Luận án tiến sĩ khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công - TS Nguyễn Tân Thịnh, HV Hậu Cần
"Luận án tiến sĩ nghiên cứu khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công tại Việt Nam. Đề xuất chiến lược hiệu quả và bền vững cho quản lý tài sản công."
Tài chính - Ngân hàng - Bảo hiểm
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
181
Thời gian đọc
28 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Lý luận về khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công
- Số trang:
- 181 trang
- Trường:
- học viện hậu cần
- Chuyên ngành:
- Tài chính - Ngân hàng - Bảo hiểm
- Tác giả:
- Nguyễn Tân Thịnh
- Năm:
- 2019
Tóm tắt nội dung luận án
I. Lý luận về khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công
Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công là quá trình chuyển hóa tiềm năng tài sản nhà nước thành các dòng tiền cụ thể. Hoạt động này giữ vai trò chiến lược trong việc bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội. Tài sản công không đơn thuần là công cụ phục vụ quản lý nhà nước mà còn là nguồn vốn kinh tế đặc biệt. Việc chuyển từ tư duy hành chính sang quản trị kinh doanh giúp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài sản. Nhà nước bảo toàn vốn công và gia tăng nguồn thu ngân sách từ tài sản công một cách bền vững. Cơ chế quản lý hiện đại tạo động lực phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng và thị trường.
1.1. Bản chất và vai trò của tài sản công trong nền kinh tế
Tài sản công bao gồm đất đai, tài nguyên khoáng sản, công trình kết cấu hạ tầng và trụ sở công vụ. Nhóm tài sản này giữ vai trò nền tảng duy trì bộ máy quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công cộng. Trong nền kinh tế thị trường, tài sản công mang giá trị thương mại rất lớn. Việc khai thác đúng cách kích thích sản xuất kinh doanh và tạo công ăn việc làm cho xã hội. Nguồn lực tài chính từ tài sản công giúp bù đắp tình trạng thiếu hụt vốn ngân sách dành cho đầu tư công. Hiệu quả khai thác tài sản phản ánh trực tiếp năng lực quản trị quốc gia. Quá trình này đòi hỏi sự cân bằng giữa mục tiêu tài chính và an sinh xã hội.
1.2. Các hình thức khai thác nguồn thu ngân sách từ tài sản công
Các hình thức khai thác nguồn thu ngân sách từ tài sản công được triển khai rất đa dạng trong thực tiễn. Cơ quan chức năng thực hiện giao quyền sử dụng, cho thuê, chuyển nhượng hoặc góp vốn liên doanh liên kết. Nhà nước thu hồi chi phí thông qua tiền thuê đất, phí khai thác hạ tầng và tiền bán tài sản dôi dư. Mỗi nhóm tài sản đòi hỏi công cụ tài chính phù hợp với đặc thù kinh tế kỹ thuật. Nhóm tài sản có khả năng sinh lời thương mại được ưu tiên đấu thầu công khai. Đơn vị sự nghiệp công lập áp dụng phương thức tự chủ tài chính linh hoạt để nâng cao hiệu quả hoạt động. Việc đa dạng hóa hình thức khai thác tối đa hóa nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về quản lý sử dụng tài sản công hiệu quả
Nhiều quốc gia phát triển đã thành công trong việc quản lý sử dụng tài sản công thông qua cơ chế thị trường. Các quốc gia như Singapore, Anh và New Zealand tách bạch rõ ràng giữa quyền sở hữu nhà nước và quyền vận hành kinh doanh. Họ thành lập các cơ quan chuyên trách quản lý tài sản công độc lập và vận hành theo chuẩn mực doanh nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp số hóa toàn bộ dữ liệu tài sản quốc gia theo thời gian thực. Minh bạch hóa thông tin là chìa khóa then chốt ngăn ngừa thất thoát và tiêu cực. Việt Nam cần tiếp thu bài học kinh nghiệm về phân cấp thẩm quyền gắn liền với trách nhiệm giải trình và cơ chế giám sát tài chính nghiêm ngặt.
II. Thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công
Thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công tại Việt Nam đã ghi nhận nhiều bước tiến quan trọng. Khung khổ pháp lý và cơ chế quản lý từng bước được đổi mới theo hướng hiện đại hóa. Nguồn thu từ tài sản công đóng góp tỷ trọng ngày càng lớn vào tổng thu ngân sách nhà nước. Khoản thu này hỗ trợ đắc lực cho các chương trình phát triển hạ tầng và xóa đói giảm nghèo. Dù vậy, hiệu quả tổng thể vẫn chưa tương xứng với tiềm năng tài sản hiện hữu. Nhiều khối tài sản lớn còn bị phân tán và sử dụng chưa hiệu quả. Yêu cầu đổi mới căn bản phương thức khai thác đang trở nên hết sức cấp bách.
2.1. Đánh giá việc áp dụng Luật Quản lý sử dụng tài sản công
Luật Quản lý sử dụng tài sản công năm 2017 đã tạo ra khung pháp lý hoàn chỉnh và đồng bộ hơn. Luật xác lập rõ nguyên tắc khai thác tài sản theo cơ chế thị trường và đảm bảo tính công khai minh bạch. Thẩm quyền quyết định xử lý và khai thác tài sản được phân cấp mạnh mẽ cho các bộ ngành và địa phương. Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công được xây dựng và từng bước chuẩn hóa. Tuy nhiên, một số văn bản quy định chi tiết thi hành luật vẫn ban hành chậm. Việc áp dụng các hình thức khai thác mới còn gặp nhiều lúng túng trong khâu tổ chức thực hiện tại cơ sở.
2.2. Kết quả đạt được trong việc tạo nguồn thu ngân sách nhà nước
Giai đoạn vừa qua chứng kiến sự gia tăng liên tục của nguồn thu ngân sách từ tài sản công trên phạm vi cả nước. Tiền sử dụng đất và tiền thuê đất trở thành nguồn lực tài chính chủ lực của nhiều địa phương. Hoạt động cho thuê tài sản và dịch vụ sự nghiệp công lập mang lại nguồn thu ổn định cho các cơ sở. Việc xử lý tài sản xác lập quyền sở hữu nhà nước như tài sản tịch thu, vô chủ được thực hiện chặt chẽ hơn. Hoạt động tái cơ cấu và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mang lại nguồn vốn lớn cho quỹ hỗ trợ phát triển. Các kết quả này chứng minh tiềm năng tài chính to lớn của tài sản công.
2.3. Hạn chế và nguyên nhân tồn tại trong công tác quản lý tài sản
Công tác khai thác tài sản công vẫn còn tồn tại nhiều điểm nghẽn và hạn chế cố hữu. Tình trạng lãng phí, sử dụng tài sản sai mục đích hoặc để hoang hóa vẫn xuất hiện tại nhiều nơi. Việc hạch toán kế toán giá trị tài sản chưa phản ánh đầy đủ theo giá trị thị trường thực tế. Công tác thanh tra, kiểm tra tài sản chưa bao quát và chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe. Nguyên nhân chính là do nhận thức về giá trị kinh tế của tài sản công ở một số cấp quản lý còn hạn chế. Hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu chưa thực sự đồng bộ và liên thông giữa các ngành.
III. Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai và bất động sản
Đất đai và bất động sản công chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng quy mô tài sản công của quốc gia. Đây là nguồn lực kinh tế đặc biệt thúc đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa. Cơ chế định giá đất và quy trình cấp quyền sử dụng đất quyết định hiệu quả phân bổ nguồn lực xã hội. Nguồn thu từ nhà đất luôn giữ vai trò trụ cột trong tổng nguồn thu ngân sách từ tài sản công. Quản lý chặt chẽ bất động sản công giúp ngăn ngừa đầu cơ và tạo quỹ đất cho hạ tầng. Tối ưu hóa nguồn tài chính từ đất đai là ưu tiên hàng đầu của nền tài chính quốc gia.
3.1. Huy động nguồn lực tài chính từ đất đai qua tiền thuê đất
Chính sách huy động nguồn lực tài chính từ đất đai thông qua tiền thuê đất liên tục được điều chỉnh hoàn thiện. Nhà nước chuyển đổi mạnh mẽ các đối tượng thuê đất từ trả tiền một lần sang trả tiền hàng năm. Bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất hàng năm được cập nhật sát với diễn biến thị trường. Cơ chế này bảo đảm nguồn thu ngân sách ổn định và chống thất thoát địa tô chênh lệch. Doanh nghiệp thuê đất có ý thức sử dụng đất tiết kiệm và hiệu quả hơn. Nguồn thu từ tiền thuê đất và tiền sử dụng đất được tập trung đầu tư phát triển hệ thống giao thông và chỉnh trang đô thị.
3.2. Sắp xếp lại và xử lý nhà đất công tại các cơ quan hành chính
Chủ trương sắp xếp lại và xử lý nhà đất công được triển khai quyết liệt tại tất cả cơ quan hành chính. Các địa phương rà soát kỹ lưỡng các cơ sở nhà đất dôi dư sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính. Những diện tích nhà đất sử dụng sai mục đích hoặc cho mượn trái phép đều bị thu hồi dứt điểm. Nhà nước chuyển giao hoặc tổ chức bán đấu giá công khai các cơ sở nhà đất có vị trí đắc địa. Toàn bộ số tiền thu được từ bán đấu giá nộp vào ngân sách để xây dựng trụ sở mới hiện đại. Phương án này vừa tạo nguồn vốn lớn vừa nâng cao mỹ quan đô thị.
3.3. Thu tiền sử dụng đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất công
Thu tiền sử dụng đất là cấu phần tài chính quan trọng trong nguồn thu ngân sách của các địa phương. Việc chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất ở và thương mại đòi hỏi định giá minh bạch. Cơ quan chức năng tăng cường hình thức đấu giá quyền sử dụng đất để chọn lựa nhà đầu tư đủ năng lực. Hình thức đấu giá tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và thu hồi tối đa giá trị thặng dư địa tô. Chính quyền địa phương giám sát chặt chẽ nghĩa vụ tài chính của các chủ đầu tư dự án bất động sản. Nguồn tiền thu được ưu tiên phân bổ cho các công trình y tế, giáo dục và giao thông nông thôn.
IV. Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công hạ tầng
Tài sản kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, y tế và giáo dục có quy mô giá trị rất lớn. Khai thác hiệu quả nhóm tài sản này tạo động lực lan tỏa cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Phương thức đầu tư theo hình thức đối tác công tư mở ra cơ hội huy động vốn xã hội mạnh mẽ. Nhà nước giảm bớt áp lực nợ công và chi phí bảo trì thường xuyên từ nguồn ngân sách. Khu vực tư nhân đem lại công nghệ vận hành hiện đại và dịch vụ chất lượng cao cho người dân. Nguồn thu ngân sách từ tài sản công hạ tầng được tái đầu tư mở rộng mạng lưới giao thông liên vùng.
4.1. Nhượng quyền khai thác hạ tầng giao thông đường bộ và thủy bộ
Chính sách nhượng quyền khai thác hạ tầng giao thông đường bộ và đường thủy đang phát huy tác dụng rõ rệt. Nhà nước chuyển nhượng quyền thu phí vận hành các tuyến đường cao tốc, bến cảng và nhà ga trong thời hạn cụ thể. Doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm duy tu, bảo trì công trình theo đúng quy chuẩn an toàn kỹ thuật. Hợp đồng nhượng quyền quy định chi tiết mức giá dịch vụ và quyền lợi của cộng đồng người tham gia giao thông. Cơ chế này giúp ngân sách nhà nước thu hồi nhanh nguồn vốn đầu tư ban đầu để tiếp tục mở rộng mạng lưới giao thông. Đây là giải pháp hữu hiệu thu hút dòng vốn tư nhân vào hạ tầng.
4.2. Cho thuê tài sản công đơn vị sự nghiệp và các dịch vụ công
Quy chế cho thuê tài sản công đơn vị sự nghiệp giúp giải phóng tiềm năng của các cơ sở y tế và giáo dục. Các trường đại học, bệnh viện công lập được chủ động cho thuê hội trường, máy móc y tế và mặt bằng phụ trợ. Tiền thu từ hoạt động cho thuê được giữ lại một phần để tái đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất. Đề án cho thuê phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhằm bảo đảm không làm gián đoạn nhiệm vụ chuyên môn. Việc lựa chọn đơn vị thuê thực hiện qua đấu giá công khai nhằm đảm bảo giá trị kinh tế cao nhất. Cơ chế này góp phần quan trọng giảm bớt áp lực bao cấp từ ngân sách nhà nước.
4.3. Liên doanh liên kết sử dụng tài sản công phục vụ phát triển
Hình thức liên doanh liên kết sử dụng tài sản công đang mở ra không gian phát triển mới cho các cơ sở nghiên cứu và đào tạo. Đơn vị sự nghiệp đóng góp giá trị thương hiệu, quyền sử dụng đất và cơ sở vật chất sẵn có. Doanh nghiệp tham gia đóng góp nguồn vốn tiền tệ, dây chuyền công nghệ cao và kỹ năng quản trị kinh doanh. Các bên ký kết hợp đồng phân chia lợi nhuận và chịu trách nhiệm pháp lý theo đúng quy định hiện hành. Mô hình hợp tác này cung cấp nhiều dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao phục vụ đời sống nhân dân. Việc thẩm định giá tài sản công khi tham gia liên doanh được kiểm soát chặt chẽ.
V. Giải pháp khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công
Tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công là nhiệm vụ trọng tâm của cải cách kinh tế. Quá trình này đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ từ thể chế, công nghệ đến tổ chức thực hiện. Việc cải cách cơ chế quản lý giúp khơi thông các điểm nghẽn pháp lý và giải phóng nguồn lực tiềm năng. Cơ quan quản lý cần chuyển đổi số toàn diện công tác quản trị tài sản quốc gia. Nâng cao tính tự chủ và trách nhiệm giải trình của đơn vị trực tiếp quản lý tài sản là yếu tố quyết định. Mục tiêu chiến lược là xây dựng nền tài chính công vững mạnh, minh bạch và phát triển bền vững.
5.1. Hoàn thiện thể chế và Luật Quản lý sử dụng tài sản công
Hoàn thiện hệ thống thể chế là giải pháp then chốt để tháo gỡ vướng mắc trong quản lý sử dụng tài sản công. Cơ quan chức năng cần khẩn trương rà soát và sửa đổi Luật Quản lý sử dụng tài sản công cho đồng bộ với Luật Đất đai và Luật Đấu thầu. Các quy định pháp lý về xác định giá trị tài sản hạ tầng cần phản ánh chính xác quy luật cung cầu thị trường. Áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế giúp minh bạch hóa giá trị tài sản trên sổ sách kế toán quốc gia. Phân định rành mạch giữa chức năng quản lý nhà nước và hoạt động quản trị kinh doanh tài sản công. Khung thể chế rõ ràng sẽ bảo vệ cán bộ thực thi và thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư.
5.2. Đấu giá quyền khai thác tài sản công công khai và minh bạch
Đấu giá quyền khai thác tài sản công cần được thể chế hóa thành nguyên tắc bắt buộc đối với mọi tài sản thương mại. Toàn bộ danh mục tài sản và thông tin mời đấu giá phải được công bố công khai trên hệ thống đấu giá quốc gia. Ứng dụng hình thức đấu giá trực tuyến trên nền tảng số giúp triệt tiêu nguy cơ tiêu cực và thông đồng dìm giá. Tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư phải kết hợp chặt chẽ giữa năng lực tài chính và phương án khai thác bền vững. Nguồn tiền thu được từ đấu giá nộp tập trung vào ngân sách nhà nước theo quy định hiện hành. Cơ chế đấu giá minh bạch vừa bảo vệ tài sản công vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
5.3. Nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành và thanh tra tài chính
Nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành giữa cơ quan tài chính, tài nguyên và kế hoạch đầu tư là yêu cầu cấp thiết. Các bộ ngành và địa phương cần liên thông dữ liệu tài sản để chia sẻ thông tin quản lý kịp thời. Công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm toán việc quản lý sử dụng tài sản công phải tiến hành thường xuyên. Mọi hành vi sai phạm, gây thất thoát hoặc lấn chiếm đất đai công đều phải bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Đội ngũ cán bộ quản lý tài sản cần được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng thẩm định giá và quản trị tài chính. Sự giám sát chặt chẽ sẽ bảo đảm tài sản công được sử dụng đúng mục đích.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (181 trang)Nội dung chính
Tổng quan về luận án
Luận án "Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam" của Nguyễn Tân Thịnh (2019) là một công trình nghiên cứu tiên phong trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực tái cơ cấu ngân sách nhà nước (NSNN) và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia. Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu cấp bách về việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực nội sinh để phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là nguồn lực từ tài sản công (TSC). Các Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị như Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 về tăng cường quản lý, khai thác TSC và Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế đã nhấn mạnh tính cấp thiết của đề tài.
Nghiên cứu này giải quyết một khoảng trống đáng kể trong các công trình khoa học hiện có tại Việt Nam. Cụ thể, luận án chỉ ra rằng "chưa có một khung lý thuyết tương đối đầy đủ về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC" và "thiếu một hệ thống tiêu chí đánh giá việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC và định danh các nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng" (tr. 16). Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các khía cạnh riêng lẻ của quản lý TSC hoặc đã lỗi thời do bối cảnh pháp lý thay đổi đáng kể sau Hiến pháp năm 2013 và Luật Quản lý, sử dụng TSC năm 2017.
Các câu hỏi nghiên cứu cốt lõi mà luận án này đặt ra nhằm đạt được mục tiêu đề xuất các giải pháp khoa học và khả thi bao gồm:
- Nguồn lực tài chính từ TSC và khai thác nguồn lực tài chính từ TSC là gì? Việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC được thực hiện thông qua các hình thức và công cụ nào? Nội dung quá trình khai thác nguồn lực tài chính từ TSC? Việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC được đánh giá tốt hay chưa tốt dựa theo những tiêu chí nào? Những nhân tố khách quan, chủ quan nào có ảnh hưởng tới việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC?
- Kinh nghiệm quốc tế nào trong việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC có thể vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam?
- Việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam thời gian vừa qua có những thành công và hạn chế gì? Những hạn chế trong khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam, đặc biệt là tình trạng thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan và khách quan nào?
- Khả năng khai thác nguồn lực tài chính từ TSC của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2035? Những giải pháp khoa học và khả thi nào cần được thực hiện nhằm tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam?
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tổng hợp và bổ sung các khái niệm cơ bản về TSC, nguồn lực tài chính từ TSC và khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. Nó cũng làm rõ vai trò, đặc điểm, nguyên tắc khai thác, nội dung quá trình khai thác và đặc biệt là hệ thống tiêu chí đánh giá toàn diện.
Đóng góp đột phá của nghiên cứu nằm ở việc đề xuất một hệ thống giải pháp toàn diện và khả thi. Nếu được áp dụng, "nguồn lực tài chính chủ yếu khai thác được từ bốn loại TSC thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án sẽ ít nhất đạt như dự báo của tác giả, từ đó đóng góp tích cực vào quá trình tái cơ cấu thu, chi NSNN, cải cách tài chính công ở Việt Nam" (tr. 7), mang lại tác động định lượng đáng kể. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào bốn loại TSC đại diện: tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp (HCSN), tài sản kết cấu hạ tầng, tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước, và đất đai. Dữ liệu được thu thập và phân tích trong giai đoạn 2009-2018, đồng thời đưa ra dự báo và giải pháp cho giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn 2035. Luận án có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, tối ưu hóa nguồn lực và đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Literature Review và Positioning
Phần tổng quan tài liệu của luận án đã thực hiện một tổng hợp có hệ thống các công trình nghiên cứu chính liên quan đến khai thác nguồn lực tài chính từ TSC, cả trong nước và quốc tế.
Các nghiên cứu trong nước được tổng hợp chi tiết theo từng loại TSC. Đối với TSC khu vực HCSN, có thể kể đến Luận án tiến sĩ của NCS Phan Hữu Nghị (2010, Đại học Kinh tế Quốc dân) về quản lý TSC trong các cơ quan hành chính nhà nước, đề xuất mô hình tổng công ty đầu tư và kinh doanh bất động sản nhà nước [44]. NCS La Văn Thịnh (2015, Học viện Tài chính) nhấn mạnh "Việc sử dụng, khai thác các TSC có tác dụng kích thích quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra những khoản thu lớn cho tài chính công" và kiến nghị hoàn thiện chuẩn mực kế toán công để khai thác chủ động nguồn lực từ TSC khu vực HCSN [67]. NCS Lê Thị Việt Hà (2016, Học viện Hậu cần) đã xây dựng 4 tiêu chí và hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý TSNN, bao gồm cả chỉ tiêu về thanh lý, điều chuyển tài sản liên quan đến khai thác nguồn lực tài chính [36]. Các đề tài khoa học cấp Bộ của CN Tạ Thanh Tú và TS Chu Thị Thủy Chung (2016, 2017) đã nghiên cứu sâu về cơ chế quản lý TSC khu vực HCSN và quản lý trụ sở làm việc, xác định khai thác nhà, đất là khâu trọng tâm [73].
Trong lĩnh vực tài sản kết cấu hạ tầng, các đề tài của Cục Quản lý Công sản (QLCS) - Bộ Tài chính như của TS La Văn Thịnh (2015) về đường sắt, ThS Nguyễn Tân Thịnh (2016) về thủy lợi, và ThS Nguyễn Thị Thoa (2017) về đường thủy nội địa đã đi sâu vào cơ chế tài chính và các hình thức khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản kết cấu hạ tầng như cho thuê, chuyển nhượng quyền khai thác [26, 27].
Đối với tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước, Đề tài của PGS, TS Nguyễn Văn Xa (2005) về quản lý và xử lý tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước đã xây dựng khung lý thuyết và kinh nghiệm của Pháp, rút ra 3 bài học cho Việt Nam, nhiều giải pháp vẫn được triển khai hiện nay [77].
Về đất đai, NCS Trần Đức Thắng (2012, Học viện Tài chính) đã đề cập toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, so sánh với kinh nghiệm quốc tế và đề xuất giải pháp [58]. Bài báo của Phạm Minh Hóa (2019, Tạp chí Tài chính) phân tích các bất cập trong chính sách giá đất, ví dụ "khung giá đất chỉ bằng 20% giá thị trường" ở một số nơi, và đề xuất khuyến nghị khai thác hiệu quả tài chính đất đai [Tạp chí Tài chính].
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài, theo luận án, chưa có công trình độc lập nào nghiên cứu riêng về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC theo phạm vi cụ thể của luận án. Tuy nhiên, luận án đã tham khảo các công trình quan trọng về quản lý TSC. Barzel Y (1997) trong cuốn "Economic Analysis of Property Rights" đã phân tích sâu các quyền kinh tế của tài sản và cách tối đa hóa lợi ích kinh tế [83]. Elinor Ostrom (2009), người đoạt giải Nobel kinh tế, đã nghiên cứu quản lý tài nguyên dùng chung (common-pool resources), đề xuất giải pháp thứ ba là để người sử dụng tự tạo ra hình thức quản lý thay vì tư nhân hóa hay đánh thuế Pigou, điều này đặt ra tranh luận về vai trò của nhà nước trong quản lý các tài sản chung [85]. Đáng chú ý là nghiên cứu của Dag Detter và Stefan Folster trong cuốn "The Public Wealth of Nation" (2016), đã định nghĩa và định lượng quy mô TSC: "giá trị TSC do trung ương quản lý của mỗi quốc gia tương đương với quy mô GDP của quốc gia đó. Tính trung bình, trên 27 quốc gia đánh giá bởi IMF... giá trị TSC lên tới 114% GDP" [82, tr. 20-21], và nhấn mạnh "nếu lợi nhuận cao hơn chỉ 1% sẽ thêm vào tiền thu nhập quốc gia 750 tỷ USD mỗi năm" (tr. 14). Các tác giả này cũng đề xuất kỹ thuật quản lý TSC tốt hơn, bao gồm tính minh bạch, kế toán thích hợp và bảng cân đối thực tế, học hỏi từ quản lý doanh nghiệp tư nhân.
Mặc dù các công trình đã đạt được những điểm quan trọng như xác định TSC là nguồn lực tài chính quan trọng, nhấn mạnh nguyên tắc công khai, minh bạch, và liệt kê các hình thức, công cụ khai thác (tr. 15-16), luận án này tự định vị để lấp đầy khoảng trống lớn: "chưa có một khung lý thuyết tương đối đầy đủ về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC" và "thiếu một hệ thống tiêu chí đánh giá việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC và định danh các nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng" (tr. 16). Các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam cũng không còn tính thời sự do bối cảnh pháp lý thay đổi, với Luật Quản lý, sử dụng TSC năm 2017 có hiệu lực từ năm 2018. Bằng cách xây dựng khung lý thuyết mới, hệ thống tiêu chí đánh giá, và đưa ra phân tích thực trạng cập nhật giai đoạn 2009-2018 cùng với dự báo đến 2035, luận án này đóng góp vào việc tiến bộ lĩnh vực tài chính công và quản lý tài sản quốc gia. So với các nghiên cứu quốc tế như của Detter & Folster, luận án này cung cấp một phân tích chuyên sâu về các loại TSC cụ thể và hình thức khai thác phù hợp với đặc thù của Việt Nam, đồng thời tích hợp các bài học về quản lý tài sản chung từ Ostrom và quyền tài sản từ Barzel Y vào một khung chính sách cụ thể.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án này đóng góp quan trọng vào lý thuyết tài chính công và quản lý tài sản bằng cách xây dựng một khung lý thuyết toàn diện về khai thác nguồn lực tài chính từ Tài sản công (TSC), điều mà các nghiên cứu trước đây còn bỏ ngỏ. Cụ thể, nó "Xây dựng và luận giải rõ khái niệm về TSC, nguồn lực tài chính từ TSC và khai thác nguồn lực tài chính từ TSC" (tr. 6), cung cấp một nền tảng học thuật vững chắc cho lĩnh vực này. Điều này mở rộng các lý thuyết hiện có về tài chính công bằng cách tập trung vào khía cạnh khai thác giá trị tài chính từ TSC, vượt ra ngoài các quan niệm truyền thống chỉ chú trọng quản lý hiện vật hoặc chi tiêu.
Nghiên cứu cũng "Bổ sung, làm rõ vai trò, đặc điểm của khai thác nguồn lực tài chính từ TSC, các nhân tố ảnh hưởng tới khai thác nguồn lực tài chính từ TSC" (tr. 6). Đặc biệt, luận án đã "Xây dựng, làm rõ các nguyên tắc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC, nội dung quá trình khai thác nguồn lực tài chính từ TSC và hệ thống tiêu chí đánh giá việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC gồm các tiêu chí định tính, tiêu chí định lượng để vừa đánh giá về kết quả khai thác, vừa đánh giá về quá trình khai thác nguồn lực tài chính từ TSC" (tr. 6). Đây là một sự mở rộng đáng kể đối với lý thuyết quản trị công, cung cấp một khuôn khổ cụ thể để đánh giá hiệu quả và minh bạch của các hoạt động khai thác.
Luận án không trực tiếp thách thức một lý thuyết cụ thể, mà thay vào đó, nó mở rộng và áp dụng các nguyên lý từ "Lý thuyết Quyền tài sản" (Property Rights Theory) của Barzel Y (1997) để phân tích cách thức mà các quyền sở hữu, sử dụng và khai thác đối với TSC có thể được cấu trúc để tối đa hóa lợi ích kinh tế [83]. Tương tự, nó tích hợp các bài học từ nghiên cứu của Elinor Ostrom (2009) về "Quản lý tài nguyên dùng chung" (Common-Pool Resource Management) bằng cách đề xuất các nguyên tắc và cơ chế quản lý phù hợp để ngăn chặn tình trạng "bi kịch của cái chung" đối với các loại tài sản công [85]. Luận án cũng tiếp cận lý thuyết "Quản lý Tài sản Công" (Public Wealth Management) của Dag Detter và Stefan Folster (2016), đặc biệt là việc coi TSC như một danh mục đầu tư cần được quản lý hiệu quả và minh bạch để tạo ra nguồn thu [82].
Khung phân tích khái niệm được trình bày thông qua việc định nghĩa rõ các thành phần chính và mối quan hệ giữa chúng: từ các loại TSC đa dạng (HCSN, kết cấu hạ tầng, tài sản được xác lập quyền sở hữu, đất đai) đến các hình thức khai thác (giao quyền sử dụng, cấp quyền khai thác, cho thuê, chuyển nhượng, góp vốn, thanh toán nghĩa vụ nhà nước) và các công cụ hỗ trợ (định giá, chỉ định, đấu giá).
Mô hình lý thuyết của luận án mặc dù không được trình bày dưới dạng các mệnh đề/giả thuyết được đánh số cụ thể trong phần giới thiệu, nhưng nó ngầm định các mối quan hệ như: việc áp dụng các nguyên tắc khai thác (khoa học, hợp lý, hiệu quả, công khai, minh bạch, tuân thủ thị trường, xử lý vi phạm) sẽ dẫn đến hiệu quả khai thác nguồn lực tài chính từ TSC cao hơn. Các yếu tố ảnh hưởng (nhân tố khách quan, chủ quan) cũng được tích hợp vào mô hình để giải thích sự biến động trong kết quả khai thác.
Về "thay đổi mô hình" (paradigm shift), luận án thúc đẩy một sự thay đổi trong tư duy từ việc coi TSC chủ yếu là hiện vật phục vụ hoạt động hành chính sang xem chúng là nguồn lực tài chính tiềm năng cần được khai thác chủ động và hiệu quả theo cơ chế thị trường, phù hợp với tinh thần "kinh tế hóa nguồn vật lực" trong Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị [3]. Điều này được củng cố bằng bằng chứng về tiềm năng tài chính to lớn của TSC, như Dag Detter và Stefan Folster ước tính tổng giá trị TSC của các chính phủ trên toàn thế giới vượt xa tài sản của các cá nhân giàu có nhất cộng lại, đạt "lên tới 114% GDP" ở 27 quốc gia được IMF đánh giá [82, tr. 20-21].
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án là độc đáo bởi sự tích hợp sâu rộng các lý thuyết khác nhau vào bối cảnh cụ thể của Việt Nam. Nghiên cứu tích hợp ít nhất ba lý thuyết quan trọng: "Lý thuyết Quyền tài sản" (Barzel Y, 1997), "Lý thuyết Quản lý tài nguyên dùng chung" (Elinor Ostrom, 2009), và các nguyên lý của "Quản lý Tài sản Công" (Detter & Folster, 2016) để tạo ra một cách tiếp cận đa chiều. Sự tích hợp này cho phép xem xét TSC không chỉ từ góc độ pháp lý và quản lý nhà nước mà còn từ góc độ kinh tế thị trường, hiệu quả sử dụng và bền vững.
Phương pháp tiếp cận phân tích mới lạ nằm ở việc xây dựng "hệ thống tiêu chí đánh giá việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC gồm các tiêu chí định tính, tiêu chí định lượng" (tr. 6). Sự biện minh cho cách tiếp cận này là để khắc phục tình trạng thiếu hụt các công cụ đánh giá toàn diện, giúp các nhà lãnh đạo và quản lý "nhận diện được một cách đầy đủ, khách quan, khoa học về những mặt đã đạt được, những hạn chế và nguyên nhân" (tr. 7). Điều này cho phép một cái nhìn tổng thể về cả kết quả và quá trình khai thác, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả.
Các đóng góp khái niệm cụ thể bao gồm các định nghĩa rõ ràng về "Tài sản công," "Nguồn lực tài chính từ tài sản công," và "Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công" (tr. 28-29), vốn là những khoảng trống lý luận được xác định trong chương tổng quan. Những định nghĩa này là cơ sở để thống nhất nhận thức và hành động trong quản lý và khai thác TSC.
Các điều kiện giới hạn (boundary conditions) được nêu rõ, bao gồm việc tập trung vào bốn loại TSC cụ thể, giới hạn phân tích dữ liệu trong giai đoạn 2009-2018 và dự báo đến năm 2025, tầm nhìn 2035. Luận án cũng "không nghiên cứu vấn đề sử dụng nguồn lực từ TSC sau khi được khai thác" (tr. 5), điều này giúp tập trung vào quá trình khai thác mà không làm loãng phạm vi nghiên cứu sang khía cạnh phân bổ chi tiêu.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án áp dụng một triết lý nghiên cứu theo hướng hậu thực chứng (post-positivism), kết hợp giữa việc tìm kiếm các bằng chứng khách quan, số liệu định lượng với sự tham vấn chuyên gia để đưa ra các giải pháp có tính thực tiễn cao. Triết lý này cho phép luận án "khảo sát kinh nghiệm một số quốc gia, vùng lãnh thổ trong khu vực và trên thế giới có điều kiện tương đồng về địa lý, chế độ sở hữu, về tài chính công hoặc có nền kinh tế phát triển để rút ra những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào điều kiện thực tế của Việt Nam" (tr. 3), từ đó làm phong phú thêm góc nhìn và đưa ra những kiến nghị khoa học, khả thi.
Thiết kế nghiên cứu không sử dụng phương pháp hỗn hợp (mixed methods) theo nghĩa tích hợp định lượng và định tính vào một khung phân tích duy nhất, mà là sự kết hợp của nhiều phương pháp nghiên cứu để đạt được mục tiêu toàn diện. Các phương pháp này bao gồm "Phương pháp nghiên cứu tổng quan tài liệu," "Phương pháp tổng hợp, phân tổ, phân tích so sánh dựa trên số liệu thứ cấp," "Thống kê mô tả và phân tích định tính," và "Phương pháp chuyên gia" (tr. 5-6). Sự kết hợp này mang lại cái nhìn đa chiều, từ việc hệ thống hóa lý luận, phân tích định lượng thực trạng đến thu thập ý kiến chuyên sâu.
Thiết kế đa cấp (multi-level design) được thể hiện thông qua việc phân tích thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở cấp độ quốc gia, tập trung vào bốn loại TSC khác nhau (TSC khu vực HCSN, tài sản kết cấu hạ tầng, tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước, đất đai), mỗi loại có đặc điểm và cơ chế quản lý riêng. Điều này cho phép một phân tích sâu sắc các chính sách và kết quả khai thác ở từng cấp độ tài sản cụ thể.
Đối tượng nghiên cứu là lý luận và thực tiễn về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC trên giác độ của cơ quan giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về TSC. Phạm vi về số liệu là toàn bộ dữ liệu thứ cấp có sẵn từ "CSDL quốc gia về TSC, các báo cáo của Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Quản lý công sản (QLCS), Kho bạc Nhà nước (KBNN), Tổng cục Thuế" (tr. 6), cho giai đoạn 2009-2018. Đây không phải là một "sample size" theo nghĩa thống kê mà là một tập hợp dữ liệu toàn diện từ các nguồn chính thức của quốc gia. Tiêu chí lựa chọn dữ liệu là tính chính thống, đầy đủ, và cập nhật từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Chiến lược lấy mẫu không áp dụng trong nghiên cứu này vì luận án sử dụng toàn bộ "số liệu thứ cấp" từ các báo cáo chính thức và CSDL quốc gia về TSC (tr. 6). Dữ liệu này được xem là một tổng thể, không phải là một mẫu đại diện. Tiêu chí bao gồm tất cả các dữ liệu công khai và có thẩm quyền liên quan đến bốn loại TSC được nghiên cứu trong khung thời gian 2009-2018. Tiêu chí loại trừ là các dữ liệu không thuộc phạm vi thời gian hoặc không đến từ các nguồn chính thức, chưa được kiểm chứng.
Giao thức thu thập dữ liệu bao gồm việc tổng hợp và khai thác dữ liệu từ các báo cáo tổng hợp của Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước (KTNN), Cục QLCS, Vụ NSNN, KBNN, cùng với số liệu trong CSDL quốc gia về TSC (tr. 6). Các công cụ thu thập dữ liệu chủ yếu là phân tích tài liệu, báo cáo thống kê và cơ sở dữ liệu điện tử.
Phương pháp tam giác hóa (triangulation) được áp dụng một cách hiệu quả thông qua việc kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau: "tổng quan tài liệu" để xây dựng lý luận, "phân tích so sánh dựa trên số liệu thứ cấp" để đánh giá thực trạng, "thống kê mô tả và phân tích định tính" để làm rõ các xu hướng, và "phương pháp chuyên gia" để thu thập ý kiến chuyên sâu, thẩm định các phát hiện và giải pháp (tr. 5-6). Sự kết hợp này giúp tăng cường tính vững chắc của các phát hiện và kết luận.
Tính hợp lệ (validity) và độ tin cậy (reliability) của nghiên cứu được đảm bảo thông qua việc sử dụng các "số liệu trung thực, có nguồn gốc rõ ràng" từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (tr. i), giúp tăng cường tính hợp lệ nội bộ (internal validity). Hợp lệ cấu trúc (construct validity) được xây dựng thông qua việc định nghĩa rõ ràng các khái niệm then chốt như TSC, nguồn lực tài chính từ TSC và khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. Tính hợp lệ bên ngoài (external validity) được hỗ trợ bởi việc so sánh với kinh nghiệm quốc tế, giúp đánh giá khả năng áp dụng các bài học vào bối cảnh Việt Nam. Mặc dù các giá trị alpha (α values) cho độ tin cậy không được báo cáo trực tiếp trong phần giới thiệu, việc sử dụng các dữ liệu thống kê chính thức và phương pháp phân tích có hệ thống gián tiếp góp phần vào độ tin cậy của kết quả.
Data và phân tích
Đặc điểm dữ liệu được sử dụng trong luận án bao gồm các số liệu thống kê về quy mô, cơ cấu, và tăng trưởng của TSC khu vực HCSN giai đoạn 2009-2018. Ví dụ, các bảng biểu như "Cơ cấu tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp tại thời điểm 31/12/2018," "Quy mô tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp giai đoạn 2009 - 2018," "Tăng trưởng quy mô tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp giai đoạn 2009 - 2018" (tr. vii) cung cấp cái nhìn chi tiết về sự biến động của TSC. Các số liệu về thu NSNN từ đất đai giai đoạn 2009-2018 và cơ cấu thu từ đất đai cũng là trọng tâm.
Các kỹ thuật phân tích tiên tiến bao gồm "phương pháp tổng hợp, phân tổ, phân tích so sánh dựa trên số liệu thứ cấp" để đánh giá thành công, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong khai thác nguồn lực tài chính từ TSC (tr. 5-6). "Thống kê mô tả và phân tích định tính" được sử dụng để "thu thập và so sánh dữ liệu về TSC và kết quả khai thác nguồn lực tài chính về TSC… theo chuỗi thời gian để thấy được sự biến động giữa các thời điểm và thời kỳ khác nhau" (tr. 6). Mặc dù không sử dụng các phần mềm thống kê phức tạp như SEM (Mô hình phương trình cấu trúc), multilevel modeling hay QCA (Phân tích định tính so sánh), cách tiếp cận này được biện minh bởi tính chất của dữ liệu thứ cấp và mục tiêu xây dựng khung lý thuyết, đánh giá thực trạng tổng quát và đề xuất giải pháp.
Các kiểm định độ vững (robustness checks) hoặc thông số về effect sizes và confidence intervals không được đề cập rõ ràng trong phần giới thiệu, điều này phù hợp với tính chất của một nghiên cứu chủ yếu dựa vào phân tích dữ liệu thứ cấp, mô tả và so sánh để xây dựng khung lý thuyết và đề xuất chính sách, hơn là kiểm định giả thuyết thống kê phức tạp. Tuy nhiên, việc tổng hợp và phân tích dữ liệu từ nhiều nguồn chính thống khác nhau và tham vấn chuyên gia giúp củng cố tính vững chắc của các kết luận.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Luận án đã đưa ra những phát hiện đột phá dựa trên phân tích sâu rộng và cập nhật, cung cấp cái nhìn toàn diện về tiềm năng và thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam.
- Tiềm năng tài chính to lớn nhưng chưa được khai thác: "nguồn lực khai thác được chưa tương xứng với quy mô của TSC và yêu cầu huy động nguồn lực của quốc gia" (tr. 2). Luận án chỉ ra rằng Việt Nam vẫn "Chưa khai thác hết tiềm năng tài chính từ TSC phục vụ phát triển kinh tế - xã hội" (tr. 2). Điều này được hỗ trợ bởi các nghiên cứu quốc tế như của Dag Detter và Stefan Folster (2016), những người ước tính rằng giá trị TSC của các chính phủ trên toàn thế giới "lên tới 114% GDP" và chỉ "lợi nhuận cao hơn chỉ 1% sẽ thêm vào tiền thu nhập quốc gia 750 tỷ USD mỗi năm" [82, tr. 14, 20-21]. Phát hiện này nhấn mạnh rằng Việt Nam có thể học hỏi từ các thông lệ quốc tế để cải thiện hiệu quả khai thác.
- Hệ thống pháp lý và tổ chức còn hạn chế: "Chế độ quản lý, khai thác nguồn lực tài chính từ TSC đang được điều chỉnh ở nhiều văn bản khác nhau và do nhiều đầu mối quản lý; do vậy, đến nay chưa có một cơ sở dữ liệu thống nhất, đầy đủ, cập nhật về TSC" (tr. 2). Bên cạnh đó, "Mô hình tổ chức khai thác nguồn lực tài chính từ TSC phân tán manh mún, nhỏ lẻ do nhiều chủ thể cùng thực hiện, dẫn tới thiếu chuyên nghiệp; công tác tổ chức khai thác nguồn lực tài chính từ TSC còn nhiều vi phạm, gây thất thoát, lãng phí" (tr. 2). Điều này trái ngược với các khuyến nghị về quản lý tài sản công hiệu quả, vốn đề cao tính minh bạch và tập trung của Dag Detter và Stefan Folster [82].
- Thiếu công cụ đánh giá và tính bền vững: "chưa có tiêu chí để đánh giá việc khai thác" (tr. 2) và "Tính bền vững trong khai thác nguồn lực tài chính từ TSC chưa cao, hạn chế khả năng khai thác ổn định lâu dài" (tr. 2). Điều này đã được giải quyết bằng việc xây dựng một hệ thống tiêu chí đánh giá toàn diện trong luận án.
- Phụ thuộc vào cơ chế thị trường: "Việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC phát huy vai trò tốt nhất trong nền kinh tế thị trường" và "phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, theo cơ chế thị trường" (tr. 31, 36). Phát hiện này củng cố quan điểm rằng việc chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường là thiết yếu để tối ưu hóa giá trị từ TSC.
- Dự báo tiềm năng thu: Luận án cung cấp "Dự báo khả năng khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2035" (tr. 130), với các dự tính cụ thể về "số thu tiền sử dụng đất từ khai thác đất ở" và "số thu tiền thuê đất từ đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp" (tr. vii). Các phát hiện này khác biệt đáng kể so với các nghiên cứu trước đây vốn đã "phần lớn đã không còn mang tính thời sự" (tr. 16) do sự thay đổi của bối cảnh pháp lý và kinh tế.
Implications đa chiều
Những phát hiện trên mang lại những hàm ý sâu rộng:
- Đóng góp lý thuyết: Luận án cung cấp "khung lý thuyết về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC" (tr. 3), mở rộng hiểu biết về vai trò, đặc điểm, nguyên tắc, nội dung quy trình và hệ thống tiêu chí đánh giá. Điều này đóng góp vào sự phát triển của lý thuyết tài chính công và quản lý tài sản nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam.
- Đổi mới phương pháp luận: Việc xây dựng "hệ thống tiêu chí đánh giá việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC gồm các tiêu chí định tính, tiêu chí định lượng" (tr. 6) là một đóng góp phương pháp luận có thể áp dụng rộng rãi cho các nghiên cứu tương tự trong các bối cảnh khác, không chỉ giới hạn ở Việt Nam.
- Ứng dụng thực tiễn: Nghiên cứu đưa ra "hệ thống các quan điểm, giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam trong thời gian tới" (tr. 7). Các giải pháp này bao gồm hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, tổ chức thực hiện và các giải pháp hỗ trợ (tr. 130), cung cấp một lộ trình rõ ràng để các cơ quan quản lý áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả khai thác.
- Khuyến nghị chính sách: Luận án đề xuất các "Kiến nghị đối với Quốc hội" và "Kiến nghị với Chính phủ" (tr. 166), tập trung vào việc hoàn thiện thể chế và cơ chế quản lý TSC. Các kiến nghị này có thể định hướng quá trình tái cơ cấu NSNN và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.
- Điều kiện tổng quát hóa: Các nguyên tắc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC, bao gồm tính khoa học, hợp lý, hiệu quả, công khai, minh bạch và tuân thủ cơ chế thị trường (tr. 36-37), có khả năng tổng quát hóa và áp dụng cho các quốc gia khác có hệ thống sở hữu công tương tự. Tuy nhiên, các giải pháp cụ thể cần được điều chỉnh theo "điều kiện thực tế của Việt Nam" (tr. 3).
Limitations và Future Research
Luận án, mặc dù đã đạt được những đóng góp quan trọng, cũng thừa nhận một số hạn chế cụ thể. Một trong những giới hạn chính được nêu rõ là "Luận án không nghiên cứu vấn đề sử dụng nguồn lực từ TSC sau khi được khai thác" (tr. 5). Điều này tạo ra một ranh giới rõ ràng về phạm vi, tập trung hoàn toàn vào quá trình tạo ra nguồn lực tài chính chứ không phải khía cạnh phân bổ và chi tiêu. Các giới hạn khác có thể xuất phát từ việc nghiên cứu chủ yếu dựa trên số liệu thứ cấp, có thể bị ảnh hưởng bởi tính sẵn có và chất lượng của dữ liệu từ các báo cáo công khai của nhà nước. Mặc dù luận án đã tham vấn chuyên gia, việc thiếu các nghiên cứu định tính sâu rộng hơn (ví dụ, phỏng vấn chi tiết với các nhà quản lý ở nhiều cấp độ, hoặc các bên liên quan) có thể hạn chế một số góc nhìn về thách thức trong thực thi. Hơn nữa, mặc dù đã có so sánh với kinh nghiệm quốc tế, việc tập trung chủ yếu vào bối cảnh Việt Nam cũng là một điều kiện biên về mặt không gian.
Các điều kiện giới hạn về bối cảnh bao gồm việc tập trung vào bốn loại TSC đại diện, vốn là các loại tài sản có giá trị và số thu lớn, nhưng bỏ qua các loại TSC khác có thể có đặc điểm khai thác khác biệt. Giới hạn về thời gian trong việc phân tích thực trạng (2009-2018) và dự báo (2020-2025, tầm nhìn 2035) cũng định hình các kết luận và giải pháp.
Từ những hạn chế và khoảng trống đã được xác định, luận án gợi mở một chương trình nghiên cứu tương lai với nhiều hướng đi cụ thể:
- Nghiên cứu sâu về việc sử dụng nguồn lực tài chính từ TSC: Tiếp nối giới hạn của luận án, các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào hiệu quả của việc phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính đã khai thác được từ TSC, đánh giá tác động của chúng đến các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
- Phát triển các mô hình định lượng tiên tiến: Mặc dù luận án sử dụng thống kê mô tả và phân tích so sánh, các nghiên cứu tương lai có thể áp dụng các kỹ thuật định lượng nâng cao hơn như SEM, phân tích đa cấp (multilevel analysis) hoặc QCA để kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ nhân quả và các yếu tố ảnh hưởng.
- Nghiên cứu định tính chuyên sâu: Thực hiện các nghiên cứu định tính bằng phỏng vấn sâu, khảo sát chuyên gia mở rộng, hoặc nghiên cứu điển hình (case studies) về việc triển khai các giải pháp được đề xuất, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến sự phối hợp giữa các chủ thể và ngăn chặn thất thoát, lãng phí.
- Mở rộng phạm vi loại TSC: Nghiên cứu về khai thác nguồn lực tài chính từ các loại TSC khác chưa được đề cập sâu trong luận án, như vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tài sản dự trữ quốc gia, hoặc các loại tài nguyên thiên nhiên đặc thù.
- Đánh giá tác động của các chính sách mới: Với việc Luật Quản lý, sử dụng TSC năm 2017 có hiệu lực từ năm 2018, các nghiên cứu trong tương lai cần liên tục đánh giá tác động thực tế của các chính sách mới, đặc biệt là trong giai đoạn dự báo 2020-2025 và tầm nhìn 2035.
Các cải tiến về phương pháp luận có thể bao gồm việc tích hợp chặt chẽ hơn phương pháp định lượng và định tính, xây dựng các chỉ số tổng hợp về hiệu quả khai thác, và sử dụng dữ liệu vi mô (nếu có thể tiếp cận) để có cái nhìn chi tiết hơn. Về mặt lý thuyết, các đề xuất mở rộng bao gồm việc tích hợp sâu hơn các lý thuyết về quản trị công (public governance), kinh tế học thể chế (institutional economics) để giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác, đặc biệt là các nguyên nhân của hạn chế đã được xác định.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án này dự kiến sẽ tạo ra tác động và ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều cấp độ, từ học thuật đến thực tiễn chính sách và xã hội.
Tác động học thuật: Luận án thiết lập một khung lý thuyết toàn diện về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC, lấp đầy một khoảng trống nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực tài chính công ở Việt Nam. Điều này sẽ trở thành tài liệu tham khảo cơ bản cho các nhà nghiên cứu tương lai, ước tính tiềm năng tạo ra hàng trăm lượt trích dẫn trong các công trình khoa học, luận văn, luận án và bài báo chuyên ngành. Hệ thống tiêu chí đánh giá định tính và định lượng được xây dựng trong luận án cũng sẽ là công cụ phương pháp luận quý giá cho các nghiên cứu tiếp theo.
Chuyển đổi ngành công nghiệp: Các giải pháp và kiến nghị của luận án có thể thúc đẩy sự chuyển đổi trong các ngành liên quan đến quản lý và khai thác tài sản, đặc biệt là bất động sản và cơ sở hạ tầng. Việc tăng cường minh bạch, sử dụng cơ chế thị trường (đấu giá, định giá) sẽ tạo ra môi trường đầu tư công bằng và hiệu quả hơn. Các hình thức khai thác như hợp tác công tư (PPP), đổi đất lấy hạ tầng (BT) hoặc xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT) sẽ được tối ưu hóa, thu hút nguồn vốn tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng, các ví dụ về các dự án hạ tầng lớn như đường sắt, đường thủy nội địa [26, 27] có thể thấy rõ sự chuyển dịch. Điều này sẽ tác động tích cực đến các doanh nghiệp xây dựng, đầu tư, và các tổ chức tài chính.
Ảnh hưởng chính sách: Luận án đưa ra "Kiến nghị đối với Quốc hội" và "Kiến nghị với Chính phủ" (tr. 166), với một lộ trình cụ thể để hoàn thiện chính sách và pháp luật về khai thác TSC. Các khuyến nghị này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, cải thiện quy trình quản lý và tổ chức thực hiện, hướng tới mục tiêu "tái cơ cấu thu, chi NSNN, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia và nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước" (tr. 2). Việc đa dạng hóa các hình thức huy động và sử dụng nguồn lực, áp dụng nguyên tắc thị trường như yêu cầu của Nghị quyết 39-NQ/TW [3] sẽ được thúc đẩy.
Lợi ích xã hội: Thông qua việc khai thác hiệu quả nguồn lực tài chính từ TSC, xã hội sẽ hưởng lợi từ nguồn thu NSNN tăng lên, cho phép nhà nước đầu tư nhiều hơn vào các dịch vụ công thiết yếu như giáo dục, y tế, an sinh xã hội. Việc giảm thất thoát, lãng phí tài sản công (tr. 2) cũng có nghĩa là sử dụng tốt hơn nguồn lực của toàn dân, tăng cường niềm tin của công chúng vào quản lý nhà nước. Ví dụ, nếu nguồn lực tài chính được khai thác tăng lên "ít nhất đạt như dự báo của tác giả" (tr. 7), điều này có thể góp phần đáng kể vào ổn định kinh tế vĩ mô và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân.
Sự liên quan quốc tế: Nghiên cứu này có ý nghĩa quốc tế khi cung cấp một mô hình phân tích và giải pháp cho việc quản lý và khai thác TSC trong bối cảnh các nền kinh tế chuyển đổi. Các bài học kinh nghiệm từ Việt Nam, cũng như việc tích hợp thông lệ tốt của quốc tế (như các nghiên cứu của Dag Detter và Stefan Folster [82], Elinor Ostrom [85]) có thể được chia sẻ và học hỏi bởi các quốc gia đang phát triển khác đang đối mặt với những thách thức tương tự trong việc quản lý tài sản quốc gia. Các kiến nghị về công khai, minh bạch và quản lý theo cơ chế thị trường cũng phù hợp với xu hướng quản trị tốt toàn cầu.
Đối tượng hưởng lợi
Luận án này mang lại lợi ích cụ thể cho nhiều đối tượng khác nhau:
-
Các nhà nghiên cứu sinh Tiến sĩ (Doctoral researchers): Luận án cung cấp một "khung lý thuyết về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC" (tr. 3) chưa từng có, cùng với "hệ thống tiêu chí đánh giá" (tr. 6) cụ thể. Điều này giúp các nghiên cứu sinh có một nền tảng vững chắc để phát triển các nghiên cứu tiếp theo về tài chính công, quản lý tài sản, và kinh tế phát triển. Luận án cũng chỉ rõ "Khoảng trống của các công trình nghiên cứu" (tr. 16-17), mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới, đặc biệt là trong bối cảnh các thay đổi pháp lý gần đây như Luật Quản lý, sử dụng TSC năm 2017.
-
Các học giả cấp cao (Senior academics): Các học giả trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, quản lý công và kinh tế học sẽ tìm thấy trong luận án những đóng góp lý thuyết đáng kể, đặc biệt là việc hệ thống hóa và làm rõ các khái niệm về TSC, nguồn lực tài chính từ TSC, và quá trình khai thác chúng. Việc tích hợp các quan điểm từ "Lý thuyết Quyền tài sản" (Barzel Y, 1997) và "Quản lý tài nguyên dùng chung" (Elinor Ostrom, 2009) vào một khung phân tích mới cho Việt Nam sẽ làm phong phú thêm các cuộc thảo luận học thuật và thúc đẩy nghiên cứu liên ngành.
-
Bộ phận R&D trong ngành công nghiệp (Industry R&D): Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bất động sản, xây dựng, đầu tư hạ tầng (BOT, BT, PPP) và các dịch vụ liên quan sẽ hưởng lợi từ các "ứng dụng thực tiễn với các khuyến nghị cụ thể" (tr. 7). Luận án giúp họ hiểu rõ hơn về các hình thức và công cụ khai thác nguồn lực tài chính từ TSC (như giao quyền sử dụng, cấp quyền khai thác, cho thuê, chuyển nhượng quyền khai thác, góp vốn, liên doanh, liên kết) (tr. 38-42). Điều này có thể giúp các bộ phận R&D định hướng chiến lược đầu tư, tìm kiếm cơ hội hợp tác với nhà nước và tham gia vào quá trình khai thác TSC một cách hiệu quả và minh bạch hơn.
-
Các nhà hoạch định chính sách (Policy makers): Đây là một trong những đối tượng hưởng lợi trực tiếp và lớn nhất. Luận án cung cấp "những giải pháp khoa học và khả thi" (tr. 3) cùng "Kiến nghị đối với Quốc hội" và "Kiến nghị với Chính phủ" (tr. 166) nhằm tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. Các nhà hoạch định chính sách có thể sử dụng các kết quả đánh giá thực trạng (giai đoạn 2009-2018) và dự báo (đến 2025, tầm nhìn 2035) để ban hành hoặc sửa đổi các văn bản pháp luật, quy chế quản lý, và mô hình tổ chức khai thác TSC, góp phần "tái cơ cấu thu, chi NSNN, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia" (tr. 2, 7).
-
Định lượng lợi ích: Nếu các giải pháp được áp dụng, nguồn lực tài chính khai thác được từ bốn loại TSC nghiên cứu "sẽ ít nhất đạt như dự báo của tác giả" (tr. 7). Mặc dù không có con số cụ thể trong phần giới thiệu, các biểu như "Dự tính số thu tiền sử dụng đất từ khai thác đất ở" hay "Dự tính số thu tiền thuê đất từ đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp" (tr. vii) cho thấy tiềm năng tăng thu hàng nghìn tỷ đồng cho NSNN, góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Câu hỏi chuyên sâu
-
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và nó đã mở rộng lý thuyết nào? Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc xây dựng một "khung lý thuyết tương đối đầy đủ về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC" (tr. 16), bao gồm việc luận giải rõ các khái niệm về Tài sản công (TSC), nguồn lực tài chính từ TSC và khai thác nguồn lực tài chính từ TSC (tr. 6). Khung này còn bổ sung và làm rõ vai trò, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng, nguyên tắc khai thác, nội dung quá trình khai thác và đặc biệt là hệ thống tiêu chí đánh giá việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC, bao gồm cả tiêu chí định tính và định lượng (tr. 6). Luận án đã mở rộng các lý thuyết về "Quyền tài sản" của Barzel Y (1997) bằng cách áp dụng chúng vào bối cảnh tài sản công, nơi quyền sở hữu và quyền sử dụng bị phân tách rõ rệt. Nó cũng tích hợp các nguyên lý từ "Lý thuyết quản lý tài nguyên dùng chung" của Elinor Ostrom (2009) để đề xuất các cơ chế hiệu quả cho việc quản lý và khai thác các tài sản có tính chất "chung" trong nền kinh tế Việt Nam [83, 85]. Đặc biệt, luận án đưa ra một cách tiếp cận mới để xem xét TSC như một danh mục đầu tư cần được quản lý chiến lược, tương tự như ý tưởng của Dag Detter và Stefan Folster trong "The Public Wealth of Nation" (2016), nhưng với sự cụ thể hóa sâu hơn về các hình thức và công cụ khai thác phù hợp với điều kiện Việt Nam [82].
-
Đổi mới về phương pháp luận của luận án là gì và so sánh nó với ít nhất 2 nghiên cứu trước đây? Đổi mới phương pháp luận chính của luận án là việc xây dựng "hệ thống tiêu chí đánh giá việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC gồm các tiêu chí định tính, tiêu chí định lượng để vừa đánh giá về kết quả khai thác, vừa đánh giá về quá trình khai thác nguồn lực tài chính từ TSC" (tr. 6). Hệ thống tiêu chí này cung cấp một công cụ toàn diện và có cấu trúc để đo lường hiệu quả khai thác, khắc phục hạn chế lớn được xác định trong khoảng trống nghiên cứu (tr. 16). So sánh với các nghiên cứu trước đây:
- NCS Lê Thị Việt Hà (2016): Luận án của Lê Thị Việt Hà đã "đưa ra 4 tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý TSNN tại các cơ quan nhà nước" và thiết kế "hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý TSNN" [36]. Trong khi nghiên cứu của Hà tập trung vào hiệu quả quản lý tổng thể, đổi mới của luận án Nguyễn Tân Thịnh là chuyên biệt hóa vào khai thác nguồn lực tài chính và phát triển các tiêu chí định tính/định lượng chi tiết không chỉ cho kết quả mà còn cho quá trình khai thác, mang tính ứng dụng cao hơn trong việc đánh giá chính sách và hoạt động.
- NCS Trần Đức Thắng (2012): Luận án của Trần Đức Thắng về khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai cũng đã "đề cập khá toàn diện cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai" [58]. Tuy nhiên, nghiên cứu của Thắng tập trung vào một loại tài sản cụ thể (đất đai) và không xây dựng một hệ thống tiêu chí đánh giá tổng quát cho tất cả các loại TSC hay cho quá trình khai thác. Luận án hiện tại tổng quát hóa và cung cấp một khung đánh giá áp dụng cho nhiều loại TSC hơn.
-
Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất của luận án là gì, có dữ liệu nào hỗ trợ không? Một trong những phát hiện đáng ngạc nhiên nhất, hoặc ít nhất là quan trọng nhất về mặt tiềm năng, là sự chênh lệch lớn giữa tiềm năng khai thác nguồn lực tài chính từ TSC và thực trạng khai thác hiện tại ở Việt Nam. Luận án khẳng định rằng "nguồn lực khai thác được chưa tương xứng với quy mô của TSC và yêu cầu huy động nguồn lực của quốc gia" và "Chưa khai thác hết tiềm năng tài chính từ TSC phục vụ phát triển kinh tế - xã hội" (tr. 2). Dữ liệu hỗ trợ phát hiện này được trích dẫn từ nghiên cứu quốc tế của Dag Detter và Stefan Folster (2016), cho thấy "giá trị TSC do trung ương quản lý của mỗi quốc gia tương đương với quy mô GDP của quốc gia đó. Tính trung bình, trên 27 quốc gia đánh giá bởi IMF (chưa bao gồm một số nước có TSC lớn, ví dụ như Trung Quốc), giá trị TSC lên tới 114% GDP" [82, tr. 20-21]. Phát hiện này ngụ ý rằng Việt Nam, với một lượng TSC khổng lồ, đang bỏ lỡ một nguồn thu lớn có thể đóng góp hàng nghìn tỷ đồng vào NSNN. Sự bất cập trong việc khai thác này được minh chứng bằng các hạn chế cụ thể như "thiếu cơ chế và dữ liệu thống nhất," "mô hình tổ chức khai thác phân tán manh mún, nhỏ lẻ," và "tính bền vững trong khai thác nguồn lực tài chính từ TSC chưa cao" (tr. 2).
-
Luận án có cung cấp giao thức tái tạo (replication protocol) nào không? Trong phần giới thiệu, luận án không cung cấp một "giao thức tái tạo" chính thức dưới dạng một tài liệu riêng biệt hoặc một phần được đánh số. Tuy nhiên, luận án đã mô tả một cách khá chi tiết về các phương pháp nghiên cứu được sử dụng (phương pháp tổng quan tài liệu, tổng hợp/phân tích so sánh số liệu thứ cấp, thống kê mô tả/phân tích định tính, phương pháp chuyên gia) và "nguồn số liệu được sử dụng là nguồn số liệu thứ cấp, được khai thác từ báo cáo của các bộ, ngành, địa phương, đơn vị, các báo cáo tổng hợp của Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước (KTNN), Cục QLCS, Vụ NSNN, KBNN, số liệu trong CSDL quốc gia về TSC" (tr. 5-6). Mặc dù không phải là một giao thức tái tạo hoàn chỉnh theo tiêu chuẩn của các nghiên cứu định lượng hiện đại có mã nguồn và dữ liệu thô công khai, mức độ chi tiết về nguồn dữ liệu và phương pháp phân tích cho phép một nhà nghiên cứu khác có thể hiểu rõ cách thức dữ liệu được thu thập và phân tích để có thể thực hiện một nghiên cứu tương tự, đặc biệt là với dữ liệu thứ cấp công khai từ các cơ quan nhà nước.
-
Chương trình nghiên cứu 10 năm của luận án được phác thảo như thế nào? Luận án đã phác thảo một chương trình nghiên cứu rõ ràng cho 10 năm tới, thậm chí mở rộng đến tầm nhìn 2035. Điều này được thể hiện qua mục tiêu "Dự báo nguồn thu, giải pháp tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam: Từ năm 2020 đến năm 2025, tầm nhìn 2035" (tr. 5). Cụ thể, chương trình nghiên cứu này tập trung vào các hướng sau:
- Tiếp tục hoàn thiện lý luận: Liên tục bổ sung và điều chỉnh khung lý thuyết về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội và pháp lý không ngừng thay đổi của Việt Nam.
- Đánh giá tác động chính sách: Theo dõi và đánh giá hiệu quả thực tế của các giải pháp và kiến nghị chính sách đã đề xuất sau khi được triển khai, đặc biệt là các giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về khai thác TSC (tr. 130).
- Phát triển mô hình tổ chức thực hiện: Nghiên cứu và đề xuất các mô hình tổ chức khai thác nguồn lực tài chính từ TSC hiệu quả hơn, khắc phục tình trạng phân tán, manh mún, thiếu chuyên nghiệp (tr. 2, 130).
- Khai thác tiềm năng tài chính còn bỏ sót: Tiếp tục tìm kiếm và nghiên cứu các nguồn lực tài chính từ TSC chưa được khai thác hoặc khai thác chưa hiệu quả, đặc biệt là từ các loại tài sản hoặc khu vực mới phát sinh.
- Nâng cao tính bền vững và minh bạch: Phát triển các cơ chế để đảm bảo tính bền vững trong khai thác nguồn lực tài chính từ TSC, ngăn chặn thất thoát, lãng phí, và tăng cường công khai, minh bạch theo cơ chế thị trường (tr. 2, 36). Chương 4 của luận án, "Giải pháp tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam," chính là bản phác thảo chi tiết cho chương trình nghiên cứu và hành động trong giai đoạn 2020-2025 và tầm nhìn 2035.
Kết luận
Luận án "Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam" là một công trình nghiên cứu sâu sắc, cung cấp những đóng góp học thuật và thực tiễn đáng kể.
- Khung lý thuyết toàn diện: Luận án đã xây dựng thành công một khung lý thuyết tương đối đầy đủ về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC, bao gồm các khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc, nội dung quá trình và nhân tố ảnh hưởng (tr. 6, 16).
- Hệ thống tiêu chí đánh giá đổi mới: Đóng góp đột phá là việc phát triển một hệ thống tiêu chí đánh giá định tính và định lượng cho cả kết quả và quá trình khai thác nguồn lực tài chính từ TSC (tr. 6), lấp đầy một khoảng trống phương pháp luận quan trọng.
- Đánh giá thực trạng cập nhật và khoa học: Nghiên cứu cung cấp một phân tích thực trạng toàn diện và cập nhật về khai thác TSC ở Việt Nam giai đoạn 2009-2018, chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của chúng một cách khách quan, khoa học (tr. 3, 7).
- Giải pháp và kiến nghị chính sách khả thi: Luận án đề xuất một hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể, khoa học, khả thi cho Quốc hội và Chính phủ nhằm tăng cường hiệu quả khai thác nguồn lực tài chính từ TSC đến năm 2025, tầm nhìn 2035 (tr. 3, 7, 130).
- Dự báo tác động tài chính định lượng: Luận án đưa ra các dự báo về khả năng tăng nguồn thu từ TSC, khẳng định rằng nếu các giải pháp được áp dụng, nguồn lực tài chính khai thác được "sẽ ít nhất đạt như dự báo của tác giả, từ đó đóng góp tích cực vào quá trình tái cơ cấu thu, chi NSNN, cải cách tài chính công ở Việt Nam" (tr. 7).
- Tích hợp kinh nghiệm quốc tế: Nghiên cứu đã tổng hợp và rút ra các bài học kinh nghiệm quý giá từ một số quốc gia và vùng lãnh thổ, đặc biệt là các nghiên cứu của Barzel Y (1997), Elinor Ostrom (2009), và Dag Detter & Stefan Folster (2016), làm cơ sở cho việc hoàn thiện chính sách ở Việt Nam (tr. 3, 7).
Nghiên cứu này là một bước tiến quan trọng, thúc đẩy một "thay đổi mô hình" (paradigm advancement) trong tư duy quản lý tài sản nhà nước, chuyển từ việc coi TSC chỉ là tài sản hiện vật sang xem chúng là nguồn lực tài chính chiến lược cần được khai thác chủ động và hiệu quả theo cơ chế thị trường, phù hợp với định hướng "kinh tế hóa nguồn vật lực" của Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị [3].
Luận án đã mở ra nhiều luồng nghiên cứu mới, bao gồm: (1) Nghiên cứu sâu hơn về việc sử dụng và phân bổ nguồn lực tài chính sau khai thác; (2) Phát triển các mô hình định lượng tiên tiến để dự báo và đánh giá tác động; (3) Thực hiện các nghiên cứu điển hình và định tính chuyên sâu về triển khai chính sách; (4) Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các loại TSC khác và các yếu tố thể chế.
Với tầm quan trọng của TSC trong phát triển kinh tế - xã hội (ước tính giá trị TSC trung bình "lên tới 114% GDP" ở 27 quốc gia theo IMF [82, tr. 20-21]), các kết quả của luận án có tính liên quan toàn cầu, cung cấp những bài học quý giá về quản lý và khai thác tài sản công cho các quốc gia đang phát triển. Di sản của luận án này sẽ được đo lường bằng tác động cụ thể đến việc tái cơ cấu thu NSNN, nâng cao hiệu quả tài chính công, và góp phần vào sự phát triển bền vững của Việt Nam trong những thập kỷ tới.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN HẬU CẦN NGUYỄN TÂN THỊNH KHAI THÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TỪ TÀI SẢN CÔNG Ở VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG - BẢO HIỂM HÀ NỘI - 2019 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN HẬU CẦN NGUYỄN TÂN THỊNH KHAI THÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TỪ TÀI SẢN CÔNG Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng Mã số: 9.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG - BẢO HIỂM NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. TS Phan Hữu Nghị 2.TS Nguyễn Văn Xa HÀ NỘI – 2019 i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận án: “Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu độc lập của tôi, với sự hướng dẫn tận tình của TS Phan Hữu Nghị và PGS, TS Nguyễn Văn Xa. Các tài liệu tham khảo, số liệu thống kê phục vụ mục đích nghiên cứu công trình này được sử dụng đúng quy định, không vi phạm quy định về bảo vệ bí mật nhà nước. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng. Trong quá trình nghiên cứu, tôi có công bố một số kết quả trên các tạp chí khoa học. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Nguyễn Tân Thịnh ii MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN. ii CÁC TỪ VIẾT TẮT.
VI DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU. VII MỞ ĐẦU. 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN KHAI THÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TỪ TÀI SẢN CÔNG. Các công trình nghiên cứu ở trong nước.
Các nghiên cứu liên quan đến khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp. Các nghiên cứu liên quan đến khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản kết cấu hạ tầng. Các nghiên cứu liên quan đến khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước. Các nghiên cứu về khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài. Những điểm đã đạt được của các công trình nghiên cứu. Khoảng trống của các công trình nghiên cứu - định hướng nghiên cứu của luận án.16 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1. 17 CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ KHAI THÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TỪ TÀI SẢN CÔNG.
Một số vấn đề cơ bản về tài sản công. Khái niệm tài sản công. Đặc điểm tài sản công. Phân loại tài sản công.
Vai trò của tài sản công trong đời sống kinh tế - xã hội. Nguồn lực tài chính và nguồn lực tài chính từ tài sản công. Quan niệm về nguồn lực. Quan niệm về nguồn lực tài chính.
Nguồn lực tài chính từ tài sản công. Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công. Khái niệm khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công. Đặc điểm khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công.
Vai trò của khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công trong nền kinh tế thị trường. Nguyên tắc khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công. Hình thức khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công. Công cụ khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công.
Nội dung quá trình khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công. Tiêu chí đánh giá việc khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công. Nhân tố ảnh hưởng tới việc khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công. Kinh nghiệm quốc tế về khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công.
Kinh nghiệm về khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công của một số quốc gia và vùng lãnh thổ. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. 69 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2. 72 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KHAI THÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TỪ TÀI SẢN CÔNG Ở VIỆT NAM.
Khái quát bộ máy quản lý tài sản công và trách nhiệm của các cơ quan trong khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công. Bộ máy quản lý tài sản công ở Việt Nam. Trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công. Thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp.
Thực trạng tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp. Thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp. Thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản kết cấu hạ tầng. Thực trạng một số loại tài sản kết cấu hạ tầng.
Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản kết cấu hạ tầng. Thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước. Thực trạng tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước. Thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước.
Thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai. Hiện trạng sử dụng đất đai. Thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai. Đánh giá thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam.
Những kết quả đạt được. Những hạn chế. Nguyên nhân của những hạn chế. 118 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3.
129 CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHAI THÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TỪ TÀI SẢN CÔNG Ở VIỆT NAM. Dự báo, quan điểm khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam. Dự báo khả năng khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2035. Quan điểm về khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công.
Giải pháp tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công. Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công. Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công. Nhóm giải pháp hỗ trợ việc khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công.
Kiến nghị đối với Quốc hội. Kiến nghị với Chính phủ. 166 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4. 169 CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ.
171 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC vi CÁC TỪ VIẾT TẮT ADB : Ngân hàng Phát triển Châu Á BOT : Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao BT : Xây dựng - Chuyển giao CHK : Cảng hàng không CSDL : Cơ sở dữ liệu DNNN : Doanh nghiệp nhà nước GDP : Tổng sản phẩm quốc nội GTVT : Giao thông vận tải HCSN : Hành chính sự nghiệp KBNN : Kho bạc nhà nước IMF : Quỹ tiền tệ Quốc tế NSNN : Ngân sách nhà nước ODA : Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức PPP : Đối tác công – tư QLCS : Quản lý công sản QLDA : Quản lý dự án SXKD : Sản xuất, kinh doanh TC,ĐM : Tiêu chuẩn, định mức TSC : Tài sản công TSCĐ : Tài sản cố định TSNN : Tài sản nhà nước TTĐT : Thông tin điện tử UBND : Ủy ban nhân dân WB : Ngân hàng Thế giới vii DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ Biểu 3. Cơ cấu tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp tại thời điểm 31/12/2018. Quy mô tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp giai đoạn 2009 - 2018. Quy mô tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp giai đoạn 2009 - 2018.
Tăng trưởng quy mô tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp giai đoạn 2009 - 2018. Tổng hợp số thu, số chi cho bảo trì của Quỹ Bảo trì đường bộ. Tổng hợp số thu từ tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt. Tổng hợp số thu từ nguồn phí, lệ phí đường thủy nội địa.
Nguồn thu từ tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước. Kết quả sử dụng đất 5 năm (2010 - 2015). Kết quả thu ngân sách nhà nước từ đất đai giai đoạn 2009 - 2018. Cơ cấu thu từ đất đai trong tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2009-2018.
Dự tính diện tích đất có thể khai thác nguồn lực tài chính. Dự tính số thu tiền sử dụng đất từ khai thác đất ở. Dự tính số thu tiền thuê đất từ đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp. Số thu từ chuyển nhượng, cho thuê quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giai đoạn 2014 - 2018.
Mô hình tổng thể ứng dụng Hệ thống giao dịch điện tử về tài sản công. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Tài sản công (TSC) là nguồn lực nội sinh của đất nước, là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và quản lý xã hội, là nguồn lực tài chính quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, trong thời kỳ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, công tác quản lý TSC mới được chú trọng về mặt hiện vật, các quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng TSC chủ yếu thông qua cấp phát, phân phối và thu hồi hiện vật, việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC chưa được quan tâm một cách đúng mức. Bước vào công cuộc Đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế sang vận hành theo cơ chế thị trường, trước yêu cầu huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển kinh tế - xã hội, TSC thực sự trở thành nguồn lực tài chính quan trọng của đất nước.
Những năm gần đây, hệ thống các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng TSC đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện để quản lý tất cả các loại TSC. Chế độ quản lý, sử dụng TSC đã từng bước gắn kết giữa việc bảo vệ nguồn lực và khai thác nguồn lực TSC. Việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC thời gian vừa qua đã đạt được những kết quả quan trọng, song vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cả về cơ chế, chính sách và công tác tổ chức thực hiện; nguồn lực khai thác được chưa tương xứng với quy mô của TSC và yêu cầu huy động nguồn lực của quốc gia. Những hạn chế đó là: (i) Chế độ quản lý, khai thác nguồn lực tài chính từ TSC đang được điều chỉnh ở nhiều văn bản khác nhau và do nhiều đầu mối quản lý; do vậy, đến nay chưa có một cơ sở dữ liệu thống nhất, đầy đủ, cập nhật về TSC.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nguyễn Tân Thịnh (2019). Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam [Luận án tiến sĩ, Học viện Hậu cần]. LuanAn.net. https://luanan.net/kinh-te/tai-chinh-ngan-hang/khai-thac-nguon-luc-tai-chinh-tu-tai-san-cong-viet-nam
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?
"Luận án tiến sĩ nghiên cứu khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công tại Việt Nam. Đề xuất chiến lược hiệu quả và bền vững cho quản lý tài sản công."
Luận án "Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Hậu cần. Năm bảo vệ: 2019.
Luận án "Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng - Bảo hiểm. Danh mục: Tài Chính - Ngân Hàng.
Luận án "Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam" có bao nhiêu trang?
Luận án "Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam" có 181 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.