Luận văn: Bảo hiểm xã hội tự nguyện theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội
Nghiên cứu thực trạng bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Sơn Tây, Hà Nội, đề xuất giải pháp nâng cao tỷ lệ tham gia hiệu quả.
Luan An
Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản
Số trang
80
Thời gian đọc
12 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện hiện nay
- Số trang:
- 80 trang
- Trường:
- Học viện Khoa học Xã hội
- Chuyên ngành:
- Luật Kinh tế
- Tác giả:
- Dương Lan Hoa
- Năm:
- 2020
Tóm tắt nội dung luận án
I. Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện hiện nay
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là chính sách an sinh xã hội quan trọng của Nhà nước Việt Nam. Chính sách hướng đến nhóm lao động phi chính thức và người không thuộc diện tham gia bảo hiểm bắt buộc. Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên đều có quyền đăng ký tham gia. Hệ thống pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc nhằm bảo đảm an sinh trọn đời cho mọi công dân. Người tham gia được lựa chọn mức thu nhập làm căn cứ đóng phù hợp năng lực tài chính cá nhân. Chính sách mang tính nhân văn sâu sắc, chia sẻ rủi ro và giảm gánh nặng trợ cấp cho ngân sách. Luật Bảo hiểm xã hội quy định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan quản lý. Việc nắm vững hành lang pháp lý giúp người lao động chủ động xây dựng kế hoạch tài chính khi về già.
1.1. Đối tượng áp dụng và vai trò của chính sách an sinh
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm lao động phi chính thức, người làm nghề tự do và nông dân. Nhóm đối tượng này trước đây không có cơ hội tiếp cận lưới an sinh xã hội bắt buộc. Chính sách tạo cơ hội bình đẳng trong việc tích lũy tài chính cho tuổi già. Khi tham gia, công dân tự tạo lập nguồn thu nhập ổn định thay vì phụ thuộc vào con cái. Pháp luật quy định quy trình đăng ký đơn giản, thuận tiện và linh hoạt. Người dân có thể đăng ký trực tiếp tại cơ quan bảo hiểm hoặc qua hệ thống đại lý. Sự bảo hộ của Nhà nước đảm bảo an toàn tuyệt đối cho nguồn quỹ tích lũy. Chính sách góp phần ổn định trật tự xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân.
1.2. Quyền lợi từ hai chế độ hưu trí và tử tuất cơ bản
Bảo hiểm xã hội tự nguyện chi trả hai quyền lợi cốt lõi gồm chế độ hưu trí và tử tuất. Chế độ hưu trí cung cấp nguồn lương hưu hàng tháng khi người tham gia đủ tuổi nghỉ hưu và thời gian đóng. Ngoài lương hưu, người thụ hưởng còn được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí suốt đời. Chế độ tử tuất hỗ trợ mai táng phí và trợ cấp tuất một lần cho thân nhân khi người tham gia qua đời. Nguồn kinh phí hỗ trợ này giúp gia đình giảm bớt áp lực kinh tế trong giai đoạn khó khăn. Cả hai chế độ đều được điều chỉnh tăng định kỳ theo chỉ số giá tiêu dùng. Đây là điểm vượt trội so với các hình thức tích lũy tiết kiệm thương mại thông thường.
II. Mức đóng BHXH tự nguyện và chế độ hưởng lương hưu
Cơ chế đóng và hưởng của bảo hiểm xã hội tự nguyện tuân theo nguyên tắc đóng nhiều hưởng nhiều, đóng ít hưởng ít. Người tham gia được linh hoạt lựa chọn mức đóng dựa trên thu nhập thực tế. Mức đóng BHXH tự nguyện hàng tháng được tính bằng 22% mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn. Mức thu nhập tối thiểu bằng chuẩn nghèo khu vực nông thôn và tối đa bằng 20 lần lương cơ sở. Phương thức đóng đa dạng tạo thuận lợi tối đa cho người dân. Công dân có thể chọn đóng hàng tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng một lần hoặc đóng một lần cho nhiều năm. Mức hưởng lương hưu BHXH tự nguyện được tính toán khoa học dựa trên tỷ lệ hưởng và mức bình quân thu nhập đóng.
2.1. Quy định về mức đóng BHXH tự nguyện và phương thức
Người tham gia tự quyết định mức thu nhập làm căn cứ tính mức đóng BHXH tự nguyện. Tỷ lệ đóng cố định ở mức 22% vào quỹ hưu trí và tử tuất. Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí đóng cho người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng khác. Người dân có thể chuyển đổi phương thức đóng linh hoạt theo chu kỳ thu nhập của gia đình. Những người có thu nhập theo mùa vụ như nông dân có thể chọn đóng 6 tháng hoặc 12 tháng một lần. Trường hợp người tham gia đủ tuổi nghỉ hưu nhưng còn thiếu tối đa 10 năm đóng có thể đóng một lần cho những năm còn thiếu. Quy định linh hoạt này giúp người lao động nhanh chóng nhận lương hưu hàng tháng.
2.2. Cách tính mức hưởng lương hưu BHXH tự nguyện cụ thể
Mức hưởng lương hưu BHXH tự nguyện hàng tháng phụ thuộc vào thời gian tham gia và mức thu nhập đã đóng. Lao động nữ đóng đủ 15 năm được hưởng tỷ lệ 45%, sau đó mỗi năm tăng thêm 2%, tối đa đạt 75%. Lao động nam đóng đủ 20 năm được hưởng tỷ lệ 45%, sau đó mỗi năm tăng thêm 2%, tối đa đạt 75%. Mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội có tính đến yếu tố điều chỉnh trượt giá. Khoản lương hưu chi trả ổn định qua tài khoản ngân hàng hoặc nhận tiền mặt tại địa phương. Ngoài ra, việc điều chỉnh tăng lương hưu theo chu kỳ giúp bảo đảm giá trị đồng tiền trước lạm phát. Thẻ bảo hiểm y tế với mức hưởng 95% chi phí khám chữa bệnh được cấp kèm theo sổ hưu.
III. Thực tiễn tham gia bảo hiểm xã hội ở thị xã Sơn Tây
Công tác phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại địa bàn thị xã Sơn Tây đã đạt nhiều kết quả tích cực qua các năm. BHXH thị xã Sơn Tây chủ động phối hợp chặt chẽ với các ban ngành, đoàn thể và chính quyền cơ sở. Nhiều chiến dịch tuyên truyền được triển khai sâu rộng đến từng tổ dân phố và thôn xóm. Số lượng người tham gia tăng trưởng đều đặn qua từng giai đoạn, đặc biệt là nhóm lao động tự do Sơn Tây. Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ vẫn chưa tương xứng với tiềm năng thực tế của địa phương. Nhiều người dân vẫn chưa hiểu rõ sự khác biệt giữa bảo hiểm xã hội và bảo hiểm nhân thọ thương mại. Thu nhập không ổn định cũng là rào cản lớn khiến một bộ phận lao động trì hoãn tham gia.
3.1. Kết quả thực hiện nhiệm vụ của BHXH thị xã Sơn Tây
BHXH thị xã Sơn Tây đã đổi mới toàn diện quy trình phục vụ và cải cách thủ tục hành chính. Hệ thống cơ sở dữ liệu được số hóa giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và giải quyết chế độ. Cơ quan bảo hiểm tổ chức các buổi tư vấn trực tiếp tại nhà văn hóa thôn, xã, phường. Số người tham gia mới tăng liên tục từ năm 2011 đến năm 2019, đóng góp quan trọng vào lưới an sinh chung. Tỷ lệ giải quyết hồ sơ hưu trí và tử tuất luôn đạt độ chính xác cao, bảo đảm quyền lợi kịp thời. Đội ngũ cán bộ chuyên môn được tập huấn kỹ năng truyền thông và tư vấn chính sách. Công tác phối hợp liên ngành giúp tháo gỡ nhanh chóng các vướng mắc phát sinh từ cơ sở.
3.2. Thực trạng nhóm nông dân tham gia BHXH tự nguyện
Tỷ lệ nông dân tham gia BHXH tự nguyện tại khu vực ngoại thành Sơn Tây còn ở mức khiêm tốn. Đa số lao động nông nghiệp có nguồn thu nhập bấp bênh, phụ thuộc vào thời tiết và mùa vụ. Thói quen tích lũy bằng vàng hoặc gửi tiết kiệm ngân hàng vẫn phổ biến trong cộng đồng dân cư. Nhận thức của người dân về giá trị của lương hưu dài hạn chưa thực sự đầy đủ. Một số người e ngại thời gian đóng 20 năm là quá dài so với vòng đời lao động. Dù vậy, các mô hình hội viên nông dân giúp nhau đóng bảo hiểm bước đầu mang lại tín hiệu tích cực. Công tác tuyên truyền tại các hợp tác xã nông nghiệp đang được đẩy mạnh để mở rộng diện bao phủ.
3.3. Hiệu quả vận hành của đại lý thu BHXH bưu điện
Mạng lưới đại lý thu BHXH bưu điện tại thị xã Sơn Tây đóng vai trò cánh tay nối dài của cơ quan bảo hiểm. Hệ thống bưu cục phân bố rộng khắp giúp người dân dễ dàng nộp tiền và nhận tư vấn tại chỗ. Nhân viên bưu điện được đào tạo bài bản về kỹ năng tiếp cận khách hàng và giải thích chính sách. Nhiều hội nghị khách hàng do bưu điện tổ chức đã vận động thành công hàng trăm người tham gia mới. Đại lý thu còn chủ động nhắc lịch đóng phí định kỳ, hạn chế tình trạng gián đoạn quá trình đóng. Sự kết hợp giữa ngành bảo hiểm và bưu điện tạo ra kênh phân phối dịch vụ công chuyên nghiệp và đáng tin cậy.
IV. Chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội Hà Nội
Thành phố Hà Nội là địa phương đi đầu trong việc ban hành chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH Hà Nội. Nguồn ngân sách địa phương được trích lập để hỗ trợ thêm mức đóng cho các đối tượng yếu thế ngoài phần hỗ trợ của Trung ương. Chính sách đặc thù này thể hiện sự quan tâm sâu sắc của chính quyền đối với an sinh xã hội toàn dân. Người dân thị xã Sơn Tây được hưởng lợi trực tiếp từ các quyết sách ưu đãi vượt trội này. Gánh nặng tài chính hàng tháng được giảm bớt đáng kể, tạo động lực cho các hộ khó khăn tham gia. Việc kết hợp đồng bộ giữa chính sách Trung ương và địa phương mang lại hiệu quả thiết thực trong việc mở rộng mạng lưới an sinh.
4.1. Cơ chế hỗ trợ kinh phí từ ngân sách thành phố Hà Nội
Chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH Hà Nội áp dụng mức chi bổ sung đáng kể cho từng nhóm đối tượng cụ thể. Hộ nghèo và hộ cận nghèo nhận được mức hỗ trợ cao nhất, giúp giảm tới một nửa chi phí đóng thực tế. Người tham gia thuộc các đối tượng khác cũng nhận được khoản hỗ trợ định kỳ từ ngân sách Thủ đô. Thủ tục thanh quyết toán kinh phí hỗ trợ diễn ra tự động thông qua cơ quan quản lý bảo hiểm. Người dân chỉ cần đóng phần chênh lệch còn lại sau khi đã trừ đi khoản trợ cấp của Nhà nước. Cơ chế tài chính minh bạch tạo niềm tin vững chắc cho nhân dân khi tham gia tích lũy lâu dài.
4.2. Tác động của chính sách đến lao động tự do Sơn Tây
Chính sách trợ cấp đóng phí đã tạo cú hích lớn đối với nhóm lao động tự do Sơn Tây. Những người làm nghề tiểu thương, xe ôm, thợ thủ công bắt đầu chủ động đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội. Chi phí đóng mỗi tháng sau hỗ trợ chỉ tương đương vài ngày công lao động phổ thông. Mức chi phí hợp lý giúp người dân duy trì việc đóng phí liên tục mà không bị đứt quãng. Tỷ lệ duy trì tái tục hợp đồng qua các năm tại Sơn Tây ghi nhận mức tăng trưởng rõ rệt. Đời sống tinh thần của người lao động được nâng cao khi có điểm tựa tài chính an toàn cho tương lai.
V. Giải pháp mở rộng và phát triển người tham gia BHXH
Để nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện và phát triển người tham gia BHXH, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng tăng tính hấp dẫn và giảm thời gian đóng tối thiểu là yêu cầu cấp thiết. Công tác tuyên truyền phải đổi mới về nội dung và hình thức để tiếp cận đúng nhóm đối tượng mục tiêu. Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số giúp đơn giản hóa mọi thủ tục giao dịch. Đội ngũ đại lý thu cần tiếp tục được chuẩn hóa kỹ năng và nâng cao tinh thần trách nhiệm phục vụ. Sự vào cuộc quyết liệt của toàn bộ hệ thống chính trị tại thị xã Sơn Tây giữ vai trò quyết định thắng lợi mục tiêu bao phủ bảo hiểm xã hội toàn dân.
5.1. Đổi mới hình thức truyền thông phát triển người tham gia BHXH
Công tác phát triển người tham gia BHXH đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ trong phương thức truyền thông. Thay vì tuyên truyền một chiều, các buổi đối thoại trực tiếp theo từng nhóm nhỏ mang lại hiệu quả cao hơn. Cán bộ bảo hiểm trực tiếp lắng nghe tâm tư và giải đáp cặn kẽ mọi thắc mắc của người dân. Ứng dụng mạng xã hội và truyền thông số giúp thông tin chính sách lan tỏa nhanh chóng đến giới trẻ và lao động tự do. Nội dung truyền thông tập trung nhấn mạnh quyền lợi lương hưu thực tế và sự an tâm khi về già. Các tấm gương người cao tuổi nhận lương hưu từ bảo hiểm tự nguyện được nêu gương để tạo sức lan tỏa sâu rộng.
5.2. Nâng cao năng lực cho hệ thống đại lý thu BHXH bưu điện
Đại lý thu BHXH bưu điện cần được đầu tư bài bản về cơ sở vật chất và kỹ năng tư vấn chuyên sâu. Các khóa đào tạo định kỳ giúp nhân viên cập nhật kịp thời các quy định pháp luật mới nhất. Cơ chế giao chỉ tiêu và trả hoa hồng thỏa đáng tạo động lực cho nhân viên tích cực tìm kiếm khách hàng. Tăng cường ứng dụng biên lai điện tử và thu phí không dùng tiền mặt giúp nâng cao tính minh bạch. Cơ quan bảo hiểm cần thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của các điểm thu trên địa bàn thị xã Sơn Tây. Việc xây dựng hình ảnh đại lý thu chuyên nghiệp, tận tâm là chìa khóa gia tăng số lượng người tham gia.
5.3. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật trong giai đoạn mới
Luận văn kiến nghị Quốc hội và Chính phủ xem xét giảm số năm đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu từ 20 năm xuống 15 năm. Quy định này tạo cơ hội cho những người tham gia muộn vẫn đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng. Bổ sung các chế độ ngắn hạn như trợ cấp ốm đau, thai sản vào gói bảo hiểm tự nguyện để tăng tính hấp dẫn. Tiếp tục nâng mức hỗ trợ tiền đóng từ ngân sách Nhà nước cho các nhóm lao động có thu nhập thấp. Tăng cường kết nối liên thông dữ liệu giữa cơ quan bảo hiểm và cơ quan thuế để quản lý chính xác đối tượng tiềm năng. Những cải cách này sẽ tạo nền tảng vững chắc để đạt mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (80 trang)Nội dung chính
Tổng quan nghiên cứu
Tại Việt Nam, bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) đóng vai trò then chốt trong hệ thống an sinh xã hội, hướng đến nhóm đối tượng lao động phi chính thức và tự do. Mặc dù chính sách này đã được triển khai từ năm 2008 theo Luật Bảo hiểm xã hội số 76/2006/QH và tiếp tục được hoàn thiện trong Luật Bảo hiểm xã hội 2014, số lượng người tham gia vẫn còn ở mức khiêm tốn so với tiềm năng. Nghiên cứu này xuất phát từ thực tiễn tại thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội, một địa phương có hơn 100.000 người lao động tự do tính đến năm 2019, nơi việc triển khai BHXHTN gặp nhiều thách thức. Mặc dù có những nỗ lực đáng kể, số lượng người tham gia BHXHTN tại đây vẫn chưa đáp ứng được định hướng của Đảng và Nhà nước, phần lớn do trình độ học vấn, nhận thức còn hạn chế, việc làm bấp bênh và thu nhập thấp của đối tượng.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là đánh giá thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về BHXHTN và phân tích thực tiễn thực hiện tại thị xã Sơn Tây. Luận văn đặt mục tiêu làm rõ các vấn đề lý luận về pháp luật BHXHTN, nhận diện những thành tựu và hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành. Đồng thời, nghiên cứu đi sâu vào các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện BHXHTN tại Sơn Tây, từ đó đề xuất các yêu cầu, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách này. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn triển khai tại thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2014 đến 2019. Luận văn kỳ vọng đóng góp vào việc nâng cao tỷ lệ tham gia BHXHTN, ổn định an sinh xã hội, hướng tới mục tiêu mở rộng độ bao phủ BHXH cho toàn bộ người lao động Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu này được xây dựng trên nền tảng vững chắc của nhiều khung lý thuyết và mô hình quan trọng. Đầu tiên, luận văn vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin về phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cùng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật bảo hiểm xã hội nói riêng. Những quan điểm này cung cấp cơ sở nền tảng để phân tích vai trò của Nhà nước trong việc thiết lập và đảm bảo quyền an sinh cho người dân.
Thứ hai, lý thuyết về an sinh xã hội được áp dụng để làm rõ vị trí của bảo hiểm xã hội, trong đó có BHXHTN, như một trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh. Luận văn khẳng định rằng hoạt động BHXHTN mang mục tiêu phi lợi nhuận, hướng tới ổn định đời sống cho người lao động và gia đình, góp phần đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội.
Trong khuôn khổ pháp lý và kinh tế, ba khái niệm chính được làm rõ. Bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) được định nghĩa là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, có quyền lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Khái niệm pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện được hiểu là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này. Cuối cùng, quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện là một quỹ tài chính độc lập, tập trung, nằm ngoài ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của các bên tham gia và các nguồn thu hợp pháp khác, có mục đích chính là chi trả các chế độ BHXH. Nguyên tắc "đóng - hưởng" là cơ sở cốt lõi cho hoạt động của cả BHXHTN và bảo hiểm thương mại, tạo sự bình đẳng và chia sẻ rủi ro giữa các thành viên.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu để đạt được mục tiêu đề ra. Nguồn dữ liệu chính được thu thập từ các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam liên quan đến BHXHTN, bao gồm Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 và năm 2014, Nghị định số 134/2015/NĐ-CP và Nghị quyết số 93/2015/QH13 của Quốc hội. Ngoài ra, luận văn còn kế thừa và tham khảo các công trình nghiên cứu khoa học trước đó ở cấp độ khóa luận, luận văn thạc sĩ và các bài viết chuyên ngành. Đặc biệt, dữ liệu thực tiễn được trích xuất từ các báo cáo tổng kết của Bảo hiểm xã hội thị xã Sơn Tây, cung cấp số liệu cụ thể về tình hình tham gia, thu quỹ và chi trả chế độ BHXHTN trong giai đoạn 2011-2019. Thông tin từ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cũng được sử dụng để phân tích đặc điểm lao động tại Sơn Tây.
Các phương pháp phân tích chủ yếu bao gồm phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, liệt kê, và kết hợp lý luận với thực tiễn. Phương pháp phân tích và tổng hợp được dùng để mổ xẻ các quy định pháp luật và tổng kết thực trạng triển khai. Phương pháp so sánh được áp dụng để đối chiếu pháp luật BHXHTN Việt Nam với kinh nghiệm quốc tế từ các nước như Đức, Trung Quốc, Ba Lan và Pháp, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu. So sánh giữa BHXHTN với BHXH bắt buộc và bảo hiểm thương mại cũng làm nổi bật những đặc trưng riêng của BHXHTN. Phương pháp liệt kê giúp trình bày rõ ràng các yếu tố ảnh hưởng và các chế độ BHXH hiện có. Việc kết hợp lý luận và thực tiễn đảm bảo các đề xuất đưa ra có căn cứ khoa học và phù hợp với điều kiện thực tế.
Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu này sử dụng toàn bộ dữ liệu thống kê về BHXHTN tại thị xã Sơn Tây trong giai đoạn 2014-2019 (với dữ liệu mở rộng từ 2011-2019 cho một số chỉ tiêu), không phải là mẫu ngẫu nhiên mà là tổng thể nghiên cứu được cung cấp bởi cơ quan BHXH địa phương. Đến năm 2019, có 23.010 người tham gia BHXHTN tại Sơn Tây, và 1034 người đã hưởng chế độ hưu trí từ BHXHTN tính đến cuối năm 2018. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là để có cái nhìn toàn diện, sâu sắc nhất về cả khía cạnh pháp lý và tác động thực tế của chính sách, đảm bảo tính khách quan và đáng tin cậy cho các kiến nghị. Nghiên cứu thực hiện trong khung thời gian từ năm 2014-2019, phù hợp với thời điểm Luật BHXH 2014 có hiệu lực.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu tại thị xã Sơn Tây đã chỉ ra ba phát hiện quan trọng về tình hình thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Đầu tiên, số người tham gia BHXHTN và số tiền thu quỹ đã có sự tăng trưởng đáng kể trong giai đoạn 2011-2019, nhưng vẫn còn rất khiêm tốn so với tiềm năng. Cụ thể, số người tham gia BHXHTN đã tăng từ 368 người vào năm 2011 lên 23.010 người vào năm 2019, thể hiện mức tăng trưởng ấn tượng gấp hơn 62 lần. Tương ứng, số tiền thu quỹ BHXHTN cũng tăng vọt từ khoảng 374 triệu đồng vào năm 2011 lên hơn 93 tỷ đồng vào năm 2019, một sự tăng trưởng vượt bậc hơn 248 lần. Tuy nhiên, khi so sánh với tổng số hơn 100.000 lao động tự do tại thị xã Sơn Tây, con số 23.010 người tham gia chỉ chiếm khoảng 23% đối tượng tiềm năng, cho thấy mức độ bao phủ vẫn còn thấp.
Thứ hai, các chính sách hỗ trợ từ Nhà nước và sự linh hoạt trong quy định pháp luật đã bước đầu phát huy hiệu quả. Từ năm 2018, Nhà nước bắt đầu hỗ trợ tiền đóng BHXHTN, với mức 46.200 đồng/tháng cho người thuộc hộ nghèo, 38.500 đồng/tháng cho hộ cận nghèo và 15.000 đồng/tháng cho các đối tượng khác. Chính sách này cùng với quy định cho phép người tham gia đủ tuổi nghỉ hưu nhưng còn thiếu thời gian đóng (không quá 10 năm) được đóng một lần để hưởng lương hưu, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều người tiếp cận BHXHTN. Minh chứng rõ ràng là đến cuối năm 2018, thị xã Sơn Tây đã có 1034 người hưởng lương hưu từ BHXHTN, một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về chỉ tiêu này, tương đương với việc cứ khoảng 23 người tham gia BHXHTN thì có 1 người đang hưởng lương hưu.
Thứ ba, công tác tuyên truyền dù được đẩy mạnh nhưng hiệu quả chưa tương xứng, và các chế độ của BHXHTN còn hạn chế. Mặc dù Bảo hiểm xã hội thị xã Sơn Tây đã tổ chức 53 hội nghị tuyên truyền, phát hành trên 13.700 tờ rơi và treo hơn 600 pa nô từ năm 2019 đến nay, tỷ lệ người dân tham gia BHXHTN vẫn còn thấp so với các loại hình bảo hiểm khác. Ví dụ, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tại Sơn Tây đạt gần 95,51% đến tháng 2 năm 2020, cao hơn đáng kể so với BHXHTN. Mặt khác, BHXHTN hiện chỉ cung cấp hai chế độ là hưu trí và tử tuất, thiếu các chế độ ngắn hạn thiết yếu như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, vốn là những quyền lợi cơ bản trong BHXH bắt buộc. Điều này làm giảm tính hấp dẫn của chính sách đối với người lao động, những người thường xuyên phải đối mặt với các rủi ro trong cuộc sống.
Thảo luận kết quả
Sự gia tăng số người tham gia và số thu quỹ BHXHTN tại thị xã Sơn Tây có thể được giải thích bởi một số nguyên nhân chính. Đầu tiên là sự nỗ lực rất lớn của cơ quan Bảo hiểm xã hội thị xã Sơn Tây trong công tác truyền thông trực tiếp, tổ chức các hội nghị và gặp gỡ từng hộ dân để giải thích về lợi ích của chính sách. Thứ hai, sự chuyển đổi đối tượng từ "BHXH nông dân Sơn Tây" sang BHXHTN theo Quyết định số 41/TTg của Thủ tướng Chính phủ vào năm 2009 đã tạo ra một sự tăng trưởng đột biến về số lượng người tham gia trong các năm 2012 và 2013, với 9.029 người và 12.600 người tương ứng. Cuối cùng, việc hoàn thiện khung pháp lý với Luật BHXH 2014 và Nghị định 134/2015/NĐ-CP, đặc biệt là việc đa dạng hóa phương thức đóng và chính sách hỗ trợ tài chính từ Nhà nước từ năm 2018, đã tạo động lực mới cho người dân.
Tuy nhiên, những hạn chế về số lượng người tham gia và tính hấp dẫn của chính sách cũng có những nguyên nhân sâu xa. Đối tượng chính của BHXHTN là lao động tự do, thường có trình độ học vấn và nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Công việc của họ bấp bênh và thu nhập thấp (thu nhập bình quân đầu người tại Sơn Tây chỉ gần 36 triệu đồng/năm), khiến việc đóng BHXH trở thành một gánh nặng tài chính đáng kể. Ngoài ra, tại Sơn Tây, có tới 86,02% lực lượng lao động chưa qua đào tạo, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thông tin và nhận thức về các chính sách an sinh. Gói chế độ BHXHTN hiện tại chỉ gồm hưu trí và tử tuất là chưa đủ hấp dẫn, không đáp ứng được nhu cầu bảo vệ trước các rủi ro ngắn hạn như ốm đau hay thai sản, điều mà lao động tự do rất cần. Mặc dù đã có cải cách, các thủ tục hành chính đôi khi vẫn còn phức tạp, chưa thực sự thuận lợi tối đa cho người dân. Công tác truyền thông mặc dù rộng khắp nhưng chưa đi vào chiều sâu, chưa giải quyết được triệt để tâm lý e ngại hoặc nhầm lẫn BHXHTN với bảo hiểm thương mại, đặc biệt là với đối tượng hộ nghèo và cận nghèo dù đã có chính sách hỗ trợ.
So sánh với các nghiên cứu trước đây như của Hồ Thị Hải (2016) hay Trần Thị Huyền Lê (2017) đã chỉ ra những vướng mắc chung của pháp luật BHXHTN ở Việt Nam, luận văn này bổ sung góc nhìn thực tiễn bằng cách tập trung vào một địa bàn cụ thể là thị xã Sơn Tây. Các phát hiện tại đây củng cố thêm nhận định về những thách thức liên quan đến đặc điểm của lực lượng lao động tự do và sự cần thiết phải có những điều chỉnh chính sách toàn diện.
Những kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định vai trò không thể thiếu của BHXHTN trong hệ thống an sinh xã hội, giúp giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và đảm bảo cuộc sống ổn định cho người lao động khi về già. Dữ liệu từ nghiên cứu có thể được minh họa thông qua các biểu đồ cột thể hiện sự tăng trưởng số người tham gia và số tiền thu quỹ theo từng năm, giúp trực quan hóa xu hướng. Một biểu đồ tròn có thể trình bày tỷ lệ lao động tự do đã tham gia BHXHTN so với tổng số lao động tự do tiềm năng. Ngoài ra, một bảng so sánh chi tiết các chế độ giữa BHXHTN và BHXH bắt buộc sẽ làm nổi bật những điểm còn thiếu hụt, làm cơ sở cho các đề xuất hoàn thiện chính sách.
Đề xuất và khuyến nghị
Để hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện tại thị xã Sơn Tây nói riêng và cả nước nói chung, luận văn đề xuất các giải pháp cụ thể sau:
-
Mở rộng và đa dạng hóa các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện:
- Hành động: Quốc hội, Chính phủ và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cần khẩn trương nghiên cứu và bổ sung thêm các chế độ bảo hiểm ngắn hạn như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động vào gói BHXHTN.
- Target metric: Tăng ít nhất 2 chế độ ngắn hạn trong gói BHXHTN, hướng tới sự tương đồng gần hơn với BHXH bắt buộc về quyền lợi cơ bản.
- Timeline: Đến hết năm 2025.
- Chủ thể: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
-
Đẩy mạnh công tác truyền thông và giáo dục pháp luật chuyên sâu:
- Hành động: Bảo hiểm xã hội Việt Nam cùng các cơ quan địa phương như UBND thị xã Sơn Tây và các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ, Mặt trận Tổ quốc) cần xây dựng chiến lược truyền thông đa dạng, sử dụng "người thật, việc thật" và phân tích chi tiết lợi ích kinh tế lâu dài khi tham gia BHXHTN.
- Target metric: Tăng tỷ lệ nhận thức về lợi ích BHXHTN lên 80% trong nhóm lao động tự do tại Sơn Tây trong 3 năm tới và tăng số người tham gia BHXHTN lên 50% so với hiện tại trong giai đoạn 2020-2025.
- Timeline: Giai đoạn 2020-2025.
- Chủ thể: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội thị xã Sơn Tây, UBND các cấp, các tổ chức đoàn thể.
-
Tăng cường mức hỗ trợ và linh hoạt hóa phương thức đóng:
- Hành động: Chính phủ và Bộ Tài chính cần xem xét tăng mức hỗ trợ của Nhà nước cho người thuộc hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng thu nhập thấp để giảm gánh nặng tài chính ban đầu. Đồng thời, nghiên cứu linh hoạt hóa hơn nữa các phương thức đóng, có thể cho phép đóng theo tuần hoặc tích lũy linh hoạt tùy theo khả năng thu nhập.
- Target metric: Tăng tỷ lệ tham gia của hộ nghèo và cận nghèo lên ít nhất 30% trong vòng 5 năm.
- Timeline: Đến hết năm 2025.
- Chủ thể: Chính phủ, Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
-
Nâng cao chất lượng dịch vụ và ứng dụng công nghệ thông tin:
- Hành động: Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Bảo hiểm xã hội thị xã Sơn Tây cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào quản lý và chi trả BHXHTN (ví dụ: đăng ký trực tuyến, tra cứu thông tin qua ứng dụng di động). Đồng thời, tăng cường đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ BHXH.
- Target metric: Rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục BHXHTN xuống 30% trong 2 năm và tăng sự hài lòng của người dân về dịch vụ BHXH lên 90%.
- Timeline: Đến hết năm 2023.
- Chủ thể: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội thị xã Sơn Tây, Bộ Thông tin và Truyền thông.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn này cung cấp những phân tích sâu sắc và các kiến nghị thiết thực về bảo hiểm xã hội tự nguyện, do đó sẽ là tài liệu tham khảo giá trị cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau:
-
Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Luận văn cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng và những vướng mắc của pháp luật BHXHTN, đặc biệt là từ góc độ địa phương như thị xã Sơn Tây. Các nhà hoạch định chính sách có thể tham khảo để đề xuất sửa đổi, bổ sung chính sách phù hợp, mở rộng các chế độ và tăng cường hỗ trợ tài chính cho người dân. Việc này sẽ giúp đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của các văn bản pháp luật về an sinh xã hội trong tương lai.
-
Cán bộ, nhân viên hệ thống Bảo hiểm xã hội các cấp: Nghiên cứu trình bày chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai BHXHTN, từ công tác truyền thông đến quy trình thực hiện. Cán bộ BHXH có thể áp dụng các bài học kinh nghiệm từ Sơn Tây, cải thiện phương pháp tuyên truyền, đào tạo nâng cao nghiệp vụ và đạo đức cán bộ, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả công tác phát triển đối tượng tham gia tại địa bàn mình phụ trách.
-
Cộng đồng nghiên cứu khoa học và sinh viên chuyên ngành Luật, Kinh tế - Xã hội: Đây là nguồn tài liệu học thuật giá trị, cung cấp dữ liệu thực tế và phân tích chuyên sâu về một case study điển hình trong lĩnh vực an sinh xã hội. Sinh viên và nhà nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các khóa luận, luận văn, hoặc các đề tài nghiên cứu chuyên sâu hơn về BHXHTN, chính sách công, và hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam.
-
Người lao động tự do và người dân nói chung: Luận văn giúp người lao động hiểu rõ hơn về quyền và lợi ích khi tham gia BHXHTN, các chính sách hỗ trợ hiện có, cũng như phương thức và mức đóng phù hợp. Từ đó, mỗi cá nhân có thể đưa ra quyết định chủ động và sáng suốt về việc tham gia BHXHTN, đảm bảo tương lai tài chính ổn định cho bản thân và gia đình khi về già, không phụ thuộc vào con cái hay trợ cấp xã hội.
Câu hỏi thường gặp
-
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là gì và khác gì so với bảo hiểm xã hội bắt buộc? BHXHTN là loại hình bảo hiểm xã hội dành cho người lao động tự do, không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, mà người tham gia tự nguyện đóng góp và lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập. Điểm khác biệt chính nằm ở đối tượng tham gia (lao động tự do so với người lao động có hợp đồng), cơ chế đóng góp (người tham gia BHXHTN tự đóng 100% có hỗ trợ nhà nước, còn BHXH bắt buộc có sự đóng góp của cả người lao động và người sử dụng lao động), và số chế độ (BHXHTN hiện chỉ có hưu trí và tử tuất, trong khi BHXH bắt buộc có 5 chế độ).
-
Tại sao người lao động tự do nên tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện? Tham gia BHXHTN mang lại sự đảm bảo an sinh lâu dài cho người lao động tự do. Khi về già, họ sẽ được hưởng chế độ lương hưu ổn định, giúp trang trải cuộc sống và không phụ thuộc tài chính vào con cháu. Ngoài ra, khi đủ điều kiện hưởng lương hưu, người tham gia còn được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, giúp giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh. Đây là một khoản đầu tư cho tương lai, giảm thiểu rủi ro khi không còn khả năng lao động.
-
Pháp luật Việt Nam có những thay đổi gì để khuyến khích tham gia BHXHTN? Pháp luật Việt Nam đã có nhiều điều chỉnh để tăng cường khuyến khích tham gia BHXHTN. Luật BHXH 2014 và Nghị định 134/2015/NĐ-CP đã đa dạng hóa phương thức đóng, cho phép đóng theo tháng, quý, 6 tháng, 12 tháng, hoặc đóng một lần cho nhiều năm, thậm chí đóng một lần cho những năm còn thiếu không quá 10 năm. Đặc biệt, từ năm 2018, Nhà nước đã triển khai chính sách hỗ trợ tài chính trực tiếp cho người tham gia, với mức hỗ trợ hàng tháng từ 15.000 đến 46.200 đồng tùy theo đối tượng.
-
Tình hình thực hiện Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại thị xã Sơn Tây có những điểm nổi bật nào? Thị xã Sơn Tây đã đạt được những thành tựu đáng kể trong triển khai BHXHTN. Số người tham gia tăng từ 368 người năm 2011 lên 23.010 người năm 2019, và số tiền thu quỹ tăng từ 374 triệu đồng lên hơn 93 tỷ đồng trong cùng kỳ. Đặc biệt, Sơn Tây là một trong những địa phương đầu tiên trên cả nước có người hưởng lương hưu từ BHXHTN, với 1034 người hưởng lương hưu đến cuối năm 2018. Thành công này đến từ công tác tuyên truyền sâu rộng và sự chuyển đổi chính sách từ BHXH nông dân.
-
Làm thế nào để nâng cao hiệu quả tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện trong thời gian tới? Để nâng cao hiệu quả, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Một là, mở rộng các chế độ BHXHTN để tăng tính hấp dẫn. Hai là, đẩy mạnh truyền thông theo hướng cá nhân hóa, chú trọng lợi ích cụ thể và xóa bỏ định kiến. Ba là, tăng cường mức hỗ trợ từ Nhà nước và linh hoạt hóa hơn nữa các phương thức đóng. Cuối cùng, cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và nâng cao đạo đức, năng lực cán bộ BHXH là rất cần thiết để người dân dễ dàng tiếp cận và tham gia.
Kết luận
- Luận văn đã phân tích toàn diện khung pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Việt Nam và đánh giá sâu sắc thực tiễn triển khai chính sách này tại thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội trong giai đoạn 2014-2019.
- Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù có sự tăng trưởng tích cực về số lượng người tham gia (tăng gấp hơn 62 lần từ 2011 đến 2019) và số thu quỹ (tăng gấp hơn 248 lần), chính sách BHXHTN vẫn đối mặt với nhiều thách thức về nhận thức, tính hấp dẫn của các chế độ và sự phù hợp với điều kiện thu nhập của lao động tự do.
- Đóng góp chính của luận văn là đưa ra các phân tích chuyên sâu về những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật BHXHTN, từ hệ thống pháp luật, tổ chức thực hiện, ý thức người dân đến cơ sở vật chất. Đồng thời, nghiên cứu đề xuất các giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả triển khai.
- Trong vòng 5 năm tới, cần tập trung vào việc mở rộng các chế độ BHXHTN bao gồm cả các quyền lợi ngắn hạn, tăng cường mức hỗ trợ tài chính từ Nhà nước, đặc biệt cho các đối tượng yếu thế, và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để chính sách thực sự đi vào đời sống.
- Vì một hệ thống an sinh xã hội bền vững và toàn diện, cần sự chung tay hành động từ các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý, và đặc biệt là sự chủ động tham gia của mỗi cá nhân người lao động. Hãy cùng xây dựng một tương lai an toàn và đảm bảo cho mọi thành viên trong xã hội.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI DƯƠNG LAN HOA BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ Hà Nội - 2020 luan an VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI DƯƠNG LAN HOA BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI Ngành: Luật kinh tế Mã số: 8 38 01 07 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM THỊ THÚY NGA Hà Nội - 2020 luan an LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn với đề tài: Bảo hiểm xã hội tự nguyện theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất cứ ai. Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình ! Hà Nội, ngày. tháng năm 2020 HỌC VIÊN Dương Lan Hoa luan an LỜI CÁM ƠN Được sự phân công của quý thầy cô khoa Luật, đến nay em đã hoàn thành luận văn của mình với đề tài: Bảo hiểm xã hội tự nguyện theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội. Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ngoài sự nỗ lực học hỏi của bản thân còn có sự hướng dẫn tận tình của các thầy, cô giáo và Ban Giám đốc học viện.
Đặc biệt em chân thành cảm ơn TS Phạm Thị Thúy Nga – người đã hướng dẫn cho em trong suốt thời gian thực hiện làm luận văn. Một lần nữa em chân thành cảm ơn cô và chúc cô dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc. Tuy nhiên vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên nội dung của luận văn không tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy, cô để bài viết này được hoàn thiện hơn. Một lần nữa xin gửi đến quý thầy, cô và học viện lời cảm ơn chân thành và tốt đẹp nhất! HỌC VIÊN Dương Lan Hoa luan an MỤC LỤC MỞ ĐẦU.
1 Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN. Khái niệm, vai trò của pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện. Điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện .3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện. 22 Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
Thực trạng quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam hiện nay. Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội. 34 Chương 3: YÊU CẦU, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC THỰC HIỆN TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam trong thời gian tới.
Giải pháp về hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 71 luan an DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BHXH Bảo hiểm xã hội BHXHTN Bảo hiểm xã hội tự nguyện CP Chính phủ HĐ Hợp đồng KT-XH Kinh tế - xã hội NĐ Nghị định NLĐ Người lao động TP Thành phố luan an DANH MỤC BẢNG Bảng 2.
Bảng tỷ lệ hưởng chế độ hưu trí. Số người tham gia BHXH tự nguyện giai đoạn 2011 – 2019. Kết quả số thu BHXH tự nguyện. Kết quả người hưởng chế độ hưu trí BHXH tự nguyện.
40 luan an MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Để tồn tại, phát triển con người phải lao động nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ cho cuộc sống. Muốn vậy, con người phải có sức khoẻ và khả năng lao động. Trong thực tế, lao động không phải người lao động nào cũng có đủ điều kiện sức khoẻ, khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoàn thành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Ngược lại, không mấy ai tránh được những rủi ro bất hạnh như ốm đau, tai nạn hay già yếu, chết hoặc thiếu công ăn việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác động xã hội khác. Cùng với sự phát triển của xã hội, ý thức cộng đồng được nâng dần lên thì “dịch vụ bảo hiểm xã hội" cũng hoàn thiện dần và ngày càng đa dạng, phong phú. Khi nền kinh tế hàng hoá hình thành và phát triển đã có sự chuyên môn hoá trong hoạt động đời sống xã hội. Quá trình công nghiệp hoá tạo ra một đội ngũ lao động làm công ăn lương và cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào thu nhập từ lao động của họ … Cho nên, khi có những rủi ro xảy ra làm cho người lao động bị mất hoặc giảm thu nhập dẫn đến ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ.
Để khắc phục tình trạng này truyền thống tương thân, tương ái vốn có trong nhân dân được phát huy. Các quỹ tương tế, quỹ ái hữu và các hiệp hội ra đời nhằm bảo vệ các thành viên của mình, dưới các hình thức quyên góp một phần thu nhập của các thành viên khi họ còn khoẻ mạnh, còn có thu nhập. Đây là những hình thức sơ khai của BHXH sau này. Dần dần khi kinh tế hàng hoá phát triển, các mối quan hệ lao động và quan hệ xã hội ngày càng trở nên quan trọng.
Luật Bảo hiểm xã hội 2014 ra đời, riêng chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện được áp dụng từ năm 2008. Bảo hiểm xã hội tự nguyện chủ yếu áp dụng cho đối tượng là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi với nam, đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi đối với nữ và không thuộc diện áp dụng của 1 luan an pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc. Như vậy, người lao động ở mọi khu vực có quyền lợi trong tham gia và thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội. Tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội việc triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện mặc dù còn mới, nhưng hệ thống bảo hiểm xã hội đã phân cấp tổ chức bộ máy hoạt động đến cấp huyện và có đại lý đến cấp xã, phường rất thuận lợi cho người lao động tiếp cận để tham gia.
Tuy nhiên, qua hơn 10 năm triển khai thực hiện, số lượng người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của họ ̣cũng như định hướng của Đảng, Nhà nước. Nguyên nhân số lượng người tham gia còn ít do đặc điểm lao động của đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện ở nước ta là: trình độ học vấn và nhận thức xã hội còn nhiều hạn chế, lao động phần lớn chưa qua đào tạo, việc làm bấp bênh, thu nhập thấp. Vấn đề cần đặt ra là làm thế nào để người lao động nhận thức được sự cần thiết tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Xuất phát từ những lý do trên, em đã chọn đề tài “Bảo hiểm xã hội tự nguyện theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội.
” làm luận văn Thạc sỹ Luật học của mình với mong muốn góp phần hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hôị tự nguyện ở nước ta. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Bảo hiểm xã hội tự nguyêṇ đang ngày càng được quan tâm không chỉ trong thực tiễn mà còn với những nhà nghiên cứu khoa học. Một số công trình đã được thực hiện dưới dạng khóa luận tốt nghiệp như: “Thưc ̣ trạng pháp luâṭ bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Viêṭ Nam hiện nay – trường Đại học Mở Hà Nội” của tác giả Hồ Thị Hải (thực hiện năm 2016), “Bảo hiểm xã hội tự nguyện - Bốn năm thực hiện và môṭ số kiến nghi ḥ oàn thiện”- tác giả Trần Thị Huyền Lê ( Đại học Luật Hà Nội thực hiện năm 2017) … Trong số đó có thể kể các công trình được thực hiện ở cấp độ thạc sỹ như Luâṇ văn thạc sĩ luật học “Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam ” của 2 luan an tác giả Lê Thị Thu Hằng – Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội (thực hiện năm 2017), “Bảo hiểm xã hội tự nguyện - Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật” của tác giả Hoàng Quốc Đạt – Đại học Kinh tế quốc dân (thực hiện năm 2016), “Bảo hiểm xã hội tự nguyện - 5 năm thực hiện và một số kiến nghi ̣hoàn thiện” của tác giả Đặng Thị Vân Khánh – Đại học Kinh tế quốc dân (thực hiện năm 2015). Ngoài ra có các đề tài nghiên cứu của Bảo hiểm xã hội Viêṭ Nam “Cơ sở lý luận cho việc thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện Viêṭ Nam thời gian tới ” do Tiến sĩ Nguyễn Tiến Phú làm chủ nhiệm (thực hiện năm 2011); các bài viết “Chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam ” của TS.
Lê Thi ̣Hoài Thu - tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7/2017. Đặng Như Lợi (2014), “Cải cách Luật BHXH để mở rộng bảo hiểm hưu trí đối với người cao tuổi”, Tạp chí Lý luận chính trị. Nguyễn Hiền Phương (chủ biên, 2015), “Bình luận khoa học một số quy định của luật BHXH năm 2014”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội. Những bài viết này đã đề cập đến một số khía cạnh của BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng của Luật BHXH năm 2014.
Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện vẫn còn nhiều vướng mắc cần tiếp tục được nghiên cứu hoàn thiện. Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về việc thực hiện chế độ BHXH tự nguyện ở Thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Dương Lan Hoa (2020). Bảo hiểm xã hội tự nguyện Việt Nam: Thực tiễn tại Sơn Tây, Hà Nội [Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội]. LuanAn.net. https://luanan.net/kinh-te/tai-chinh-ngan-hang/bao-hiem-xa-hoi-tu-nguyen-viet-nam-thuc-tien-son-tay-ha-noi
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Bảo hiểm xã hội tự nguyện Việt Nam: Thực tiễn tại Sơn Tây, Hà Nội" nghiên cứu về vấn đề gì?
Nghiên cứu thực trạng bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Sơn Tây, Hà Nội, đề xuất giải pháp nâng cao tỷ lệ tham gia hiệu quả.
Luận án "Bảo hiểm xã hội tự nguyện Việt Nam: Thực tiễn tại Sơn Tây, Hà Nội" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội. Năm bảo vệ: 2020.
Luận án "Bảo hiểm xã hội tự nguyện Việt Nam: Thực tiễn tại Sơn Tây, Hà Nội" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Bảo hiểm xã hội tự nguyện Việt Nam: Thực tiễn tại Sơn Tây, Hà Nội" thuộc chuyên ngành Luật kinh tế. Danh mục: Tài Chính - Ngân Hàng.
Luận án "Bảo hiểm xã hội tự nguyện Việt Nam: Thực tiễn tại Sơn Tây, Hà Nội" có bao nhiêu trang?
Luận án "Bảo hiểm xã hội tự nguyện Việt Nam: Thực tiễn tại Sơn Tây, Hà Nội" có 80 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Bảo hiểm xã hội tự nguyện Việt Nam: Thực tiễn tại Sơn Tây, Hà Nội" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.