Tổng quan về luận án

Luận án tiến sĩ "Tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân: Nghiên cứu trường hợp các vùng kinh tế trọng điểm tại Việt Nam" của Hồ Thị Hoài Thương, thuộc chuyên ngành Kinh tế quốc tế, đại diện cho một nghiên cứu tiên phong trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của Việt Nam. Nghiên cứu này được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2021, tập trung vào 24 tỉnh/thành phố thuộc 4 Vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) của Việt Nam.

Research gap cụ thể mà luận án này giải quyết là sự thiếu h hụt các nghiên cứu chuyên sâu về tác động của đầu tư công (ĐTC) đến đầu tư tư nhân (ĐTTN) ở cấp độ vùng kinh tế tại Việt Nam, đặc biệt là tại các KTTĐ. Nhiều nghiên cứu trước đây chỉ tập trung ở góc độ tổng thể nền kinh tế hoặc một địa phương cụ thể, bỏ qua tính đặc thù và vai trò đầu tàu của các KTTĐ. Luận án cũng lấp đầy khoảng trống về việc kiểm định đồng thời hiệu ứng "lấn át" (crowding-out) và "bổ trợ" (crowding-in) của ĐTC trong cả ngắn hạn và dài hạn, cũng như tác động của ĐTC đến các thành phần riêng biệt của ĐTTN (đầu tư khu vực doanh nghiệp và đầu tư khu vực hộ gia đình) và vai trò của ĐTC cho cơ sở hạ tầng (CSHT). Như tác giả đã chỉ rõ, "Mặc dù đóng vai trò là yếu tố dẫn dắt tạo nền tảng cơ sở hạ tầng để thu hút đầu tư tư nhân nội vùng và cả nước, tuy nhiên trong nhiều năm qua vai trò của đầu tư công tại các vùng KTTĐ được nhận định là còn mờ nhạt (Trần Du Lịch, 2021)." và "chưa có nghiên cứu nào được thực hiện dưới góc độ định tính và định lượng đối với 24 tỉnh/thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm".

Các câu hỏi nghiên cứu chính mà luận án này đặt ra và giải quyết bao gồm:

  1. Đầu tư công tác động lấn át hay bổ trợ tới đầu tư tư nhân cũng như các thành phần của đầu tư tư nhân tại các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam và tác động này có thay đổi hay không khi xét trong ngắn hạn và dài hạn?
  2. Đầu tư công cho cơ sở hạ tầng (CSHT) ảnh hưởng như thế nào tới đầu tư tư nhân tại các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam?
  3. Chính sách đầu tư công tại các vùng kinh tế trọng điểm cần được xây dựng như thế nào để có thể thúc đẩy được đầu tư tư nhân đến năm 2030?

Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tổng hợp các quan điểm kinh tế vĩ mô về tác động của ĐTC đến ĐTTN, bao gồm lý thuyết hiệu ứng lấn át của Friedman (1978) và các mô hình IS-LM để giải thích tác động tài chính (tăng lãi suất) hoặc "lấn át thực sự" khi nền kinh tế toàn dụng. Đồng thời, luận án cũng tích hợp các lý thuyết về hiệu ứng bổ trợ từ Aschauer (1989a) và Keynes (1936), nhấn mạnh vai trò của ĐTC trong việc cải thiện CSHT, tăng năng suất biên của ĐTTN và kích thích tổng cầu.

Luận án đưa ra những đóng góp đột phá với tác động định lượng tiềm năng. Cụ thể, việc phân tích tác động riêng biệt của ĐTC đến đầu tư khu vực doanh nghiệp (PIE) và đầu tư khu vực hộ gia đình (PIH) ở cấp độ vùng kinh tế trọng điểm là một điểm mới mẻ, cung cấp cái nhìn chi tiết hơn thay vì chỉ tập trung vào tổng ĐTTN. Phát hiện về sự khác biệt trong tác động của ĐTC giữa ngắn hạn và dài hạn, cũng như giữa các vùng KTTĐ, mang lại bằng chứng thực nghiệm quan trọng cho việc xây dựng chính sách hiệu quả. Hơn nữa, việc khẳng định vai trò của ĐTC cho CSHT, chiếm "hơn 95% vốn đầu tư công dành cho xây dựng và hoàn thiện CSHT" tại các KTTĐ, là động lực dẫn dắt và thu hút ĐTTN, có ý nghĩa lớn trong việc định hình các chương trình đầu tư quốc gia.

Phạm vi nghiên cứu bao gồm 24 tỉnh/thành phố tại 4 vùng KTTĐ của Việt Nam, trong giai đoạn 2010-2021. Việc tập trung vào ĐTTN trong nước (không bao gồm FDI) cho thấy sự ưu tiên nghiên cứu các nguồn lực nội tại, vốn ngày càng quan trọng sau đại dịch Covid-19. Significance của nghiên cứu nằm ở việc cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để tối ưu hóa việc sử dụng vốn ĐTC, tăng cường hiệu ứng bổ trợ và giảm hiệu ứng lấn át, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững tại các KTTĐ và trên toàn quốc.

Literature Review và Positioning

Luận án tiến sĩ này đã thực hiện một tổng quan tài liệu sâu rộng, tổng hợp các luồng nghiên cứu chính về tác động của đầu tư công (ĐTC) đến đầu tư tư nhân (ĐTTN). Có hai luồng quan điểm đối lập được thảo luận: hiệu ứng lấn át (crowding-out effect) và hiệu ứng bổ trợ (crowding-in effect).

Trong luồng nghiên cứu về hiệu ứng lấn át, luận án trích dẫn các tác giả như Pradhan, Ratha và Sarma (1990) nghiên cứu tại Ấn Độ (1990-2000) với mô hình cân bằng tổng thể (CGE), chỉ ra ĐTC lấn át ĐTTN, đặc biệt khi tài trợ bằng vay nợ. Bilgili (2003) với dữ liệu Thổ Nhĩ Kỳ (1988-2003) sử dụng VECM cũng cho thấy ĐTC tăng 1% làm ĐTTN giảm 0. Tại Việt Nam, Tô Trung Thành (2012) sử dụng số liệu 1986-2010 với VECM cũng kết luận ĐTC lấn át ĐTTN, "sau một thập niên, đầu tư công tăng 1% sẽ khiến đầu tư tư nhân bị thu hẹp 0,48%". Các nghiên cứu khác như Everhart và Sumlinski (2001) trên 63 nước đang phát triển hay Cavallo và Daude (2008) trên 116 quốc gia đều ủng hộ hiệu ứng lấn át, đặc biệt ở các quốc gia có thể chế yếu kém hoặc tỷ lệ nợ công/GDP lớn. Hơn nữa, các nghiên cứu phân tách ĐTC thành các hạng mục (ví dụ Pereira, 2000 cho Hoa Kỳ; Rahman và cộng sự, 2015 cho Pakistan) hoặc theo nguồn vốn (Nguyễn Thị Cành & cộng sự, 2020 cho Việt Nam) cũng thường xuyên tìm thấy hiệu ứng lấn át, đặc biệt là ĐTC từ ngân sách nhà nước đối với các ngành công nghiệp. Tranh luận cũng tồn tại về tác động trong ngắn hạn và dài hạn: Castillo & cộng sự (2005) và Foncesca (2009) tìm thấy hiệu ứng lấn át trong ngắn hạn, trong khi Nguyễn Thị Chinh (2017) và Hùng Thanh & cộng sự (2021) cho rằng nó xảy ra trong dài hạn tại Việt Nam.

Ngược lại, luồng nghiên cứu về hiệu ứng bổ trợ được minh chứng bởi Hatano (2010) tại Nhật Bản (1953-2004) bằng mô hình ECM, chỉ ra ĐTC bắt đầu tạo tác động bổ trợ sau năm đầu tiên. Girish Bahal & cộng sự (2015) ở Ấn Độ với SVECM cũng phát hiện ĐTC tăng 1 rupee kéo theo ĐTTN tăng 0.3, 1.24, 1.07 rupee sau 4, 8, 12 quý. Các nghiên cứu quốc tế trên nhóm quốc gia (Oshikoya, 1994; Rasmané Ouédraogo & cộng sự, 2019 cho Châu Phi; Kamps, 2004b cho OECD; Mahmoudzadeh & cộng sự, 2013 cho các nước đang phát triển) cũng thường xuyên tìm thấy hiệu ứng bổ trợ, đặc biệt khi khu vực tư nhân phát triển hoặc ĐTC vào CSHT. Aschauer (1989a) cho nhóm G-7 kết luận "nếu đầu tư công tăng 1% sẽ thúc đẩy tăng đầu tư tư nhân, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 0.03%". Các nghiên cứu tại Việt Nam như Nguyễn Thị Cành & cộng sự (2018) và Nguyễn Thế Khang (2022) cũng chỉ ra ĐTC tác động thúc đẩy tích cực đến ĐTTN trong dài hạn. Tuy nhiên, Nguyễn Thị Chinh (2017) lại cho rằng ĐTC bổ trợ ĐTTN chỉ trong ngắn hạn tại Việt Nam, do nhu cầu hàng hóa và dịch vụ từ Chính phủ làm tăng cầu sản phẩm khu vực tư nhân.

Vị trí của luận án trong các luồng tài liệu này là một sự tổng hợp và vượt qua các hạn chế hiện có. Luận án không chỉ nhận diện mà còn kiểm định đồng thời cả hai hiệu ứng lấn át và bổ trợ, trong cả ngắn hạn và dài hạn, điều mà "còn khuyết thiếu những nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân tại Việt Nam". Hơn nữa, việc phân tích ĐTTN theo nguồn vốn (doanh nghiệp và hộ gia đình) và tập trung vào 24 tỉnh/thành phố của 4 vùng KTTĐ là một đóng góp độc đáo, vượt xa các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào tổng thể quốc gia hoặc phân tách theo ngành. Luận án đặc biệt nhấn mạnh vai trò của ĐTC cho CSHT, một lĩnh vực quan trọng nhưng chưa được khai thác đầy đủ ở cấp độ vùng tại Việt Nam, trong khi "hơn 95% vốn đầu tư công dành cho xây dựng và hoàn thiện CSHT" tại các KTTĐ.

So sánh với ít nhất 2 nghiên cứu quốc tế:

  1. Mahmoudzadeh & cộng sự (2013) đã phân tích ảnh hưởng của ĐTC đối với ĐTTN ở 23 nước phát triển và 15 nước đang phát triển từ năm 2000-2009 bằng mô hình PVAR. Nhóm tác giả phát hiện ra rằng tăng ĐTC lấn át ĐTTN ở các nước phát triển và bổ trợ ĐTTN ở các nước đang phát triển. Luận án này mở rộng hiểu biết đó bằng cách kiểm định các tác động này trong ngữ cảnh cụ thể của các KTTĐ tại một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, đồng thời phân tách ĐTTN và ĐTC cho CSHT, cung cấp bằng chứng chi tiết hơn về cơ chế tác động.
  2. Pereira (2000) đã phân tích tác động của ĐTC lên ĐTTN của Hoa Kỳ (1956-1997) bằng mô hình VAR, không chỉ đánh giá tổng ĐTC mà còn xem xét tác động của 5 loại ĐTC lên tổng ĐTTN và từng loại ĐTTN. Luận án này tương tự trong việc phân tách tác động (tổng ĐTC đến ĐTTN tổng thể, ĐTTN khu vực doanh nghiệp, ĐTTN khu vực hộ gia đình và ĐTC cho CSHT đến ĐTTN), nhưng lại áp dụng các phương pháp định lượng tiên tiến hơn cho dữ liệu bảng (PMG, Juodis & cộng sự, 2021) và tập trung vào một bối cảnh đặc thù là các KTTĐ của Việt Nam, nơi cơ chế và điều kiện tác động có thể khác biệt so với các nền kinh tế phát triển như Hoa Kỳ. Điều này giúp làm rõ hơn các yếu tố điều tiết tác động (như yếu tố thời gian, cấu trúc kinh tế vùng).

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án này đóng góp đáng kể vào việc mở rộng và thách thức các lý thuyết hiện có về tác động của đầu tư công (ĐTC) đối với đầu tư tư nhân (ĐTTN). Thứ nhất, luận án mở rộng lý thuyết về hiệu ứng lấn át (crowding-out effect), ban đầu được đề xuất bởi Friedman (1978), bằng cách kiểm định cơ chế tác động thông qua "tài trợ bằng nợ" và "sản xuất hàng hóa và dịch vụ cạnh tranh" trong bối cảnh cụ thể của các Vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) Việt Nam. Đặc biệt, luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm về việc ĐTC từ ngân sách nhà nước có thể lấn át ĐTTN, một hiện tượng đã được Nguyễn Thị Cành & cộng sự (2020) chỉ ra cho 16 ngành công nghiệp tại Việt Nam.

Thứ hai, luận án làm sâu sắc thêm lý thuyết về hiệu ứng bổ trợ (crowding-in effect) của Aschauer (1989a) và Keynes (1936). Luận án này chứng minh rằng ĐTC vào cơ sở hạ tầng (CSHT) là một yếu tố then chốt làm tăng năng suất đầu tư tư nhân và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Bằng cách phân tích tác động của ĐTC cho CSHT đến ĐTTN ở cấp độ vùng, luận án cung cấp cái nhìn chi tiết hơn về các điều kiện cụ thể (ví dụ như cấu trúc kinh tế và định hướng phát triển của từng vùng KTTĐ) mà dưới đó hiệu ứng bổ trợ có thể được tối đa hóa. Phát hiện này củng cố quan điểm của Romer (1986) về ngoại ứng tích cực của ĐTC.

Thứ ba, luận án thách thức sự đơn giản hóa của các nghiên cứu trước đây bằng cách chứng minh rằng tác động của ĐTC không đồng nhất mà thay đổi đáng kể theo thời gian (ngắn hạn so với dài hạn) và theo thành phần của ĐTTN (khu vực doanh nghiệp so với hộ gia đình). Điều này bổ sung một lớp phức tạp vào lý thuyết, gợi ý rằng các mô hình lý thuyết cần phải tích hợp các yếu tố về thời gian và sự phân đoạn của khu vực tư nhân để phản ánh chính xác hơn các cơ chế kinh tế. Luận án cũng đưa ra một "khung phân tích tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân" độc đáo, kết nối các kênh tác động (lấn át/bổ trợ) với các yếu tố điều tiết như hội nhập kinh tế quốc tế (FDI), yếu tố thời gian (ngắn hạn/dài hạn), độ nhạy cảm giữa ĐTTN và lãi suất, ngoại ứng tích cực của danh mục ĐTC, và tính bất ổn của kinh tế vĩ mô. Khung này cung cấp một mô hình khái niệm mạnh mẽ để hiểu được sự phức tạp của mối quan hệ này.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp sâu rộng các lý thuyết kinh tế vĩ mô và kinh tế phát triển để cung cấp một cái nhìn toàn diện về tác động của ĐTC đến ĐTTN.

  • Tích hợp lý thuyết: Luận án tích hợp lý thuyết của Keynes (về tác động của chi tiêu chính phủ đến tổng cầu), lý thuyết tân cổ điển (về mối quan hệ giữa lãi suất, chi phí vốn và đầu tư), và lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Romer (1986) (về ngoại ứng tích cực của ĐTC cho CSHT). Ngoài ra, luận án còn dựa trên giả thuyết McKinnon & Shaw (1973) về mối quan hệ tích cực giữa lãi suất thực và đầu tư thông qua kênh tiết kiệm, đặc biệt trong bối cảnh các nền kinh tế đang phát triển với thị trường tài chính kém phát triển.
  • Tiếp cận phân tích độc đáo: Luận án sử dụng một phương pháp phân tích đa chiều, không chỉ tập trung vào tổng ĐTC và tổng ĐTTN mà còn phân tách sâu hơn.
    • Phân tách ĐTTN: Đầu tư khu vực doanh nghiệp (PIE) và đầu tư khu vực hộ gia đình (PIH), một sự phân loại ít được khai thác trong các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, đặc biệt ở cấp độ vùng.
    • Phân tách ĐTC: Tập trung vào ĐTC cho CSHT, vốn chiếm "hơn 95% vốn đầu tư công dành cho xây dựng và hoàn thiện CSHT" tại các KTTĐ, giúp làm rõ vai trò "đầu tư mồi" của nó.
    • Yếu tố thời gian và không gian: Đánh giá tác động trong ngắn hạn và dài hạn, cũng như sự khác biệt giữa các vùng KTTĐ, điều này cho phép các phát hiện có tính ứng dụng cao và phù hợp với đặc thù từng vùng.
  • Đóng góp khái niệm: Luận án làm rõ các khái niệm về "đầu tư công", "đầu tư tư nhân", và "vùng kinh tế trọng điểm" trong bối cảnh Việt Nam, dựa trên Luật Đầu tư công 2019 và Niên giám thống kê. Điều này chuẩn hóa các thuật ngữ và phạm vi nghiên cứu cho các công trình tương lai.
  • Điều kiện ranh giới (Boundary Conditions): Luận án xác định rõ các điều kiện ranh giới của các tác động, bao gồm bối cảnh hậu Covid-19, những biến động kinh tế thế giới (xung đột Nga-Ukraine, thuế tối thiểu toàn cầu), và các đặc trưng thể chế của Việt Nam (Luật Đầu tư công 2019). Điều này giúp giới hạn phạm vi áp dụng của các phát hiện và giải pháp, đồng thời làm nổi bật tính cấp thiết và phù hợp của nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án này áp dụng một triết lý nghiên cứu thực chứng (positivism) mạnh mẽ, thể hiện qua việc sử dụng các mô hình kinh tế lượng để kiểm định các giả thuyết và lượng hóa các mối quan hệ nhân quả. Bằng cách tìm kiếm các mối quan hệ định lượng và khách quan giữa đầu tư công (ĐTC) và đầu tư tư nhân (ĐTTN), nghiên cứu này đặt trọng tâm vào việc xây dựng bằng chứng có thể kiểm chứng.

Thiết kế nghiên cứu có thể được xem là một cách tiếp cận hỗn hợp, mặc dù phần định lượng đóng vai trò chủ đạo. Luận án kết hợp cả "phương pháp nghiên cứu định lượng" và "phương pháp nghiên cứu định tính" như "phương pháp thống kê mô tả" và "phương pháp phân tích - tổng hợp" để cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng và phân tích tác động. Rationale cho sự kết hợp này là để đảm bảo rằng các kết quả định lượng được bổ trợ và giải thích trong bối cảnh thực tiễn của các vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) tại Việt Nam, một khía cạnh mà "chưa có nghiên cứu nào được thực hiện dưới góc độ định tính và định lượng đối với 24 tỉnh/thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm".

Thiết kế đa cấp độ (multi-level design) được áp dụng một cách rõ ràng: nghiên cứu phân tích dữ liệu ở cấp độ 24 tỉnh/thành phố, được nhóm lại trong 4 Vùng KTTĐ của Việt Nam. Điều này cho phép không chỉ phân tích tác động tổng thể mà còn so sánh và đối chiếu sự khác biệt trong tác động giữa các vùng KTTĐ khác nhau, một đóng góp quan trọng mà các nghiên cứu trước đây chưa thực hiện.

Cỡ mẫu và tiêu chí lựa chọn: Dữ liệu được thu thập từ "24 tỉnh/thành phố thuộc 4 vùng kinh tế trọng điểm tại Việt Nam" trong "khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2021". Việc lựa chọn giai đoạn 2010-2021 được lý giải là do vùng KTTĐ ĐBSCL được thành lập vào tháng 4/2009, đảm bảo tính thống nhất của dữ liệu, và số liệu mới được cập nhật đến năm 2021.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Chiến lược lấy mẫu (sampling strategy) dựa trên dữ liệu bảng thứ cấp từ toàn bộ các tỉnh/thành phố thuộc các vùng KTTĐ, không có tiêu chí loại trừ rõ ràng ngoài việc đảm bảo tính thống nhất về thời gian. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn chính thống và đáng tin cậy: "Niên giám thống kê của các Cục Thống kê, Tổng cục Thống kê, Báo cáo quyết toán chi NSNN của Sở Tài Chính của 24 tỉnh/ thành phố thuộc 4 vùng KTTĐ" và dữ liệu liên quan đến lãi suất từ World Bank.

Mặc dù không có mô tả chi tiết về quy trình kiểm soát thu thập dữ liệu (data collection protocols), việc sử dụng dữ liệu chính thức từ các cơ quan thống kê và ngân hàng thế giới ngụ ý một mức độ tin cậy cao. Triangulation được thực hiện thông qua việc kết hợp các phương pháp (định tính và định lượng), và tiềm năng so sánh các kết quả định lượng với các nghiên cứu trước đây (triangulation lý thuyết) để củng cố các phát hiện.

Về độ tin cậy (reliability) và giá trị (validity), việc sử dụng "mô hình PMG có thể phân tác được kênh tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân trong ngắn hạn và dài hạn" và "phương pháp phân tích phi nhân quả được đề xuất bởi Juodis & cộng sự (2021) cho dữ liệu bảng để kiểm tra tác động của đầu tư công cho cơ sở hạ tầng (CSHT) tới đầu tư tư nhân từng vùng" thể hiện sự nghiêm ngặt về mặt phương pháp. Các phương pháp này được lựa chọn để khắc phục "hạn chế của các phương pháp này [POLS, FEM, REM, GMM] là không phân tách được tác động ngắn hạn và dài hạn của chuỗi số liệu" trong các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam. Phương pháp của Juodis & cộng sự (2021) đặc biệt phù hợp "với số liệu có cỡ mẫu nhỏ và trong mô hình mà các hệ số hồi quy là đồng nhất lẫn không đồng nhất". Điều này nâng cao độ tin cậy và giá trị nội bộ của các ước lượng. Mặc dù giá trị alpha (α values) không được báo cáo trực tiếp trong phần mô tả phương pháp, việc áp dụng các kỹ thuật kinh tế lượng tiên tiến cho dữ liệu bảng ngụ ý sự chú trọng đến các kiểm định thống kê để đảm bảo tính vững chắc của kết quả.

Data và phân tích

Đặc điểm mẫu (sample characteristics) bao gồm dữ liệu bảng từ 24 tỉnh/thành phố thuộc 4 KTTĐ của Việt Nam trong giai đoạn 2010-2021. Các biến nghiên cứu chính bao gồm ĐTC tổng thể, ĐTC cho CSHT, ĐTTN tổng thể, ĐTTN khu vực doanh nghiệp (PIE), ĐTTN khu vực hộ gia đình (PIH), cùng với các biến kiểm soát như lãi suất thực tế, tổng sản phẩm trong nước (GRDP), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), lạm phát, và độ mở nền kinh tế.

Kỹ thuật phân tích tiên tiến được sử dụng là:

  • Ước lượng nhóm trung bình gộp (Pool Mean Group - PMG): Phương pháp này được sử dụng để đánh giá tác động của ĐTC tới ĐTTN và các thành phần của ĐTTN tại các vùng KTTĐ. PMG là một phương pháp mạnh mẽ cho phép các tham số ngắn hạn khác biệt giữa các nhóm (tỉnh/thành phố) trong khi ràng buộc các tham số dài hạn đồng nhất giữa các đơn vị bảng. Điều này cung cấp "góc nhìn toàn diện hơn về tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân" trong cả ngắn hạn và dài hạn.
  • Phương pháp phân tích phi nhân quả (Non-causal analysis) của Juodis & cộng sự (2021): Được sử dụng để phân tích tác động của ĐTC cho CSHT đối với ĐTTN. Phương pháp này đặc biệt hữu ích khi số liệu về ĐTC cho CSHT "không đủ quan sát để thực hiện với mô hình PMG", cho phép xử lý dữ liệu với cỡ mẫu nhỏ và các hệ số hồi quy có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất.

Các kiểm định độ vững chắc (robustness checks) được ngụ ý thông qua việc sử dụng các phương pháp ước lượng khác nhau cho các mục tiêu phân tích khác nhau (PMG cho ngắn hạn/dài hạn, Juodis et al. cho CSHT). Báo cáo về hiệu ứng (effect sizes) và khoảng tin cậy (confidence intervals) được mong đợi trong chương 5 ("Phân tích định lượng") để minh họa độ lớn và ý nghĩa thống kê của các phát hiện, với các giá trị p-value thể hiện ý nghĩa thống kê. Mặc dù phần phương pháp không đề cập đến phần mềm cụ thể, các phương pháp như PMG và kiểm định phi nhân quả của Juodis & cộng sự (2021) thường được thực hiện bằng các phần mềm kinh tế lượng chuyên dụng như Stata, R hoặc EViews.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án đã đưa ra những phát hiện đột phá, cung cấp cái nhìn chi tiết và đa chiều về mối quan hệ giữa đầu tư công (ĐTC) và đầu tư tư nhân (ĐTTN) tại các Vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) của Việt Nam.

  1. Tác động ĐTC đến ĐTTN khác biệt theo thời gian và thành phần: Luận án chỉ ra rằng tác động của ĐTC tới ĐTTN tổng thể, ĐTTN khu vực doanh nghiệp (PIE) và ĐTTN khu vực hộ gia đình (PIH) là khác nhau rõ rệt trong dài hạn và ngắn hạn. Đây là một sự khác biệt quan trọng so với nhiều nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào một khung thời gian hoặc tổng thể ĐTTN. Cụ thể, các kết quả ước lượng từ mô hình PMG đã định lượng sự khác biệt này, với các giá trị p-value cho thấy ý nghĩa thống kê ở các mức độ khác nhau.
  2. Sự khác biệt vùng trong tác động của ĐTC: Một phát hiện then chốt khác là "tại mỗi vùng KTTĐ, đầu tư công sẽ có tác động tới đầu tư tư nhân và các thành phần của đầu tư tư nhân là có sự khác biệt". Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của bối cảnh địa phương và cấu trúc kinh tế vùng trong việc điều tiết mối quan hệ ĐTC-ĐTTN, đi ngược lại các giả định về tác động đồng nhất trên toàn quốc. Các số liệu cụ thể về tốc độ tăng trưởng đầu tư công, đầu tư tư nhân và FDI tại các KTTĐ trong giai đoạn 2010-2021 (ví dụ Bảng 2.1, 2.2, 2.3) cung cấp bằng chứng ban đầu cho sự khác biệt này.
  3. Vai trò quan trọng của ĐTC cho CSHT: Luận án đã xác định "vai trò quan trọng của đầu tư CSHT đối với đầu tư tư nhân tại các vùng KTTĐ". Với "hơn 95% vốn đầu tư công dành cho xây dựng và hoàn thiện CSHT" ở các KTTĐ, phát hiện này củng cố quan điểm rằng ĐTC vào CSHT là "động lực thúc dẫn dắt và thu hút đầu tư tư nhân". Sử dụng phương pháp của Juodis & cộng sự (2021), luận án đã lượng hóa tác động này, cho thấy ý nghĩa thống kê của nó ngay cả với dữ liệu có cỡ mẫu nhỏ.
  4. Kết quả có thể phản trực giác (Counter-intuitive results): Mặc dù luận án không trực tiếp nêu một "kết quả phản trực giác", việc tìm thấy sự đồng thời tồn tại và cường độ khác nhau của hiệu ứng lấn át và bổ trợ, đặc biệt khi phân tách theo thành phần ĐTTN và theo vùng, có thể đi ngược lại các kỳ vọng đơn giản. Chẳng hạn, ĐTC có thể lấn át ĐTTN hộ gia đình ở một số vùng do cạnh tranh nguồn vốn, nhưng lại bổ trợ ĐTTN doanh nghiệp ở vùng khác do cải thiện CSHT. Các lý giải lý thuyết dựa trên độ nhạy cảm của ĐTTN với lãi suất hoặc ngoại ứng tích cực của danh mục ĐTC sẽ giải thích các kết quả này.
  5. Hiện tượng mới (New phenomena): Luận án mô tả thực trạng "vai trò của đầu tư công tại các vùng KTTĐ được nhận định là còn mờ nhạt (Trần Du Lịch, 2021)" mặc dù đây là "đầu tàu kéo theo sự phát triển của các vùng khác". Phát hiện về sự khác biệt vùng trong tác động của ĐTC, cùng với đề xuất các giải pháp cụ thể cho từng KTTĐ, là một hiện tượng mới được nghiên cứu sâu sắc trong bối cảnh Việt Nam, cung cấp các ví dụ cụ thể về tình hình phát triển các khu công nghiệp hay xây dựng cánh đồng lớn tại ĐBSCL (Bảng 4.1, 4.2) làm cơ sở cho phân tích.

Implications đa chiều

Các phát hiện của luận án mang lại những implications sâu rộng:

  • Theoretical advances: Luận án mở rộng lý thuyết về hiệu ứng lấn át và bổ trợ (của Friedman, Aschauer) bằng cách tích hợp các yếu tố về thời gian (ngắn hạn/dài hạn), cấu trúc của ĐTTN (doanh nghiệp/hộ gia đình), và bối cảnh thể chế-kinh tế-xã hội của các KTTĐ. Nó cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho các điều kiện ranh giới (boundary conditions) mà dưới đó một hiệu ứng chiếm ưu thế hơn, làm sâu sắc thêm hiểu biết về mối quan hệ ĐTC-ĐTTN trong các nền kinh tế đang phát triển.
  • Methodological innovations: Việc sử dụng kết hợp mô hình PMG và phương pháp phân tích phi nhân quả của Juodis & cộng sự (2021) là một đổi mới phương pháp luận có thể áp dụng cho các nghiên cứu tương tự trong các bối cảnh khác, đặc biệt là khi phân tích dữ liệu bảng với độ dài thời gian hạn chế hoặc khi cần phân tách tác động ngắn hạn/dài hạn một cách nghiêm ngặt.
  • Practical applications: Luận án cung cấp các khuyến nghị cụ thể để "sử dụng đầu tư công để thúc đẩy đầu tư tư nhân dưới góc độ tổng thể các vùng KTTĐ", cũng như "đề xuất các giải pháp cho từng vùng KTTĐ, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, cơ cấu đầu tư công, đầu tư tư nhân và định hướng chính sách đầu tư công trong giai đoạn 2022-2030." Điều này giúp các cơ quan quản lý đầu tư công cải thiện hiệu quả phân bổ và thực hiện các dự án.
  • Policy recommendations: Luận án đưa ra các đề xuất chính sách chi tiết, bao gồm định hướng chính sách về ĐTC nhằm thúc đẩy ĐTTN đến năm 2030 cho cả tổng thể các vùng KTTĐ và từng vùng KTTĐ cụ thể. Các khuyến nghị này có thể liên quan đến việc ưu tiên ĐTC cho CSHT chiến lược, cơ chế tài trợ ĐTC để giảm áp lực lãi suất, và các chính sách hỗ trợ khu vực doanh nghiệp và hộ gia đình riêng biệt. Ví dụ, việc đề xuất "Nhóm giải pháp chung cho các vùng kinh tế trọng điểm" và "Nhóm giải pháp cụ thể đối với từng vùng kinh tế trọng điểm" (trang 126) là minh chứng cho con đường triển khai chính sách rõ ràng.
  • Generalizability conditions: Các kết quả được chỉ định rõ ràng là có tính tổng quát hóa trong bối cảnh các nền kinh tế đang phát triển có sự phân hóa vùng rõ rệt và chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô tương tự. Tuy nhiên, tính đặc thù của thể chế và cấu trúc kinh tế Việt Nam cũng là một điều kiện ranh giới, yêu cầu sự cẩn trọng khi áp dụng trực tiếp các kết luận sang các quốc gia khác.

Limitations và Future Research

Luận án đã thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế của mình, vốn là điều kiện tiên quyết cho một công trình nghiên cứu học thuật uy tín.

  1. Hạn chế về dữ liệu phân tách: Mặc dù luận án đã phân tách đầu tư tư nhân (ĐTTN) thành đầu tư khu vực doanh nghiệp (PIE) và đầu tư khu vực hộ gia đình (PIH), việc thu thập số liệu về ĐTTN hộ gia đình vẫn còn một số giới hạn, đặc biệt là nhóm phi nông-lâm-ngư nghiệp không chính thức. Điều này có thể ảnh hưởng đến tính toàn diện của phân tích cho nhóm này.
  2. Giới hạn về phạm vi dữ liệu ĐTC cho CSHT: Luận án ghi nhận "số liệu của đầu tư công cho CSHT không đủ quan sát để thực hiện với mô hình PMG", buộc phải sử dụng phương pháp phân tích phi nhân quả của Juodis & cộng sự (2021). Mặc dù phương pháp này phù hợp với cỡ mẫu nhỏ, việc thiếu dữ liệu dài hạn và liên tục cho hạng mục ĐTC này có thể hạn chế khả năng phân tích sâu sắc hơn về tác động dài hạn của nó.
  3. Giới hạn về các yếu tố điều tiết: Mặc dù luận án đã xác định các yếu tố điều tiết tác động (FDI, thời gian, độ nhạy cảm lãi suất, danh mục ĐTC, bất ổn kinh tế vĩ mô), việc tích hợp tất cả các yếu tố này vào mô hình định lượng có thể bị hạn chế bởi tính sẵn có của dữ liệu hoặc độ phức tạp của mô hình, đặc biệt là khi cần kiểm định đồng thời các tương tác đa chiều. Luận án chủ yếu tập trung vào FDI và yếu tố thời gian là hai yếu tố điều tiết được đưa vào mô hình.
  4. Giới hạn về thời gian và không gian: Phạm vi nghiên cứu từ 2010-2021, dù phù hợp với tính sẵn có của dữ liệu, có thể không hoàn toàn nắm bắt được các xu hướng dài hạn hơn hoặc những thay đổi cấu trúc trước đó. Việc chỉ tập trung vào các KTTĐ, mặc dù là đóng góp quan trọng, cũng có nghĩa là các phát hiện có thể không thể tổng quát hóa trực tiếp cho các vùng khác của Việt Nam.

Boundary conditions về ngữ cảnh, mẫu và thời gian đã được xác định rõ ràng: nghiên cứu tập trung vào 24 tỉnh/thành phố thuộc 4 KTTĐ của Việt Nam, trong giai đoạn 2010-2021, và ĐTTN trong nước (không bao gồm FDI). Các kết quả cần được diễn giải trong khuôn khổ các điều kiện này.

Future research agenda có thể bao gồm các hướng sau:

  1. Mở rộng phạm vi dữ liệu ĐTC cho CSHT: Với việc cải thiện hệ thống thống kê, các nghiên cứu tương lai có thể thu thập dữ liệu dài hạn và chi tiết hơn về ĐTC cho CSHT để áp dụng các mô hình phức tạp hơn như PMG hoặc các mô hình đồng liên kết cho dữ liệu bảng để phân tích tác động dài hạn một cách sâu sắc hơn.
  2. Nghiên cứu định lượng các yếu tố điều tiết khác: Khám phá định lượng tác động của các yếu tố điều tiết khác như tính ổn định chính trị, chất lượng thể chế, hiệu quả quản trị ĐTC, và độ nhạy cảm của ĐTTN với lãi suất lên cường độ của hiệu ứng lấn át/bổ trợ.
  3. Phân tích sâu hơn về ĐTTN hộ gia đình: Nghiên cứu mở rộng việc phân tách ĐTTN hộ gia đình, bao gồm cả nhóm không chính thức và các phân loại chi tiết hơn (ví dụ: đầu tư vào nông nghiệp, dịch vụ, sản xuất nhỏ) để hiểu rõ hơn về các kênh tác động của ĐTC đến nhóm này.
  4. So sánh liên vùng và xuyên quốc gia: Thực hiện các nghiên cứu so sánh tác động của ĐTC đến ĐTTN giữa các vùng KTTĐ với các vùng kém phát triển hơn trong nước, hoặc so sánh với các KTTĐ của các quốc gia đang phát triển khác trong khu vực Đông Nam Á để rút ra bài học chính sách tổng quát hơn.
  5. Tích hợp tác động của FDI: Mặc dù luận án tập trung vào ĐTTN trong nước, nghiên cứu tương lai có thể khám phá mối quan hệ tương tác giữa ĐTC, ĐTTN trong nước và FDI, đặc biệt trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và chính sách thu hút FDI của Việt Nam.

Methodological improvements suggested: Ngoài việc mở rộng dữ liệu, nghiên cứu tương lai có thể xem xét áp dụng các phương pháp mô hình cân bằng tổng thể động (DSGE/RBC) để mô phỏng tác động của ĐTC lên ĐTTN và các chu kỳ kinh doanh, hoặc sử dụng các kỹ thuật định lượng mới nổi như Machine Learning để dự báo và phân tích các yếu tố phức tạp.

Theoretical extensions proposed: Các nghiên cứu tiếp theo có thể phát triển một khung lý thuyết tích hợp sâu hơn, xem xét ĐTC không chỉ là một biến độc lập mà còn là một biến nội sinh chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế vĩ mô và chính sách, và ĐTTN cũng có thể tác động ngược lại đến ĐTC thông qua áp lực chính sách hoặc nhu cầu phát triển.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án này được kỳ vọng sẽ tạo ra tác động sâu rộng và đa chiều trên nhiều lĩnh vực:

  • Academic impact: Nghiên cứu này đặt nền móng cho các công trình học thuật tiếp theo về mối quan hệ giữa đầu tư công (ĐTC) và đầu tư tư nhân (ĐTTN) trong các nền kinh tế đang phát triển có đặc thù vùng. Bằng cách giới thiệu các phương pháp luận tiên tiến như PMG và phân tích phi nhân quả của Juodis & cộng sự (2021) vào bối cảnh Việt Nam, luận án sẽ thúc đẩy các nhà nghiên cứu khác áp dụng những kỹ thuật này. Ước tính, luận án có tiềm năng được trích dẫn rộng rãi bởi các nhà kinh tế học, nhà khoa học chính sách và nhà nghiên cứu khu vực, đặc biệt trong các nghiên cứu về kinh tế vĩ mô, kinh tế phát triển và kinh tế khu vực tại Việt Nam và các nước đang phát triển khác.
  • Industry transformation: Các khuyến nghị về việc sử dụng ĐTC hiệu quả nhằm thúc đẩy ĐTTN có thể dẫn đến sự chuyển đổi trong các ngành công nghiệp cụ thể, đặc biệt là những ngành phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng (CSHT) và các dịch vụ công. Ví dụ, đầu tư vào CSHT giao thông, năng lượng, hoặc công nghệ thông tin có thể giảm chi phí hoạt động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, logistics, du lịch, và dịch vụ, từ đó khuyến khích mở rộng đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh.
  • Policy influence: Luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ để hỗ đẩy các chính sách đầu tư công dựa trên bằng chứng, cả ở cấp độ quốc gia và địa phương. Các phát hiện về sự khác biệt trong tác động của ĐTC giữa các Vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) sẽ cho phép các nhà hoạch định chính sách xây dựng các chiến lược ĐTC linh hoạt và phù hợp với đặc thù từng vùng thay vì áp dụng một cách tiếp cận chung. Các khuyến nghị cụ thể cho giai đoạn 2022-2030 sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến việc phân bổ ngân sách nhà nước và các chương trình đầu tư công tại các cấp chính quyền.
  • Societal benefits: Bằng cách tối ưu hóa hiệu quả của ĐTC trong việc thu hút ĐTTN, luận án góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế bền vững, tạo ra nhiều việc làm hơn và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân. Các dự án ĐTC hiệu quả vào CSHT kinh tế-xã hội không chỉ hỗ trợ hoạt động kinh doanh mà còn nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ công như giáo dục, y tế, và các tiện ích cơ bản. Lợi ích có thể được định lượng thông qua việc giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập bình quân đầu người, hoặc cải thiện chỉ số phát triển con người ở các KTTĐ.
  • International relevance: Nghiên cứu này có ý nghĩa quốc tế đáng kể. Các phát hiện về hiệu ứng lấn át và bổ trợ trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam có thể cung cấp bài học quý giá cho các quốc gia đang phát triển khác đang tìm cách sử dụng ĐTC như một công cụ để thúc đẩy ĐTTN và tăng trưởng kinh tế. Việc so sánh với các nghiên cứu quốc tế trong phần tổng quan tài liệu đã làm nổi bật tính liên quan của công trình này trong bối cảnh toàn cầu.

Đối tượng hưởng lợi

Luận án "Tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân: Nghiên cứu trường hợp các vùng kinh tế trọng điểm tại Việt Nam" mang lại lợi ích cụ thể và định lượng cho nhiều đối tượng khác nhau:

  • Doctoral researchers (Nghiên cứu sinh tiến sĩ): Luận án chỉ ra các "khoảng trống nghiên cứu" rõ ràng về tác động của ĐTC tới ĐTTN ở cấp độ vùng, việc kiểm định đồng thời hiệu ứng lấn át/bổ trợ trong ngắn hạn/dài hạn, và phân tách ĐTTN theo thành phần. Các nghiên cứu sinh có thể xây dựng các đề tài tiếp theo dựa trên những hạn chế của luận án, ví dụ, bằng cách mở rộng dữ liệu về ĐTC cho CSHT hoặc tích hợp các yếu tố điều tiết khác vào mô hình.
  • Senior academics (Các học giả cao cấp): Luận án đóng góp vào "theoretical advances" bằng cách mở rộng các lý thuyết về hiệu ứng lấn át (Friedman, 1978) và bổ trợ (Aschauer, 1989a, Keynes, 1936) trong bối cảnh kinh tế đang phát triển. Việc xây dựng "khung phân tích tác động của đầu tư công tới đầu tư nhân" tổng hợp các yếu tố điều tiết cũng là một đóng góp lý thuyết quan trọng. Các học giả có thể sử dụng khung này để phát triển các mô hình lý thuyết phức tạp hơn hoặc kiểm định tính ứng dụng của nó ở các quốc gia khác.
  • Industry R&D (Bộ phận nghiên cứu và phát triển trong ngành công nghiệp): Nghiên cứu cung cấp "practical applications" thông qua các giải pháp cụ thể cho việc sử dụng ĐTC nhằm thúc đẩy ĐTTN tại các KTTĐ. Ví dụ, thông tin về vai trò của ĐTC cho CSHT có thể giúp các doanh nghiệp trong ngành xây dựng, logistics, hoặc công nghệ quyết định vị trí đầu tư hoặc hợp tác với chính phủ trong các dự án CSHT. Việc "hơn 95% vốn đầu tư công dành cho xây dựng và hoàn thiện CSHT" tại các KTTĐ cho thấy tiềm năng hợp tác rất lớn.
  • Policy makers (Các nhà hoạch định chính sách): Luận án cung cấp "evidence-based recommendations" rõ ràng cho việc xây dựng và thực hiện chính sách ĐTC. Các "giải pháp chung cho các vùng kinh tế trọng điểm" và "giải pháp cụ thể đối với từng vùng kinh tế trọng điểm" (trang 126) là cơ sở để các cấp chính quyền (Trung ương, tỉnh/thành phố) tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng vốn ĐTC. Ví dụ, việc tập trung ĐTC vào CSHT ở những vùng nhất định có thể "thúc đẩy sự gia tăng tương đương đầu tư tư nhân trong ngắn hạn" (Mario Alloza & cộng sự, 2022) và dài hạn, dẫn đến tăng trưởng GRDP của vùng.
  • Lợi ích định lượng:
    • Tăng hiệu quả đầu tư công: Bằng cách áp dụng các giải pháp của luận án, hiệu quả sử dụng ĐTC có thể tăng lên, có khả năng giảm "áp lực lớn tới ngân sách nhà nước" và cải thiện tỷ lệ thu hút ĐTTN. Nếu mỗi 1% ĐTC tăng có thể dẫn đến mức tăng tương ứng (ví dụ 0.03% như Aschauer, 1989a hay 0.3-1.07 rupee như Bahal & cộng sự, 2015) của ĐTTN, thì việc tối ưu hóa ĐTC có thể tạo ra hàng nghìn tỷ đồng đầu tư bổ sung.
    • Đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế vùng: Việc tăng cường ĐTTN tại các KTTĐ có thể góp phần trực tiếp vào việc tăng trưởng Tổng sản phẩm địa phương (GRDP) của các vùng, từ đó kéo theo tăng trưởng chung của cả nước.
    • Cải thiện môi trường kinh doanh: Việc tối ưu hóa ĐTC cho CSHT sẽ cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, giúp giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực tư nhân.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc xây dựng một "khung phân tích tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân" toàn diện, tích hợp các kênh tác động lấn át và bổ trợ, cùng với các yếu tố điều tiết quan trọng như hội nhập kinh tế quốc tế (FDI), yếu tố thời gian (ngắn hạn/dài hạn), độ nhạy cảm giữa ĐTTN và lãi suất, ngoại ứng tích cực của danh mục ĐTC, và tính bất ổn của kinh tế vĩ mô. Khung này mở rộng các lý thuyết hiện có (như của Friedman và Aschauer) bằng cách áp dụng chúng vào bối cảnh đặc thù của các Vùng kinh tế trọng điểm tại Việt Nam và xem xét sự phân tách của ĐTTN (khu vực doanh nghiệp và hộ gia đình), cung cấp một mô hình khái niệm chi tiết hơn cho các nghiên cứu tương lai.

  2. Đổi mới phương pháp luận của luận án là gì, so với ít nhất 2 nghiên cứu trước đó? Đổi mới phương pháp luận chính của luận án nằm ở việc sử dụng kết hợp "mô hình ước lượng nhóm trung bình gộp (Pool Mean Group - PMG)" và "phương pháp phân tích phi nhân quả được đề xuất bởi Juodis & cộng sự (2021) cho dữ liệu bảng".

    • So với các nghiên cứu tại Việt Nam: "Đa số các nghiên cứu tại Việt Nam khi nghiên cứu dưới góc độ các tỉnh/thành thì sử dụng chuỗi dữ liệu bảng với các phương pháp truyền thống như POLS, FEM, REM, GMM. Tuy nhiên, hạn chế của các phương pháp này là không phân tách được tác động ngắn hạn và dài hạn của chuỗi số liệu." Phương pháp PMG của luận án đã khắc phục được hạn chế này, cung cấp "góc nhìn toàn diện hơn về tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân" trong cả ngắn hạn và dài hạn.
    • So với các nghiên cứu về ĐTC cho CSHT: Đối với ĐTC cho CSHT, mà "số liệu của đầu tư công cho CSHT không đủ quan sát để thực hiện với mô hình PMG", luận án đã sử dụng phương pháp của Juodis & cộng sự (2021). Phương pháp này ưu việt hơn so với các phương pháp truyền thống (như VAR/VECM được sử dụng bởi Pereira, 2000 hoặc Castillo & cộng sự, 2005) trong việc xử lý dữ liệu bảng có cỡ mẫu nhỏ và các hệ số hồi quy có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất, cho phép phân tích tác động theo từng vùng một cách linh hoạt hơn.
  3. Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất của luận án là gì, kèm theo bằng chứng dữ liệu? Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất (hoặc ít nhất là quan trọng và có tính phản trực giác đối với một số giả định chung) là việc "tại mỗi vùng KTTĐ, đầu tư công sẽ có tác động tới đầu tư tư nhân và các thành phần của đầu tư tư nhân là có sự khác biệt". Mặc dù các KTTĐ đều được định hướng là "đầu tàu kéo theo sự phát triển của các vùng khác", nhưng cơ chế và cường độ tác động của ĐTC lại không đồng nhất. Điều này cho thấy việc áp dụng chính sách ĐTC đồng bộ cho tất cả các KTTĐ có thể không hiệu quả. Bằng chứng hỗ trợ cho điều này được thể hiện thông qua "Phân tích kết quả" trong Chương 5, nơi kết quả ước lượng từ mô hình PMG và phân tích phi nhân quả chỉ ra các hệ số và mức độ ý nghĩa thống kê khác nhau đáng kể cho từng vùng và từng thành phần ĐTTN (PIE, PIH) trong ngắn hạn và dài hạn (ví dụ, Bảng 5.5, 5.7, 5.9 về tác động dài hạn và Bảng 5.10, 5.11 về tác động ngắn hạn).

  4. Luận án có cung cấp giao thức tái tạo (replication protocol) không? Luận án cung cấp các chi tiết về "phạm vi nghiên cứu" (24 tỉnh/thành phố, 2010-2021), "phương pháp nghiên cứu định lượng" (PMG, phương pháp phân tích phi nhân quả Juodis & cộng sự, 2021), và "dữ liệu nghiên cứu" (Niên giám thống kê, Báo cáo quyết toán chi NSNN, World Bank). Việc này tạo cơ sở vững chắc cho khả năng tái tạo các kết quả. Tuy nhiên, để có một giao thức tái tạo hoàn chỉnh, cần có thêm thông tin chi tiết về các bước xử lý dữ liệu, mã lệnh (code) thực hiện mô hình, và các thông số cụ thể của mô hình đã sử dụng (ví dụ: số độ trễ tối ưu cho ARDL trong PMG). Mặc dù không trực tiếp cung cấp mã lệnh, mức độ minh bạch về phương pháp và nguồn dữ liệu là khá cao.

  5. Luận án có phác thảo chương trình nghiên cứu 10 năm không? Luận án không phác thảo một "chương trình nghiên cứu 10 năm" một cách rõ ràng dưới dạng một phần riêng biệt. Tuy nhiên, phần "Limitations và Future Research" đã đưa ra "4-5 concrete directions" cho nghiên cứu tương lai. Các hướng này bao gồm mở rộng phạm vi dữ liệu ĐTC cho CSHT, nghiên cứu định lượng các yếu tố điều tiết khác, phân tích sâu hơn về ĐTTN hộ gia đình, so sánh liên vùng và xuyên quốc gia, và tích hợp tác động của FDI. Những gợi ý này cung cấp một lộ trình nghiên cứu tiềm năng cho một thập kỷ tiếp theo trong lĩnh vực này.

Kết luận

Luận án này đại diện cho một bước tiến quan trọng trong việc hiểu mối quan hệ phức tạp giữa đầu tư công (ĐTC) và đầu tư tư nhân (ĐTTN) trong bối cảnh các vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) của Việt Nam.

  1. Đóng góp cụ thể: Luận án đã xác định và lấp đầy một khoảng trống nghiên cứu quan trọng về tác động của ĐTC tới ĐTTN ở cấp độ vùng tại Việt Nam. Nó cung cấp bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ về sự khác biệt trong tác động của ĐTC (lấn át hay bổ trợ) theo thời gian (ngắn hạn và dài hạn), theo thành phần của ĐTTN (doanh nghiệp và hộ gia đình), và giữa các vùng KTTĐ khác nhau.
  2. Tiên phong về phương pháp luận: Việc sử dụng kết hợp mô hình Pool Mean Group (PMG) và phương pháp phân tích phi nhân quả của Juodis & cộng sự (2021) cho dữ liệu bảng là một đổi mới phương pháp luận đáng kể, cho phép phân tích tác động ngắn hạn/dài hạn và xử lý dữ liệu hạn chế một cách nghiêm ngặt.
  3. Khẳng định vai trò của ĐTC cho CSHT: Luận án nhấn mạnh vai trò "quan trọng của đầu tư CSHT đối với đầu tư tư nhân tại các vùng KTTĐ", đặc biệt khi "hơn 95% vốn đầu tư công dành cho xây dựng và hoàn thiện CSHT" ở những khu vực này. Đây là một cơ sở quan trọng cho các quyết định chính sách trong tương lai.
  4. Đề xuất chính sách chi tiết và phù hợp: Từ các phát hiện định lượng, luận án đã đề xuất "giải pháp chung cho các vùng kinh tế trọng điểm" và "giải pháp cụ thể đối với từng vùng kinh tế trọng điểm", phù hợp với đặc thù phát triển kinh tế và định hướng chính sách đầu tư công đến năm 2030, có tính ứng dụng cao.
  5. Mở ra các luồng nghiên cứu mới: Luận án đã mở ra ít nhất ba luồng nghiên cứu mới tiềm năng: (i) Phân tích sâu hơn về ĐTTN hộ gia đình và các tác động vi mô của ĐTC đến nhóm này. (ii) Kiểm định định lượng các yếu tố điều tiết khác lên mối quan hệ ĐTC-ĐTTN, bao gồm chất lượng thể chế và ổn định kinh tế vĩ mô. (iii) Thực hiện các nghiên cứu so sánh liên vùng và xuyên quốc gia để tổng quát hóa các phát hiện.
  6. Liên quan toàn cầu: Các bài học từ nghiên cứu về Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển năng động, có ý nghĩa toàn cầu đối với các quốc gia khác đang tìm cách tối ưu hóa ĐTC để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Điều này thể hiện sự đối thoại liên tục với các nghiên cứu quốc tế về hiệu ứng lấn át và bổ trợ (như của Mahmoudzadeh & cộng sự, 2013 hay Pereira, 2000).

Luận án đã đóng góp vào việc thúc đẩy hiểu biết về mô hình ĐTC hiệu quả, không chỉ củng cố các lý thuyết hiện có mà còn mở rộng chúng thông qua bằng chứng thực nghiệm chi tiết và phù hợp với ngữ cảnh. Các kết quả có thể đo lường được trong tương lai sẽ là hiệu quả của các chính sách ĐTC được đề xuất, tác động đến tăng trưởng GRDP, thu hút ĐTTN và cải thiện môi trường kinh doanh tại các KTTĐ của Việt Nam.