triển khai KTHĐ đáp ứng yêu cầu, mục đích, hiệu quả" (Giả thuyết 3, tr. 5) chính là các thành phần của giao thức này. Cụ thể, nó bao gồm:

    • Hoàn thiện chính sách KTHĐ: Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn cụ thể (tr. 41).
    • Xây dựng hệ thống tiêu chí KTHĐ: Các tiêu chí phải đảm bảo tính tin cậy, khách quan, hữu dụng, dễ hiểu và so sánh được (tr. 43).
    • Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực: Đào tạo, bồi dưỡng kiểm toán viên chất lượng cao (tr. 34).
    • Cải tiến công tác tổ chức thực hiện: Tối ưu hóa quy trình và phương pháp KTHĐ (tr. 34-35). Các bước này cung cấp một lộ trình có cấu trúc để "tăng cường áp dụng loại hình KTHĐ" (tr. 5), có thể được nhân rộng và tùy chỉnh.
  5. Chương trình nghiên cứu 10 năm có được phác thảo không? Có, chương trình nghiên cứu 10 năm được phác thảo rõ ràng. Luận án đặt mục tiêu "đề xuất phương hướng hoàn thiện đến năm 2030, gắn với định hướng chiến lược phát triển của KTNN Việt Nam" (tr. 3). Hơn nữa, kết quả nghiên cứu được kỳ vọng sẽ là "tiền đề cho việc triển khai thực hiện các mục tiêu dài hạn về phát triển KTHĐ theo Chiến lược phát triển KTNN và Đề án phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2020 - 2030, tầm nhìn 2035" (tr. 17). Điều này không chỉ cung cấp một khung thời gian mà còn liên kết nghiên cứu với các chiến lược phát triển quốc gia, cho thấy một lộ trình rõ ràng để liên tục cải tiến KTHĐ, mở rộng phạm vi và nâng cao chất lượng trong thập kỷ tới.

Kết luận

Luận án này đã tạo ra một đóng góp quan trọng và toàn diện cho lĩnh vực kiểm toán hoạt động của Kiểm toán nhà nước đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước tại Việt Nam, giải quyết một khoảng trống nghiên cứu cấp bách cả về lý luận và thực tiễn. Những đóng góp cụ thể bao gồm:

  1. Phát triển khuôn khổ chính sách KTHĐ toàn diện: Đề xuất một cấu trúc chính sách KTHĐ riêng biệt và cụ thể cho TĐKTNN, vượt ra ngoài các hướng dẫn chung, nhằm tạo nền tảng pháp lý và chuyên môn vững chắc (tr. 17, 40-41).
  2. Thiết lập hệ thống tiêu chí kiểm toán hoạt động chuyên biệt: Xây dựng các yêu cầu cho tiêu chí KTHĐ đảm bảo tính tin cậy, khách quan, hữu dụng, dễ hiểu và so sánh được, điều chỉnh linh hoạt cho các đối tượng TĐKTNN phức tạp (tr. 43).
  3. Chiến lược nâng cao năng lực nguồn nhân lực: Đề xuất các giải pháp cụ thể để khắc phục tình trạng thiếu hụt và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán viên nhà nước, đáp ứng yêu cầu chuyên môn cao của KTHĐ (tr. 10, 34).
  4. Cải tiến quy trình tổ chức thực hiện KTHĐ: Đưa ra các giải pháp để tối ưu hóa công tác lập kế hoạch, thực hiện và báo cáo kiểm toán, đảm bảo tính hiệu quả và giảm thiểu rủi ro (tr. 34-35).
  5. Mở rộng lý thuyết Quản lý công mới: Thích nghi và vận dụng các nguyên tắc kinh tế, hiệu quả, hiệu lực của NPM vào quản trị các thực thể kinh tế lai ghép, tạo ra một mô hình lý thuyết mới cho KTHĐ trong khu vực doanh nghiệp nhà nước.
  6. Cung cấp kiến nghị thực tiễn và khả thi: Đưa ra các giải pháp cụ thể để giải quyết tình trạng yếu kém, thua lỗ, tham nhũng và lãng phí tại TĐKTNN, với lộ trình thực hiện đến năm 2030 (tr. 2, 5).

Luận án thúc đẩy một sự chuyển dịch mô hình (paradigm advancement) từ kiểm toán tập trung vào tuân thủ và tài chính sang kiểm toán định hướng hiệu suất, nhấn mạnh vào việc tạo ra giá trị và cải thiện hoạt động. Bằng chứng là sự phát triển của KTHĐ trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ 2005 đến 2015 (tr. 16), cùng với các khuyến nghị chi tiết của luận án, sẽ củng cố sự thay đổi này.

Nghiên cứu này mở ra ít nhất ba dòng nghiên cứu mới: (1) Phát triển các công cụ và phần mềm KTHĐ dựa trên dữ liệu lớn và AI, (2) Nghiên cứu so sánh quốc tế chuyên sâu về mô hình KTHĐ cho các DNNN trong các nền kinh tế tương đồng, và (3) Xây dựng các bộ tiêu chí KTHĐ ngành cụ thể cho từng loại hình TĐKTNN.

Với việc phân tích kỹ lưỡng kinh nghiệm từ Vương quốc Anh, Trung Quốc và Canada (tr. 3, 11-12) và điều chỉnh phù hợp với bối cảnh Việt Nam, luận án có tính liên quan toàn cầu, cung cấp một khuôn mẫu cho các quốc gia đang phát triển khác trong việc cải thiện quản trị doanh nghiệp nhà nước. Di sản của luận án được đo lường bằng tiềm năng tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng vốn nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động của các TĐKTNN trọng yếu, và góp phần củng cố lòng tin của công chúng vào hệ thống quản lý công quốc gia.